Quyền của người biểu diễn
Quyền của người biểu diễn là loại hình quyền được hầu hết luật pháp các quốc gia, trong đó có Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận và bảo hộ. Tuy nhiên, tại Việt Nam do tính chất phức tạp của loại hình quyền này, cũng như do nhận thức của các chủ thể có liên quan còn hạn chế nên công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn gặp nhiều khó khăn.
Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn, các chủ thể liên quan mà trước hết là người biểu diễn cần nắm vững các quy định pháp luật về quyền của người biểu diễn, cũng như lý giải được tại sao pháp luật công nhận quyền của người biểu diễn và điều kiện để buổi biểu diễn được bảo hộ.
Khái niệm
người biểu diễn
Một tác phẩm có
thể đến với công chúng bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng thông qua người
biểu diễn với sự cảm thụ và thể hiện sáng tạo của mình thì tác phẩm trở nên
sinh động và có sức truyền thụ tới công chúng nhanh nhất. Chính vì vậy, dù các
hình thức giải trí ngày càng đa dạng nhưng số lượng người biểu diễn không ngừng
gia tăng và nền công nghiệp biểu diễn vẫn không ngừng phát triển. Người biểu
diễn là cầu nối giữa tác giả và công chúng, góp phần truyền bá, lưu giữ và phát
triển các tác phẩm có giá trị, do đó pháp luật đã công nhận và bảo hộ các quyền
của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của mình.
Quy mô và tính
chất cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người biểu diễn. Cuộc biểu
diễn có thể chỉ đơn giản có một người biểu diễn như nhạc công độc tấu một bản
nhạc, cũng có thể có rất nhiều người biểu diễn cùng tham gia như một bộ phim,
một vở kịch hay một buổi biểu diễn ca nhạc lớn. Để thực hiện một cuộc biểu diễn
lớn như vậy thường cần có sự hợp tác của rất nhiều người nhưng chỉ những người
trực tiếp trình diễn, thể hiện tác phẩm mới được coi là người biểu diễn và về
nguyên tắc họ là chủ sở hữu quyền đầu tiên đối với cuộc biểu diễn.
Những ai được
coi là người biểu diễn được quy định rõ tại điều 3 (a) Công ước quốc tế bảo hộ
người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng (Công ước Rome):
“Người biểu diễn là các diễn viên, ca sỹ, nhạc công, vũ công và các người khác
nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học,
nghệ thuật”. Trong Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (Hiệp ước WPPT)
năm 1996, khái niệm người biểu diễn được mở rộng, ngoài những chủ thể tương tự
được liệt kê trong Công ước Rome, người biểu diễn còn bao gồm người trình bày
các hình thức thể hiện dân gian.
Giống như mọi khái niệm pháp lý, khái niệm người biểu diễn không chỉ biến đổi
theo thời gian mà còn có những khác biệt theo phạm vi lãnh thổ. Pháp luật các
nước tùy thuộc điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và kỹ năng lập pháp đã có
những điều chỉnh trong việc đưa ra khái niệm người biểu diễn và cuộc biểu diễn,
cũng như điều kiện để được bảo hộ quyền của người biểu diễn. Trên cơ sở khái
niệm người biểu diễn của Công ước Rome, Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
liệt kê các tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan theo pháp luật Việt
Nam, trong đó quy định trực tiếp người biểu diễn gồm: “diễn viên, ca sĩ, nhạc
công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật”.
Lý do
bảo hộ quyền của người biểu diễn.
Không khó để
nhận ra người biểu diễn đã đóng góp không nhỏ sức sáng tạo trong quá trình biểu
diễn các tác phẩm, vì vậy các công ước quốc tế, cũng như luật pháp các quốc gia
đã thừa nhận và bảo hộ quyền của người biểu diễn. Tuy nhiên, mức độ bảo hộ của
các nước không đồng nhất. Một số nước đã coi cuộc biểu diễn là một sản phẩm
sáng tạo độc lập và người biểu diễn hưởng các quyền riêng biệt. Ví dụ, Luật Bản
quyền, Thiết kế và sáng chế năm 1988 của Anh quy định Quyền của người biểu
diễn: “độc lập với bất cứ quyền tác giả, quyền nhân thân đối với tác phẩm được biểu
diễn hay bất kỳ bộ phim, bản ghi âm, chương trình phát sóng hoặc chương trình
cáp nào có trong buổi biểu diễn và bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào khác...”.
Điều 7.1 Luật Bản quyền Đài Loan cũng khẳng định người biểu diễn trình diễn tác
phẩm hoặc các thể hiện dân gian được bảo hộ độc lập. Việc bảo hộ quyền của
người biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Trong khi
nhiều nước khác nhận định người biểu diễn chỉ đơn thuần trình diễn lại tác
phẩm, mức độ sáng tạo thấp hơn so với các tác phẩm thông thường, do đó cho
người biểu diễn được hưởng quyền đối với buổi biểu diễn của mình ở cấp độ thấp
hơn dưới dạng quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi tắt là quyền liên
quan). Ví dụ, tại Mục II Chương II Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam về nội dung,
giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ quyền liên quan đã liệt kê các đối tượng được
bảo hộ quyền liên quan, trong đó Quyền của người biểu diễn được quy định tại Điều
29.
Dù cuộc
biểu diễn được bảo hộ như một sản phẩm sáng tạo độc lập hay như một đối tượng
của quyền liên quan, việc bảo hộ quyền của người biểu diễn là rất cần thiết.
Bởi sự phát triển của công nghiệp ghi âm, công nghiệp điện ảnh và đặc biệt gần
đây là Internet đã giúp người biểu diễn định hình, sao chép và truyền phát cuộc
biểu diễn của mình tới đông đảo công chúng một cách nhanh chóng, nhưng cũng
chính những bản sao cuộc biểu diễn đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng
kiểm soát công chúng tiếp cận với cuộc biểu diễn. Nếu như đối với buổi biểu
diễn trực tiếp chỉ cần thông qua kiểm soát vé vào cửa là có thể khống chế được công
chúng tiếp cận buổi biểu diễn, thì nay với vô số bản sao băng từ hay bản lưu
dưới dạng điện tử, khả năng kiểm soát và khống chế các cá nhân, tổ chức tiếp
cận, sử dụng và khai thác cuộc biểu diễn của người biểu diễn bị thu nhỏ, khả
năng thụ hưởng thù lao, thu hồi chi phí và đầu tư cho cuộc biểu diễn bị đe doạ.
Vì vậy yêu cầu bảo hộ quyền của người biểu diễn càng trở nên bức thiết.
Mặt khác, việc
bảo hộ quyền liên quan, trong đó có quyền của người biểu diễn, góp phần củng cố
và hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tác giả. Khi quyền của người biểu diễn được
bảo hộ, người biểu diễn nhận được thù lao tương xứng với công sức đã bỏ ra trong
quá trình thể hiện, truyền bá tác phẩm sẽ càng nỗ lực truyền tải các sản phẩm
sáng tạo của các tác giả, nâng cao giá trị của các tác phẩm. Đồng thời khi biểu
diễn các tác phẩm, người biểu diễn trước tiên phải tuân thủ các nghĩa vụ xin
phép và trả tiền bản quyền cho tác giả theo quy định của pháp luật, khi đó tác giả
được thụ hưởng các quyền mà pháp luật cho phép.
Cuộc biểu
diễn được pháp luật bảo hộ
Các công ước
quốc tế và pháp luật các quốc gia đã công nhận và quy định về quyền của người
biểu diễn. Tuy nhiên, không phải bất kỳ người tham gia cuộc biểu diễn nào cũng
đều là đối tượng được bảo hộ quyền liên quan. Theo quan điểm của luật sở hữu
trí tuệ, chỉ những người tham gia vào cuộc biểu diễn các tác phẩm văn học, nghệ
thuật và khoa học mới được hưởng các quyền của người biểu diễn. Để xác định thế
nào là một tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học lại cần đối chiếu với khái
niệm tác phẩm theo quy định của pháp luật từng nước. Theo luật Việt Nam, tác phẩm
là "sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể
hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào"(khoản 7 điều 4 Luật Sở hữu
trí tuệ) . Do đó, mọi thành quả của quá trình sáng tạo trong văn học, nghệ
thuật hay khoa học đã được định hình đều có thể trở thành đối tượng để biểu
diễn và người biểu diễn các thành quả đó sẽ được hưởng các quyền của người biểu
diễn theo quy định pháp luật.
Theo nguyên tắc
hiệu lực lãnh thổ của luật bản quyền, nơi thực hiện cuộc biểu diễn cũng là một
trong những điều kiện bảo hộ cuộc biểu diễn. Pháp luật các nước thường chỉ bảo
hộ cuộc biểu diễn của công dân nước mình, cuộc biểu diễn được thực hiện trên
phạm vi lãnh thổ quốc gia mình và các trường hợp khác tùy thuộc vào các Hiệp
định song phương hoặc đa phương về các vấn đề có liên quan mà quốc gia tham gia
hoặc ký kết. Khoản 1 điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định với các cuộc
biểu diễn mà người biểu diễn là công dân Việt Nam dù được thực hiện tại Việt Nam
hoặc nước ngoài đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Ngoài ra, cuộc biểu diễn do
người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam
cũng được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và một số trường cụ thể khác
theo quy định của pháp luật.
Các quyền
của người biểu diễn
Khi thỏa mãn
các điều kiện luật định thì người biểu diễn được hưởng các quyền đối với với
cuộc biểu diễn của họ. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền của
người biểu diễn gồm có quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân
là những quyền người biểu diễn không thể chuyển giao và được bảo hộ vô thời
hạn. Theo quy định của khoản 2 điều 29 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam quyền nhân
thân bao gồm các quyền sau đây:
“a) Được giới
thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc
biểu diễn;
b) Bảo vệ sự
toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc
xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của
người biểu diễn.”
Nếu người biểu
diễn đồng thời là chủ đầu tư thì còn được hưởng các quyền tài sản là độc quyền
thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền:
“a) Định
hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
b) Sao chép
trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đó được định hình trên bản ghi
âm, ghi hình;
c) Phát sóng
hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được
định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó
nhằm mục đích phát sóng;
d) Phân phối
đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức
bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng
cú thể tiếp cận được”( khoản 3 điều 29).
Người biểu diễn
thông qua việc thực hiện hoặc cho phép thực hiện hay chuyển giao các quyền tài
sản để thu các lợi ích kinh tế. Pháp luật quy định tổ chức, cá nhân muốn sử
dụng khai thác các quyền này thì phải xin phép và trả thù lao cho chủ sở hữu
quyền là hoàn toàn hợp lý. Chỉ khi người biểu diễn, nhà đầu tư thu được lợi ích
tương xứng mới có thể khuyến khích họ tiếp tục đầu tư, sáng tạo các sản phẩm
trí tuệ nói chung, cũng như cuộc biểu diễn có giá trị xã hội và nghệ thuật nói
riêng. Nhưng đồng thời để đảm bảo cho công chúng được quyền tiếp cận với các
tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học có giá trị, mà trực tiếp là các cuộc
biểu diễn, nhằm đạt được mục đích tối cao của Luật sở hữu trí tuệ là nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, cũng như các loại hình quyền khác,
quyền tài sản của người biểu diễn được bảo hộ có thời hạn. Thời hạn bảo hộ
quyền tài sản của người biểu diễn là năm mươi năm, chính xác là đến 24 giờ ngày
31 tháng 12 năm thứ năm mươi, tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được
định hình. Đồng thời, trong những trường hợp luật định, tổ chức cá nhân được phép
khai thác, sử dụng bản ghi âm cuộc biểu diễn mà không phải xin phép nhưng vẫn
phải trả thù lao cho chủ sở hữu quyền của người biểu diễn. Các trường hợp này
được quy định tại điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm việc sử dụng trực tiếp hoặc
gián tiếp bản ghi âm ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng,
sử dụng trong hoạt động kinh doanh thương mại...
Tuy nhiên, các
quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn không phải luôn luôn thuộc về
người biểu diễn. Ngoài các quyền nhân thân là quyền không thể chuyển giao, chủ
sở hữu quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn có thể là tổ chức, cá nhân khác
được chuyển giao quyền hoặc tổ chức, cá nhân đã đầu tư tài chính, kinh phí và
cơ sở vật chất để thực hiện cuộc biểu diễn. Khi đó người biểu diễn chỉ còn lại
các quyền nhân thân, còn chủ sở hữu quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn được
quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền tài sản theo luật
định. Các quyền tài sản gắn liền và là cơ sở pháp lý để khai thác các lợi ích kinh
tế từ cuộc biểu diễn, do đó trong hợp đồng chuyển giao quyền hay hợp đồng biểu
diễn cần xác định rõ chủ sở hữu quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn. Trên thực
tế, tại Việt Nam trong những năm trước đây, khi thực hiện cuộc biểu diễn, ghi
âm cuộc biểu diễn các bên thường thiếu thỏa thuận bằng văn bản đối với vấn đề
này, dẫn đến phát sinh tranh chấp trong quá trình khai thác và sử dụng cuộc
biểu diễn, đặc biệt đối với việc sử dụng lại bản ghi âm cuộc biểu diễn vào mục
đích thương mại.
Quyền của người
biểu diễn và quyền biểu diễn là hai khái niệm riêng biệt. Quyền của người biểu
diễn thuộc phạm vi quyền liên quan. Còn quyền biểu diễn mà chính xác là quyền
biểu diễn công cộng là một trong những quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác
giả. Quyền này được quy định tại điểm b khoản 1 điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ và
được giải thích rõ hơn tại điều 23 Nghị định 100/2006/NĐ-CP, theo đó quyền biểu
diễn tác phẩm trước công chúng do chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện
hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc
thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện nào mà công
chúng có thể tiếp cận được. Quy định này phù hợp với quy định tại điều 11(1)
Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học về
quyền đối với tác phẩm kịch và âm nhạc: “Tác giả các tác phẩm kịch, nhạc kịch
và ca nhạc giữ độc quyền cho phép: biểu diễn và hòa tấu công cộng tác phẩm của
mình, kể cả hòa tấu công cộng bằng tất cả mọi phương pháp hay kỹ thuật; truyền phát
tới công chúng buổi biểu diễn và hòa tấu đó bằng bất kỳ phương pháp nào”. Như
vậy, việc trình bày tác phẩm, phát sóng hay làm cho công chúng có thể tiếp cận
được tác phẩm đều thuộc phạm vi quyền biểu diễn
và các quyền này được quy định rõ ràng hơn tại điều11 bis, điều 14, 14 bis và
14 ter Công ước Rome. Khi tổ chức, cá nhân muốn biểu diễn một tác phẩm
văn học, nghệ thuật và khoa học đến công chúng phải xin phép và trả tiền bản
quyền cho chủ sở hữu quyền tác giả, trong những trường hợp pháp luật quy định
không phải xin phép thì phải trả tiền bản quyền cho việc sử dụng quyền biểu
diễn theo quy định. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền biểu
diễn tác phẩm trước công chúng là độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả đối
với nhiều loại hình tác phẩm, nhưng trong thực tế chủ sở hữu quyền tác giả đối
với tác phẩm âm nhạc là đối tượng khai thác và được hưởng lợi nhiều nhất từ
quyền này.
Tăng cường
bảo hộ quyền của người biểu diễn
Luật sở hữu trí
tuệ Việt Nam
đã quy định cụ thể các quyền của người biểu diễn. Nhưng để các quy định pháp
luật thực sự đi vào đời sống, người biểu diễn thực sự được thụ hưởng các quyền
mà pháp luật cho phép, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho công
chúng và trước hết là người biểu diễn để từ đó hình thành ý thức tôn trọng,
khai thác và sử dụng hợp pháp quyền của người biểu diễn. Chỉ khi các chủ sở hữu
quyền hiểu rõ các quy định pháp luật và biết cách tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình thì công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn mới đạt hiệu quả
cao.
Khác với các
loại hình quyền khác, quyền của người biểu diễn là quyền độc lập nhưng được
hình thành và khai thác trong mối quan hệ đa dạng và phức tạp giữa người biểu
diễn, tác giả tác phẩm được biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, các hãng phim
và các nhà đầu tư cho cuộc biểu diễn. Vì vậy, khi thực hiện cuộc biểu diễn
người biểu diễn cần đặc biệt lưu ý thỏa thuận và làm rõ trong hợp đồng mối quan
hệ cũng như quyền và nghĩa vụ giữa người biểu diễn với nhau, người biểu diễn
với tác giả và người biểu diễn với nhà sản xuất. Các thỏa thuận hợp đồng sẽ
giúp giảm thiểu tranh chấp và đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết nếu tranh
chấp phát sinh.
Quyền của người
biểu diễn có thể được thực hiện trực tiếp bởi từng nghệ sỹ nhưng một cá nhân
riêng lẻ, đặc biệt trong điều kiện môi trường kỹ thuật số khó có thể kiểm soát
và quản lý toàn bộ việc khai thác, sử dụng cuộc biểu diễn và bản ghi âm cuộc
biểu diễn của mình. Vì vậy, việc thành lập một tổ chức nghề nghiệp hay hiệp hội
chịu trách nhiệm quản lý tập thể quyền của người biểu diễn góp phần tăng cường
hiệu quả công tác bảo hộ loại hình quyền này. Với thực trạng người biểu diễn
tại Việt Nam có thể là một lao động trong biên chế nhà nước, là lao động của
một doanh nghiệp ngoài quốc doanh hay một lao động tự do, cần thiết thành lập
một tổ chức quản lý tập thể quyền của người biểu diễn, tổ chức này có thể là
đại diện và quản lý quyền cho người biểu diễn thuộc mọi thành phần kinh tế và
hoạt động biểu diễn trong mọi lĩnh vực./.
“The first owner of the performance right is the performer”, Briefing
note- An overview of Performer’s rights, (http: www.ipo.gov.uk/types/copy/c-otherprotect/c-performer.html)
Hoàng Hoa (Tạp chí nghiên cứu lập pháp)
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
---------------------------------------------------------------------------------
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:
1.Tư vấn bảo hộ tác phẩm viết;
2. Đăng ký bảo hộ tác phẩm mỹ thuật ứng dụng;
3. Đăng ký bảo hộ bản quyền tác phẩm kiến trúc;
4. Tư vấn bảo vệ bản quyền nhiếp ảnh;
5. Bảo hộ bản quyền tác giả;
6. Đăng ký bản quyền tác phẩm âm nhạc;
7. Thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
8. Đăng ký bản quyền tác giả cho tác phẩm phẩm băng, đĩa âm thanh
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT(24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------