Quy định về vốn điều lệ công ty và thông lệ quốc tế
Vốn điều lệ theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam: Luật Doanh nghiệp 2005 quy định vốn điều lệ là “là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty”1. Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ (Nghị định 43) hướng dẫn việc đăng ký doanh nghiệp thì quy định rằng “vốn điều lệ công ty cổ phần không bao gồm giá trị của số cổ phần được quyền chào bán”2.
Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày
01/10/2010 của Chính phủ (Nghị định 102) hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Doanh nghiệp cho rằng, vốn điều lệ của công ty cổ phần là “tổng
giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành”. Số cổ phần được coi là đã
phát hành là số cổ phần “mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty”3.
Còn vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn (cả một thành viên và
hai thành viên trở lên- TNHH) là “tổng giá trị các phần vốn góp do (các)
thành viên đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn cụ thể và đã được
ghi vào điều lệ công ty”4.
Thể hiện qua bảng, vốn điều lệ theo pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam được diễn giải theo quá trình sau:

Như
vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa hai văn bản luật liên quan đến vốn điều
lệ công ty cổ phần là theo Luật Doanh nghiệp thì vốn điều lệ bao gồm cả
phần vốn cam kết góp, còn Nghị định 43 và Nghị định 102 thì chỉ phần
vốn đã thanh toán mới được coi là vốn điều lệ. Phần (vốn) cổ phần đăng
ký bán cho cổ đông mà chưa được cổ đông thanh toán thì không được coi là
vốn điều lệ. Hai Nghị định này không nói rõ phần (vốn) cổ phần đăng ký
bán cho cổ đông mà chưa được cổ đông thanh toán là vốn gì.
Hệ quả của sự khác biệt
Sự khác biệt về khái niệm vốn điều lệ trong công ty cổ phần mang lại một số hệ quả sau:
Một
là, thủ tục để công ty cổ phần tăng vốn điều lệ sẽ như thế nào? Nghị
định 43 có một điều (Điều 40) về đăng ký thay đổi vốn điều lệ áp dụng
cho cả công ty TNHH và cổ phần, trong đó quy định nội dung đăng ký thay
đổi vốn điều lệ bao gồm “vốn điều lệ đã đăng ký và vốn điều lệ dự định
thay đổi”. Khi tăng vốn điều lệ của công ty (kể cả cổ phần) - sau khi
đăng ký tăng vốn điều lệ với cơ quan đăng ký kinh doanh - công ty sẽ
thực hiện việc bán cổ phần cho thành viên/cổ đông trong một thời hạn dự
định. Đây là quy trình đơn giản, hợp lý và dễ hiểu.
Tuy
nhiên, như trên đã nói, theo quy định của Nghị định 43 và Nghị định
102, vốn điều lệ của công ty cổ phần là phần vốn đã được thực góp bởi
các cổ đông. Góp đến đâu thì vốn điều lệ là ở mức đó, không bao gồm phần
bán/chào bán trong tương lai cũng như cam kết góp (nếu có) của cổ đông
hiện hữu. Tuy nhiên, luật không quy định thủ tục đăng ký phần vốn điều
lệ (đã góp) sẽ như thế nào? Về mặt lý thuyết, Điều 40 Nghị định 43 không
thể áp dụng được, vì như trên đã nói, nó quy định về trường hợp góp vốn
trong tương lai5.
Lưu
ý, trong trường hợp liên quan, khi một công ty cổ phần chào bán riêng
lẻ cho cổ đông mới, nó sẽ thực hiện việc chào bán theo Nghị định
01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 của Chính phủ (Nghị định 01) về chào bán
cổ phần riêng lẻ. Kết thúc đợt chào bán, công ty đăng ký lại vốn điều lệ6.
Nói cách khác, trong trường hợp chào bán cổ phần riêng lẻ, sau khi cổ
đông đã thanh toán cho số cổ phần đã mua, công ty sẽ thực hiện việc đăng
ký lại vốn điều lệ. Quy định thế này dường như phù hợp với cách hiểu về
vốn điều lệ của Nghị định 43 và Nghị định 1027.
Hai
là, giả sử các cổ đông sáng lập của một công ty cổ phần đăng ký và
thanh toán đủ trong thời hạn luật định 90 ngày là 01 tỷ VNĐ vốn điều lệ,
giá trị phần (vốn) cổ phần được chào bán còn lại là 01 tỷ VNĐ nữa.
Trong trường hợp một cổ đông sáng lập hay cổ đông mới đăng ký mua phần
(vốn) cổ phần trị giá 100 triệu VNĐ trong số 01 tỷ đồng (vốn) cổ phần
được quyền chào bán, theo quy định của Nghị định 43 và Nghị định 102,
công ty lại phải đăng ký lại vốn điều lệ hay sao? Như trên đã nói, thủ
tục này (trừ việc chào bán riêng lẻ) chưa được quy định. Nhưng giả sử cơ
quan đăng ký kinh doanh vận dụng linh hoạt Điều 40 Nghị định 43, đăng
ký bổ sung vốn điều lệ và ngày chấp thuận việc đăng ký tăng vốn điều lệ
là ngày 01/08/2011. Vào ngày 02/08/2011 lại có người có nhu cầu mua phần
(vốn) cổ phần giá trị 100 triệu nữa, công ty lại tiếp tục làm thủ tục
đăng ký thay đổi vốn điều lệ (theo Điều 40) hay sao? Mỗi lần có một cổ
đông đăng ký mua số cổ phần trị giá 100 triệu VNĐ thì tổng cộng công ty
sẽ phải đăng ký tăng vốn điều lệ, nên sẽ mất đến 10 lần đăng ký tăng vốn
điều lệ để bán đủ 01 tỷ VNĐ giá trị số cổ phần được quyền chào bán?
Trên
đây mới chỉ ra hai trường hợp về cách hiểu, diễn giải và áp dụng phức
tạp liên quan đến vấn đề vốn điều lệ. Thật ra, nếu nói thêm thì còn
nhiều quy định mơ hồ và khó hiểu khác nữa của pháp luật doanh nghiệp
Việt Nam, chỉ tính riêng cho vấn đề vốn doanh nghiệp.
Vậy thì hiểu về vốn và vốn điều lệ doanh nghiệp như thế nào cho đúng?
Vốn và vốn điều lệ trong xu thế thế giới
Luật
công ty hiện đại ngày càng đơn giản hóa các quy định về vốn công ty.
Ngoại trừ một số doanh nghiệp liên quan đến hệ thống tài chính như ngân
hàng, bảo hiểm, chứng khoán mà cơ quan quản lý yêu cầu phải đáp ứng mức
vốn pháp định tối thiểu để bảo đảm rằng các công ty này, với quyền gọi
vốn từ bên ngoài, không “tiêu tiền của người khác”, còn đối với các công
ty kinh doanh bình thường và không phải công ty niêm yết, những yêu cầu
khắt khe về vốn pháp định/vốn điều lệ đã dần được dỡ bỏ8. Lý do dỡ bỏ vì:
(a) Yêu
cầu về vốn (pháp định) là không khả thi về mặt giám sát. Mọi cá nhân có
ý định lừa đảo đều có thể dễ dàng qua mặt các quy định pháp luật mà cơ
quan quản lý không thể bảo vệ chủ nợ của công ty;9
(b) Xét
cho cùng, việc thành lập công ty là một hợp đồng (giữa các cổ đông),
công ty giao dịch với bên thứ ba cũng qua hợp đồng. Trong những giao
dịch mang tính tư nhân thuần túy này, các bên phải tự chịu trách nhiệm
cho rủi ro kinh doanh của mình. Nhà nước không thể (và không nên) can
thiệp và bảo vệ một bên hợp đồng.
Vì
lẽ này mà xu hướng là pháp luật công ty bỏ đi các yêu cầu về vốn: bao
gồm vốn pháp định và cả vốn điều lệ. Chúng ta sẽ không thấy lạ lẫm nữa
khi biết nhiều công ty trên thế giới có vốn điều lệ là bằng 0 (ví dụ cho
những công ty được thành lập cho một mục đích nhất định (special
purpose vehicle/SPV) nơi việc quản lý và điều hành nằm tại một công ty
khác). Trên thực tế, bên giao dịch (chủ nợ) với một công ty sẽ và phải
có cơ chế bảo vệ quyền lợi riêng của mình. Ví dụ, thông qua yêu cầu về
tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh ngân hàng (hoặc bên thứ ba) cho công ty
chứ không ai nhìn (và tin) vào số vốn điều lệ của công ty đó cả.
Nhưng
vốn công ty cũng có ý nghĩa nhất định của nó. Một công ty kinh doanh
đơn thuần phải có vốn để hoạt động. Cổ đông sáng lập ra công ty
(promoters/founding shareholders) sẽ quyết định khoản vốn để công ty
hoạt động, kinh doanh. Vốn này được gọi là vốn điều lệ (share
capital/stated capital). Phần vốn điều lệ này sẽ được chia thành các
phần bằng nhau gọi là cổ phần (share/stock). Số cổ phần được quyền
(chào) bán của công ty được gọi là authorized shares bằng chính vốn điều
lệ của công ty. Cổ phần bao gồm cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi
(common shares và preferred shares). Mỗi loại cổ phần có những đặc quyền
và hạn chế riêng áp dụng cho loại cổ phần đó. Đặc quyền và hạn chế của
các loại cổ phần phải được ghi trong điều lệ công ty trước khi cổ phần
được phát hành. Công ty phải có tối thiểu (các) cổ phần phổ thông trong
đó quy định về hai quyền cơ bản của cổ đông là biểu quyết và chia tài
sản khi chấm dứt hoạt động. Công ty có thể có hoặc không có cổ phần ưu
đãi.
Người
thực hiện việc bán cổ phần nhân danh công ty là hội đồng quản trị
(board of directors). Hội đồng quản trị chỉ được (chào) bán số cổ phần
tối đa trong phạm vi vốn điều lệ của công ty. Cổ đông sáng lập có quyền
đăng ký mua (subscribe) cổ phần đủ 100% số cổ phần được quyền chào bán
của công ty hoặc một tỷ lệ ít hơn. Phần còn lại có thể chào bán cho các
nhà đầu tư khác. Việc thanh toán cổ phần đã đăng ký mua được thỏa thuận
trong hợp đồng đăng ký mua (subscription agreement) giữa công ty và cổ
đông. Cổ đông có thể thanh toán một lần hay thanh toán nhiều lần (thanh
toán chậm) cho số cổ phần mình đăng ký. Cổ phần chưa được thanh toán
được gọi là unpaid shares, được thanh toán một phần là partly paid
shares và thanh toán đầy đủ là fully paid-up shares.
Thỏa
thuận về việc thanh toán cổ phần đăng ký mua là một hợp đồng (dân sự)
giữa công ty và cổ đông. Phần chưa được thanh toán hoặc thanh toán đầy
đủ là khoản nợ của cổ đông đối với công ty. Công ty có quyền yêu cầu
thanh toán/nộp đủ theo thỏa thuận và trong trường hợp công ty giải thể
hay phá sản. Theo đa số các hệ thống, số cổ phần đăng ký mua nhưng chưa
được thanh toán hoặc thanh toán đầy đủ không hạn chế quyền biểu quyết
của cổ đông nhưng những cổ đông này không được thanh toán cổ tức cho
phần cổ phần chưa được thanh toán10. Một số hệ thống cho phép
cổ đông sở hữu cổ phần chưa thanh toán đủ hưởng đủ các quyền như cổ
đông đã thanh toán đủ số tiền mua cổ phần11.
Cổ
phần được thanh toán bằng tài sản hữu hình hoặc vô hình, miễn là có lợi
cho công ty. Việc xác định giá trị tài sản do Hội đồng quản trị quyết
định. Tài sản thanh toán có thể là tiền mặt, hiện vật, giá trị quyền sở
hữu trí tuệ, hối phiếu nhận nợ hay công việc được cổ đông cung cấp v.v..
Tuy nhiên, đối với các loại tài sản ở thì tương lai như hối phiếu nhận
nợ của bên thứ ba hay công việc/dịch vụ do cổ đông cung cấp thì công ty
có thể thỏa thuận với cổ đông về việc “treo” cổ phần và hạn chế chuyển
nhượng cổ phần loại này cho đến khi khoản tiền nợ tại hối phiếu nhận nợ
đã được thanh toán hay công việc đã được thực hiện. Nếu khoản nợ không
được thanh toán đủ hay công việc không được cổ đông thực hiện v.v.. số
cổ phần trên sẽ bị hủy bỏ một phần hay toàn bộ (theo thỏa thuận giữa các
bên).
Một số điểm Việt Nam có thể tham khảo
Dưới
đây là một số điểm mà các nhà làm luật Việt Nam có thể tham khảo để xây
dựng hay chỉnh sửa các quy định của mình liên quan đến vốn điều lệ của
công ty để phù hợp với thông lệ thế giới và tránh việc quy định mâu
thuẫn hay nhập nhằng.
Thứ nhất,
cơ cấu vốn tại công ty TNHH và công ty cổ phần (chưa niêm yết) của các
hệ thống pháp luật nước ngoài tiên tiến về cơ bản là giống nhau. Nói cụ
thể là không có sự phân biệt giữa vốn điều lệ của công ty TNHH và công
ty cổ phần như trường hợp của Việt Nam. Họ sẽ không có tên gọi khác biệt
về phần vốn góp (cho công ty TNHH) và cổ phần (cho công ty cổ phần), về
khái niệm khác biệt về vốn điều lệ cho mỗi loại hình công ty, về nghĩa
vụ đăng ký và thanh toán trong thời hạn 90 ngày số cổ phần tối thiểu 20%
trên tổng số cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần, về hậu
quả khác biệt của việc thanh toán chưa đủ phần vốn góp hay cổ phần đăng
ký mua tại công ty TNHH và công ty cổ phần như trường hợp của Việt Nam.
Khi xây dựng những định nghĩa hay yêu cầu khác biệt giữa công ty TNHH và
công ty cổ phần, nhà làm luật Việt Nam cần trả lời câu hỏi vì sao cần
sự khác biệt và nó nhằm mục đích gì? Việc này đặc biệt có ý nghĩa nếu
nhà làm luật biết rằng, có những hệ thống pháp luật công ty nổi tiếng
như Anh quốc người ta thậm chí không phân biệt giữa công ty TNHH và cổ
phần, chính xác hơn là không tồn tại loại hình công ty TNHH (theo nghĩa
của Việt Nam)12.
Thứ hai,
phần vốn điều lệ là phần vốn do các cổ đông sáng lập thỏa thuận và ghi
vào điều lệ. Việc tăng, giảm vốn điều lệ sau đó do đại hội cổ đông quyết
định. Vốn điều lệ là phần vốn công ty, thông qua Hội đồng quản trị của
nó, được quyền phát hành cho cổ đông. Việc thanh toán phần vốn cổ phần
do công ty và cổ đông thỏa thuận. Vốn điều lệ (share capital), vốn là
phần vốn sẽ chào bán cho cổ đông, không thể bị nhầm lẫn với số cổ phần
đã được cổ đông thanh toán (paid-up shares) như các quy định của Nghị
định 43 và Nghị định 102.
Thứ ba,
các giao dịch công ty, đặc biệt đối với các công ty chưa niêm yết,
thường thuần túy mang tính giao dịch cá nhân. Ví dụ như thỏa thuận về
định giá tài sản góp vốn, điều kiện và thời hạn thanh toán v.v.. Pháp
luật công ty hạn chế việc can thiệp vào các thỏa thuận này. Thay vào đó,
nó cho phép các bên thỏa thuận trong phạm vi linh hoạt, sao cho thỏa
mãn được nhu cầu riêng của các bên. Thông thường các bên chỉ bị yêu cầu
phải nộp báo cáo, đăng ký mang tính thông báo với cơ quan đăng ký kinh
doanh. Yêu cầu này là bắt buộc, để chủ nợ hoặc bên thứ ba khác biết về
cơ cấu tổ chức và vốn công ty khi tìm hiểu thông tin về công ty tại cơ
quan đăng ký. Về cơ bản, pháp luật công ty tôn trọng quyền tự quyết của
các bên. Tuy nhiên, hành vi lừa đảo sẽ bị nghiêm trị.
Vốn điều lệ theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
Luật
Doanh nghiệp 2005 quy định vốn điều lệ là “là số vốn do các thành viên,
cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi
vào điều lệ công ty”1. Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010
của Chính phủ (Nghị định 43) hướng dẫn việc đăng ký doanh nghiệp thì
quy định rằng “vốn điều lệ công ty cổ phần không bao gồm giá trị của số
cổ phần được quyền chào bán”2. Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày
01/10/2010 của Chính phủ (Nghị định 102) hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Doanh nghiệp cho rằng, vốn điều lệ của công ty cổ phần là “tổng
giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành”. Số cổ phần được coi là đã
phát hành là số cổ phần “mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty”3.
Còn vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn (cả một thành viên và
hai thành viên trở lên- TNHH) là “tổng giá trị các phần vốn góp do (các)
thành viên đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn cụ thể và đã được
ghi vào điều lệ công ty”4.
Thể hiện qua bảng, vốn điều lệ theo pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam được diễn giải theo quá trình sau:
Như
vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa hai văn bản luật liên quan đến vốn điều
lệ công ty cổ phần là theo Luật Doanh nghiệp thì vốn điều lệ bao gồm cả
phần vốn cam kết góp, còn Nghị định 43 và Nghị định 102 thì chỉ phần
vốn đã thanh toán mới được coi là vốn điều lệ. Phần (vốn) cổ phần đăng
ký bán cho cổ đông mà chưa được cổ đông thanh toán thì không được coi là
vốn điều lệ. Hai Nghị định này không nói rõ phần (vốn) cổ phần đăng ký
bán cho cổ đông mà chưa được cổ đông thanh toán là vốn gì.
Hệ quả của sự khác biệt
Sự khác biệt về khái niệm vốn điều lệ trong công ty cổ phần mang lại một số hệ quả sau:
Một
là, thủ tục để công ty cổ phần tăng vốn điều lệ sẽ như thế nào? Nghị
định 43 có một điều (Điều 40) về đăng ký thay đổi vốn điều lệ áp dụng
cho cả công ty TNHH và cổ phần, trong đó quy định nội dung đăng ký thay
đổi vốn điều lệ bao gồm “vốn điều lệ đã đăng ký và vốn điều lệ dự định
thay đổi”. Khi tăng vốn điều lệ của công ty (kể cả cổ phần) - sau khi
đăng ký tăng vốn điều lệ với cơ quan đăng ký kinh doanh - công ty sẽ
thực hiện việc bán cổ phần cho thành viên/cổ đông trong một thời hạn dự
định. Đây là quy trình đơn giản, hợp lý và dễ hiểu.
Tuy
nhiên, như trên đã nói, theo quy định của Nghị định 43 và Nghị định
102, vốn điều lệ của công ty cổ phần là phần vốn đã được thực góp bởi
các cổ đông. Góp đến đâu thì vốn điều lệ là ở mức đó, không bao gồm phần
bán/chào bán trong tương lai cũng như cam kết góp (nếu có) của cổ đông
hiện hữu. Tuy nhiên, luật không quy định thủ tục đăng ký phần vốn điều
lệ (đã góp) sẽ như thế nào? Về mặt lý thuyết, Điều 40 Nghị định 43 không
thể áp dụng được, vì như trên đã nói, nó quy định về trường hợp góp vốn
trong tương lai5.
Lưu
ý, trong trường hợp liên quan, khi một công ty cổ phần chào bán riêng
lẻ cho cổ đông mới, nó sẽ thực hiện việc chào bán theo Nghị định
01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 của Chính phủ (Nghị định 01) về chào bán
cổ phần riêng lẻ. Kết thúc đợt chào bán, công ty đăng ký lại vốn điều lệ6.
Nói cách khác, trong trường hợp chào bán cổ phần riêng lẻ, sau khi cổ
đông đã thanh toán cho số cổ phần đã mua, công ty sẽ thực hiện việc đăng
ký lại vốn điều lệ. Quy định thế này dường như phù hợp với cách hiểu về
vốn điều lệ của Nghị định 43 và Nghị định 1027.
Hai
là, giả sử các cổ đông sáng lập của một công ty cổ phần đăng ký và
thanh toán đủ trong thời hạn luật định 90 ngày là 01 tỷ VNĐ vốn điều lệ,
giá trị phần (vốn) cổ phần được chào bán còn lại là 01 tỷ VNĐ nữa.
Trong trường hợp một cổ đông sáng lập hay cổ đông mới đăng ký mua phần
(vốn) cổ phần trị giá 100 triệu VNĐ trong số 01 tỷ đồng (vốn) cổ phần
được quyền chào bán, theo quy định của Nghị định 43 và Nghị định 102,
công ty lại phải đăng ký lại vốn điều lệ hay sao? Như trên đã nói, thủ
tục này (trừ việc chào bán riêng lẻ) chưa được quy định. Nhưng giả sử cơ
quan đăng ký kinh doanh vận dụng linh hoạt Điều 40 Nghị định 43, đăng
ký bổ sung vốn điều lệ và ngày chấp thuận việc đăng ký tăng vốn điều lệ
là ngày 01/08/2011. Vào ngày 02/08/2011 lại có người có nhu cầu mua phần
(vốn) cổ phần giá trị 100 triệu nữa, công ty lại tiếp tục làm thủ tục
đăng ký thay đổi vốn điều lệ (theo Điều 40) hay sao? Mỗi lần có một cổ
đông đăng ký mua số cổ phần trị giá 100 triệu VNĐ thì tổng cộng công ty
sẽ phải đăng ký tăng vốn điều lệ, nên sẽ mất đến 10 lần đăng ký tăng vốn
điều lệ để bán đủ 01 tỷ VNĐ giá trị số cổ phần được quyền chào bán?
Trên
đây mới chỉ ra hai trường hợp về cách hiểu, diễn giải và áp dụng phức
tạp liên quan đến vấn đề vốn điều lệ. Thật ra, nếu nói thêm thì còn
nhiều quy định mơ hồ và khó hiểu khác nữa của pháp luật doanh nghiệp
Việt Nam, chỉ tính riêng cho vấn đề vốn doanh nghiệp.
Vậy thì hiểu về vốn và vốn điều lệ doanh nghiệp như thế nào cho đúng?
Vốn và vốn điều lệ trong xu thế thế giới
Luật
công ty hiện đại ngày càng đơn giản hóa các quy định về vốn công ty.
Ngoại trừ một số doanh nghiệp liên quan đến hệ thống tài chính như ngân
hàng, bảo hiểm, chứng khoán mà cơ quan quản lý yêu cầu phải đáp ứng mức
vốn pháp định tối thiểu để bảo đảm rằng các công ty này, với quyền gọi
vốn từ bên ngoài, không “tiêu tiền của người khác”, còn đối với các công
ty kinh doanh bình thường và không phải công ty niêm yết, những yêu cầu
khắt khe về vốn pháp định/vốn điều lệ đã dần được dỡ bỏ8. Lý do dỡ bỏ vì:
(a) Yêu
cầu về vốn (pháp định) là không khả thi về mặt giám sát. Mọi cá nhân có
ý định lừa đảo đều có thể dễ dàng qua mặt các quy định pháp luật mà cơ
quan quản lý không thể bảo vệ chủ nợ của công ty;9
(b) Xét
cho cùng, việc thành lập công ty là một hợp đồng (giữa các cổ đông),
công ty giao dịch với bên thứ ba cũng qua hợp đồng. Trong những giao
dịch mang tính tư nhân thuần túy này, các bên phải tự chịu trách nhiệm
cho rủi ro kinh doanh của mình. Nhà nước không thể (và không nên) can
thiệp và bảo vệ một bên hợp đồng.
Vì
lẽ này mà xu hướng là pháp luật công ty bỏ đi các yêu cầu về vốn: bao
gồm vốn pháp định và cả vốn điều lệ. Chúng ta sẽ không thấy lạ lẫm nữa
khi biết nhiều công ty trên thế giới có vốn điều lệ là bằng 0 (ví dụ cho
những công ty được thành lập cho một mục đích nhất định (special
purpose vehicle/SPV) nơi việc quản lý và điều hành nằm tại một công ty
khác). Trên thực tế, bên giao dịch (chủ nợ) với một công ty sẽ và phải
có cơ chế bảo vệ quyền lợi riêng của mình. Ví dụ, thông qua yêu cầu về
tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh ngân hàng (hoặc bên thứ ba) cho công ty
chứ không ai nhìn (và tin) vào số vốn điều lệ của công ty đó cả.
Nhưng
vốn công ty cũng có ý nghĩa nhất đ��nh của nó. Một công ty kinh doanh
đơn thuần phải có vốn để hoạt động. Cổ đông sáng lập ra công ty
(promoters/founding shareholders) sẽ quyết định khoản vốn để công ty
hoạt động, kinh doanh. Vốn này được gọi là vốn điều lệ (share
capital/stated capital). Phần vốn điều lệ này sẽ được chia thành các
phần bằng nhau gọi là cổ phần (share/stock). Số cổ phần được quyền
(chào) bán của công ty được gọi là authorized shares bằng chính vốn điều
lệ của công ty. Cổ phần bao gồm cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi
(common shares và preferred shares). Mỗi loại cổ phần có những đặc quyền
và hạn chế riêng áp dụng cho loại cổ phần đó. Đặc quyền và hạn chế của
các loại cổ phần phải được ghi trong điều lệ công ty trước khi cổ phần
được phát hành. Công ty phải có tối thiểu (các) cổ phần phổ thông trong
đó quy định về hai quyền cơ bản của cổ đông là biểu quyết và chia tài
sản khi chấm dứt hoạt động. Công ty có thể có hoặc không có cổ phần ưu
đãi.
Người
thực hiện việc bán cổ phần nhân danh công ty là hội đồng quản trị
(board of directors). Hội đồng quản trị chỉ được (chào) bán số cổ phần
tối đa trong phạm vi vốn điều lệ của công ty. Cổ đông sáng lập có quyền
đăng ký mua (subscribe) cổ phần đủ 100% số cổ phần được quyền chào bán
của công ty hoặc một tỷ lệ ít hơn. Phần còn lại có thể chào bán cho các
nhà đầu tư khác. Việc thanh toán cổ phần đã đăng ký mua được thỏa thuận
trong hợp đồng đăng ký mua (subscription agreement) giữa công ty và cổ
đông. Cổ đông có thể thanh toán một lần hay thanh toán nhiều lần (thanh
toán chậm) cho số cổ phần mình đăng ký. Cổ phần chưa được thanh toán
được gọi là unpaid shares, được thanh toán một phần là partly paid
shares và thanh toán đầy đủ là fully paid-up shares.
Thỏa
thuận về việc thanh toán cổ phần đăng ký mua là một hợp đồng (dân sự)
giữa công ty và cổ đông. Phần chưa được thanh toán hoặc thanh toán đầy
đủ là khoản nợ của cổ đông đối với công ty. Công ty có quyền yêu cầu
thanh toán/nộp đủ theo thỏa thuận và trong trường hợp công ty giải thể
hay phá sản. Theo đa số các hệ thống, số cổ phần đăng ký mua nhưng chưa
được thanh toán hoặc thanh toán đầy đủ không hạn chế quyền biểu quyết
của cổ đông nhưng những cổ đông này không được thanh toán cổ tức cho
phần cổ phần chưa được thanh toán10. Một số hệ thống cho phép
cổ đông sở hữu cổ phần chưa thanh toán đủ hưởng đủ các quyền như cổ
đông đã thanh toán đủ số tiền mua cổ phần11.
Cổ
phần được thanh toán bằng tài sản hữu hình hoặc vô hình, miễn là có lợi
cho công ty. Việc xác định giá trị tài sản do Hội đồng quản trị quyết
định. Tài sản thanh toán có thể là tiền mặt, hiện vật, giá trị quyền sở
hữu trí tuệ, hối phiếu nhận nợ hay công việc được cổ đông cung cấp v.v..
Tuy nhiên, đối với các loại tài sản ở thì tương lai như hối phiếu nhận
nợ của bên thứ ba hay công việc/dịch vụ do cổ đông cung cấp thì công ty
có thể thỏa thuận với cổ đông về việc “treo” cổ phần và hạn chế chuyển
nhượng cổ phần loại này cho đến khi khoản tiền nợ tại hối phiếu nhận nợ
đã được thanh toán hay công việc đã được thực hiện. Nếu khoản nợ không
được thanh toán đủ hay công việc không được cổ đông thực hiện v.v.. số
cổ phần trên sẽ bị hủy bỏ một phần hay toàn bộ (theo thỏa thuận giữa các
bên).
Một số điểm Việt Nam có thể tham khảo
Dưới
đây là một số điểm mà các nhà làm luật Việt Nam có thể tham khảo để xây
dựng hay chỉnh sửa các quy định của mình liên quan đến vốn điều lệ của
công ty để phù hợp với thông lệ thế giới và tránh việc quy định mâu
thuẫn hay nhập nhằng.
Thứ nhất,
cơ cấu vốn tại công ty TNHH và công ty cổ phần (chưa niêm yết) của các
hệ thống pháp luật nước ngoài tiên tiến về cơ bản là giống nhau. Nói cụ
thể là không có sự phân biệt giữa vốn điều lệ của công ty TNHH và công
ty cổ phần như trường hợp của Việt Nam. Họ sẽ không có tên gọi khác biệt
về phần vốn góp (cho công ty TNHH) và cổ phần (cho công ty cổ phần), về
khái niệm khác biệt về vốn điều lệ cho mỗi loại hình công ty, về nghĩa
vụ đăng ký và thanh toán trong thời hạn 90 ngày số cổ phần tối thiểu 20%
trên tổng số cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần, về hậu
quả khác biệt của việc thanh toán chưa đủ phần vốn góp hay cổ phần đăng
ký mua tại công ty TNHH và công ty cổ phần như trường hợp của Việt Nam.
Khi xây dựng những định nghĩa hay yêu cầu khác biệt giữa công ty TNHH và
công ty cổ phần, nhà làm luật Việt Nam cần trả lời câu hỏi vì sao cần
sự khác biệt và nó nhằm mục đích gì? Việc này đặc biệt có ý nghĩa nếu
nhà làm luật biết rằng, có những hệ thống pháp luật công ty nổi tiếng
như Anh quốc người ta thậm chí không phân biệt giữa công ty TNHH và cổ
phần, chính xác hơn là không tồn tại loại hình công ty TNHH (theo nghĩa
của Việt Nam)12.
Thứ hai,
phần vốn điều lệ là phần vốn do các cổ đông sáng lập thỏa thuận và ghi
vào điều lệ. Việc tăng, giảm vốn điều lệ sau đó do đại hội cổ đông quyết
định. Vốn điều lệ là phần vốn công ty, thông qua Hội đồng quản trị của
nó, được quyền phát hành cho cổ đông. Việc thanh toán phần vốn cổ phần
do công ty và cổ đông thỏa thuận. Vốn điều lệ (share capital), vốn là
phần vốn sẽ chào bán cho cổ đông, không thể bị nhầm lẫn với số cổ phần
đã được cổ đông thanh toán (paid-up shares) như các quy định của Nghị
định 43 và Nghị định 102.
Thứ ba,
các giao dịch công ty, đặc biệt đối với các công ty chưa niêm yết,
thường thuần túy mang tính giao dịch cá nhân. Ví dụ như thỏa thuận về
định giá tài sản góp vốn, điều kiện và thời hạn thanh toán v.v.. Pháp
luật công ty hạn chế việc can thiệp vào các thỏa thuận này. Thay vào đó,
nó cho phép các bên thỏa thuận trong phạm vi linh hoạt, sao cho thỏa
mãn được nhu cầu riêng của các bên. Thông thường các bên chỉ bị yêu cầu
phải nộp báo cáo, đăng ký mang tính thông báo với cơ quan đăng ký kinh
doanh. Yêu cầu này là bắt buộc, để chủ nợ hoặc bên thứ ba khác biết về
cơ cấu tổ chức và vốn công ty khi tìm hiểu thông tin về công ty tại cơ
quan đăng ký. Về cơ bản, pháp luật công ty tôn trọng quyền tự quyết của
các bên. Tuy nhiên, hành vi lừa đảo sẽ bị nghiêm trị.
(1) Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005.
(2) Khoản 4 Điều 40 Nghị định 43.
(3) Khoản 4 Điều 6 Nghị định 102.
(4) Khoản 1 và 2 Điều 6 Nghị định 102.
(5)
Lưu ý trên thực tế, cơ quan đăng ký kinh doanh áp dụng Điều 40 cho mọi
trường hợp điều chỉnh vốn điều lệ (vì thật ra chỉ có một điều khoản này
quy định về việc điều chỉnh vốn điều lệ).
(6) Khoản 3 Điều 24 Luật Doanh nghiệp.
(7)
Lưu ý rằng Nghị định 01 không được áp dụng trên thực tế và tại thời
điểm viết bài, nó đang được xem xét sửa đổi hay thay thế.
(8) Ví dụ xem thêm Đạo luật mẫu về công ty [cổ phần] kinh doanh (sửa đổi) năm 2005 của Liên đoàn luật sư Hoa Kỳ (ABA).
(9)
Điều này cũng có thể thấy tại Việt Nam theo thời gian, từ việc quy định
bắt buộc về vốn pháp định đến việc gỡ bỏ nó đối với các doanh nghiệp
không kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh có điều kiện.
(10)
Xem, ví dụ, Điều 409 Bộ luật công ty bang California; Điều 156 Bộ luật
công ty bang Delaware. Cả hai đều có sẵn trên Internet.
(11) Ví dụ như tại Australia.
(12)
Liên quan đến công ty TNHH theo cổ phần, Ở England and Wales chỉ có hai
loại công ty là private limited company limited by shares (công ty cổ
phần không đại chúng) và public limited company limited by shares (công
ty cổ phần đại chúng).
TS. Nguyễn Quốc Vinh - Học viện Tư pháp.
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Trích:http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/quy-111inh-ve-von-111ieu-le-cong-ty-va-thong-le-quoc-te
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:
+ Dịch vụ tư vấn thành lập doanh nghiệp
+ Tư vấn thành lập doanh nghiệp dược phẩm, y tế
+ Tư vấn thành lập Công ty cổ phần tại Hà Nội
+ Tư vấn thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Hà Nội
+ Tư vấn thành lập Công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu
+ Tư vấn thành lập Công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu
+ Tư vấn thành lập Công ty kinh doanh bất động sản
+ Tư vấn thành lập hộ kinh doanh cá thể
+ Dịch vụ giữ tên trước cho doanh nghiệp
+ Tư vấn thành lập tập đoàn kinh tế
+ Tư vấn thành lập công ty chứng khoán
+ Tư vấn lựa chọn loại hình doanh nghiệp
+ Dịch vụ Kế Toán thuế
+ Tư vấn mở địa điểm kinh doanh
+ Thành lập CTy TNHH 1 thành viên
+
Tư vấn mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Hà Nội
+ Tư vấn cấp lại Giấy Đăng ký Kinh doanh
+ Tư vấn thành lập hợp tác xã
+ Tư vấn thành lập Công ty Hợp danh
+ Tư vấn thành lập Doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Tìm kiếm văn bản pháp luật Website: http://www.lawdata.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------