Quyền tác giả trong xuất bản
Trong ngành xuất bản Việt Nam đang tồn tại sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, thiếu sự hợp tác cùng ngành nghề. Thông tin không đầy đủ và ý thức cạnh tranh thiếu lành mạnh nhiều khi dẫn đến tranh mua bản quyền, tạo điều kiện cho đối tác nước ngoài ép giá, gây thiệt hại cho chính các nhà xuất bản của ta
Bảo hộ quyền tác giả khuyến khích lao động sáng tạo
Tác giả, với tư cách là chủ thể sáng tạo ra tác phẩm có quyền được hưởng thành quả lao động sáng tạo của
mình trong một khoảng thời gian nhất định. Bảo hộ quyền tác giả sẽ khuyến khích
sáng tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị phục vụ công chúng và xã hội. Chính vì lẽ
đó, Tiến sỹ Kamil Idris, Tổng giám đốc tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO đã
phát đi thông điệp nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2007 (26/4) với tựa đề
“Khuyến khích sáng tạo - khích lệ các tài năng sáng tạo và đổi
mới đang tạo dựng thế giới và tương lai của chúng ta - đó là mục đích cuối cùng
mà sở hữu trí tuệ đang phụng sự”.
Quyền tác giả hay bản quyền (copyright) là quyền của tổ chức, cá
nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền tác giả được hiểu
là quyền độc quyền được pháp luật trao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm về
việc sao chép tác phẩm và phân phối hoặc phổ biến tác phẩm đến công chúng bằng
bất kỳ phương thức hoặc phương tiện nào và về việc cho phép người khác khai
thác tác phẩm theo những cách thức cụ thể.
Khái niệm quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả đã có từ rất lâu trên thế giới,
bắt đầu từ các nước phương Tây. Lịch sử bản quyền gắn với việc phát minh ra kỹ
thuật in ấn. Sau khi Johannes Gutenberg phát minh ra kỹ thuật và máy in mới
(khoảng giữa thế kỷ 15), các bản sao chép lại của một tác phẩm bắt đầu có thể
được sản xuất với số lượng lớn một cách dễ dàng hơn. Nhưng để đi đến các quy
định có tính pháp lý về quyền tác giả vẫn còn một chặng đường dài. Mãi tới năm
1710, trong một bộ luật tại nước Anh, với Statue of Anne, lần đầu tiên
quyền độc quyền sao chép của tác giả mới được pháp luật công nhận. Tại Việt
Nam, khái niệm quyền tác giả tuy rất mới mẻ, song quyền này đã được ghi rõ
trong Hiến pháp: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát
minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê
bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác. Nhà nước bảo
hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”.
Bảo hộ quyền tác giả là biện pháp hữu hiệu khuyến
khích lao động sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học,
góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội và là động
lực tăng trưởng kinh tế tại mỗi quốc gia.
Luật bản quyền và Luật xuất bản
Các quy định pháp luật về bản quyền và bảo hộ
quyền tác giả ở mỗi nước có thể có sự khác biệt nhất định về hình thức. Có nước
thì Luật bản quyền nằm độc lập, nhưng cũng có quốc gia như nước ta thì các quy
định pháp luật về bản quyền lại nằm trong Luật sở hữu trí tuệ và Bộ luật dân
sự. Song về nội dung cơ bản thì nó giống nhau và phù hợp với các Điều ước quốc
tế về bảo hộ quyền tác giả. Một trong những nội dung mang tính nguyên tắc là:
tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng quyền tác giả phải xin phép và trả tiền
nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.
Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật
sở hữu trí tuệ Việt Nam bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản (có nước gọi
là quyền tinh thần và quyền kinh tế). Quyền nhân thân gồm các quyền đặt tên cho
tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật
hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm
hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm,
không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình
thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Quyền tài sản gồm
các quyền làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép
tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác
phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện
tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác
phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Luật xuất bản của ta (năm 2004) dành hẳn một điều
(Điều 19) quy định Quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản: "Việc xuất
bản tác phẩm, tái bản xuất bản phẩm chỉ được thực hiện sau khi có hợp đồng với
tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm theo quy định của pháp luật”. Còn Khoản 1,
Điều 5 quy định: "Nhà nước bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm dưới hình
thức xuất bản phẩm thông qua nhà xuất bản và bảo hộ quyền tác giả” và Khoản
3, Điều 6 quy định: “Nhà nước mua bản thảo đối với những tác phẩm có giá trị
nhưng thời điểm xuất bản chưa thích hợp hoặc đối tượng sử dụng hạn chế; hỗ trợ
mua bản quyền đối với tác phẩm trong nước và nước ngoài có giá trị phục vụ phát
triển kinh tế, văn hoá, xã hội”. Đây là lần đầu tiên Luật xuất bản Việt Nam
đề cập nhiều điều liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, so sánh
với Luật xuất bản của nhiều quốc gia khác trên thế giới thì Luật xuất bản Việt
Nam mới chỉ đề cập đến những quy định chung nhất về quyền tác giả trong lĩnh
vực xuất bản. Ở các quốc gia khác như nước Đức chẳng hạn, Luật xuất bản gắn
chặt với việc bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản. Mặc dù ở Đức có một
bộ luật dành riêng cho quyền tác giả và quyền liên quan - Gesetz über Urheberrecht
und verwandte Schutzrechte, nhưng Luật xuất bản của Đức - Verlagsgesetz
(ra đời từ năm 1901), ghi ngay tại điều đầu tiên rằng: “Luật xuất bản quy
định các quan hệ pháp lý giữa tác giả và nhà xuất bản”. Phần lớn nội dung
các điều tiếp theo đều thể hiện mối quan hệ pháp lý này. Tâm điểm của Luật xuất
bản là hợp đồng xuất bản giữa tác giả và nhà xuất bản. Các nội dung trong Luật
xuất bản của Đức đề cao vai trò quyết định trong hoạt động xuất bản của người
sáng tạo ra tác phẩm, ví dụ: tác giả là người quyết định cho phép ai xuất bản
tác phẩm của mình; cuốn sách mẫu phải đưa cho tác giả đọc kiểm tra trước khi in
hàng loạt, v.v...
Xây dựng môi trường lành mạnh cho hoạt
động xuất bản
Với việc tham gia Công
ước Berne về Bảo
hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật,
Việt Nam đã cam kết với thế giới về việc xây dựng và tuân thủ
các biện pháp bảo hộ quyền tác giả, đấu tranh chống nạn vi phạm quyền tác giả tác phẩm văn học, nghệ
thuật. Tuy nhiên, sau 3 năm vào Công ước Berne, tình trạng vi
phạm quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản ở nước ta vẫn còn đáng báo động.
Xâm phạm quyền tác giả sẽ triệt tiêu sự sáng tạo
và kìm hãm sự phát triển của ngành xuất bản. Có rất nhiều loại hành vi xâm phạm
quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản và phát hành xuất bản phẩm đang tồn tại
khá phổ biến, đó là: xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác
giả; sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy
tín của tác giả; làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở
hữu quyền tác giả; xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không
được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; sử dụng tác phẩm mà không được phép của
chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất
khác theo quy định của pháp luật; nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng
bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương
tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; cố ý huỷ bỏ hoặc
làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo
vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình. Trong tất cả các hành vi xâm phạm
quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản thì hành vi in lậu vẫn là phổ biến và
nghiêm trọng nhất. Sách bán chạy thường bị in lậu rất nhanh. Hậu quả là thiệt
hại kinh tế và thiệt hại uy tín cho tác giả và nhà xuất bản. Đây thực sự là nỗi
lo thường trực của các nhà xuất bản Việt Nam.
Công tác quản lý chưa hiệu quả và chế tài xử phạt
nhẹ là các nguyên nhân khiến nạn in lậu sách vẫn hoành hành. Việc xử lý vi phạm
quyền tác giả xuất bản phẩm phải nhằm tới tất cả các đối tượng từ khâu in sách
lậu tới khâu tiêu thụ sách lậu mới có thể đẩy được nguồn sách lậu ra khỏi thị
trường tiêu thụ sách. Và cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xử lý vi
phạm quyền tác giả có tính răn đe hơn. Tại các nước trên thế giới, chế tài xử
lý các vi phạm kiểu này thường rất nghiêm khắc, những kẻ xâm hại quyền tác giả
có thể bị xử lý hình sự.
Để xây dựng môi trường lành mạnh cho hoạt động
xuất bản tại Việt Nam, ngoài việc đấu tranh chống xâm phạm chủ thể quyền còn
phải cải thiện ý thức và thái độ ứng xử đối với tác giả và chủ sở hữu quyền tác
giả. Phải đặt mạng lưới tác giả và cộng tác viên vào vai trò quyết định thành
bại của hoạt động xuất bản. Các quy định và chính sách xuất bản của ta chưa thể
hiện đầy đủ sự gắn kết quyền lợi giữa tác giả và nhà xuất bản, thể hiện ngay
trong phương pháp trả nhuận bút trên cơ sở tổng giá bán lẻ và số lượng bản
in (ở các nước khác, người ta tính nhuận bút trên cơ sở tổng giá bán
lẻ và số lượng sách tiêu thụ. Làm như vậy sẽ có sự gắn kết hơn về quyền
lợi giữa tác giả và nhà xuất bản).
Trong ngành xuất bản Việt Nam đang tồn tại sự cạnh
tranh thiếu lành mạnh, thiếu sự hợp tác cùng ngành nghề. Thông tin không đầy đủ
và ý thức cạnh tranh thiếu lành mạnh nhiều khi dẫn đến tranh mua bản quyền, tạo
điều kiện cho đối tác nước ngoài ép giá, gây thiệt hại cho chính các nhà xuất
bản của ta. Cần tạo hình thức nào đó để các nhà xuất bản có đầy đủ thông tin và
có thể hợp tác với nhau để cùng bảo vệ quyền lợi cho mình, tránh lãng phí hoặc
làm thiệt hại đến lợi ích của nhau trong việc mua bản quyền nước ngoài. Để giải
quyết vấn đề này thì vai trò của hiệp hội xuất bản là rất quan trọng.
Hội chợ sách tại Việt Nam chưa là nơi trao đổi,
mua bán quyền tác giả. Hội chợ sách ở nước ta thiên về chợ bán lẻ, bán sách hạ
giá. Tư duy kiểu “chợ sách” này còn được chúng ta mang sang thể hiện cả
tại các hội chợ sách quốc tế ở nước ngoài. Cần thay đổi tư duy và cách thức tổ
chức và tham gia hội chợ sách theo đúng thông lệ quốc tế để hội chợ sách thực
sự là nơi trao đổi, mua bán bản quyền, ký kết hợp đồng kinh doanh sách và đồng thời
là nơi gặp gỡ, trao đổi thông tin giữa các nhà xuất bản, các nhà phát hành
sách, các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng.
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay, các loại hình tác phẩm
đều có thể tồn tại trong môi trường kỹ thuật số. Qua internet và các công nghệ
khác của "thời đại số", người ta dễ dàng sao chép và phổ
biến tác phẩm. Vì vậy, công
nghệ này cũng tạo cơ hội cho việc phát sinh các hình thức khai thác và sử dụng
bất hợp pháp mới, ví dụ đăng tải tác phẩm qua internet mà không được sự đồng ý
của chủ sở hữu quyền. Đây cũng là các thách thức mới trong công tác thực thi
bảo hộ quyền tác giả.
Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về
quyền tác giả và quyền liên quan sắp ban hành có quy định xử phạt tiền từ 1 đến
5 lần giá trị hàng hóa vi phạm đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả trong
hoạt động sao chép (in, nhân bản) xuất bản phẩm và hành vi xâm phạm quyền tác
giả trong hoạt động phân phối xuất bản phẩm. Ngoài ra, tổ chức hoặc cá nhân vi
phạm còn phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động kinh
doanh từ 3 đến 6 tháng; bị tịch thu hàng hóa vi phạm, nguyên liệu, vật liệu,
phương tiện và thiết bị được sử dụng cho việc sản xuất, kinh doanh hàng hóa vi
phạm. Hy vọng với mức xử phạt này và với quyết tâm cao của các cơ quan thực thi
bảo hộ quyền tác giả sẽ đủ sức ngăn chặn các hoạt động xâm phạm quyền tác giả
trong lĩnh vực xuất bản, góp phần tạo môi trường lành mạnh để ngành xuất bản
Việt Nam phát triển./.
Việt Linh – COV
(Bài viết đăng Tạp chí Sách & Đời sống)
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)