Sở hữu trí tuệ, kinh tế mở và phát triển.
Tóm tắt: Trong bài này tác giả lược duyệt những phân tích kinh tế căn bản về quyền sỡ hữu trí tuệ (QSHTT), đăc biệt là bằng phát minh, trong khung cảnh một nền kinh tế mở và đang phát triển. Trước hết, những đặc tính của sở hữu trí tuệ được xem xét, và lý do tại sao nhà nước phải đảm nhận việc bảo vệ quyền này. Kế tiếp, tác động của QSHTT trong một nền kinh tế mở đuợc phân tích, nhất là ảnh hưởng của nó đến xuất nhập khẩu, FDI, phân biệt đối xử, và toàn cầu hoá. Cuối cùng, bài đề cập đến liên hệ giữa QSHTT và phát triển kinh tế
Phản ảnh xu thế ngày càng quan trọng của nền “kinh tế tri thức” trong đó trí
tuệ là nòng cốt, quyền sở hữu trí tuệ[2] (QSHTT) đã trở thành một vấn đề nổi
bật trong nội bộ nhiều quốc gia,[3] và đầu mối của nhiều tranh chấp quốc tế.[4]
.
Ở cấp vi mô, vấn đề QSHTT "bốc nóng" phần lớn là do đòi hỏi của
các nhà sản xuất.[5] (nhất là các công ty đa quốc gia) vì nhiều thúc bách . Thứ
nhất, sở hữu trí tuệ là một lợi thế độc quyền ngày càng quan trọng, khi
những lợi thế khác (như khả năng chia cắt thị trường) ngày càng yếu. Thứ
hai, đa số nghiên cứu phát minh ngày càng tốn kém, mà sao chép,[6] mô
phỏng[7] lại ngày càng dễ dàng[8]. Vì những biện pháp bảo mật thông
thường không còn công hiêu, tư doanh cần hậu thuẩn của nhà nước để bảo vệ sở
hữu trí tuệ. Thứ ba, hầu hết công ước quốc tế về QSHTT là đã khá lâu
đời, có nhu cầu cập nhật, bổ sung để ứng phó với những công nghệ, những hoạt
động kinh tế mới.
Ở cấp vĩ mô, vai trò của QSHTT trong các tranh chấp quốc tế là do sự khác
biệt quyền lợi giữa những nước đã phát triển, công nghệ cao, và những
nước chưa phát triển, cần du nhập và mô phỏng công nghệ nước ngoài.
Đối với đa số các nước đã phát triển thì QSHTT là cần thiết cho tiến bộ công
nghệ, lợi cho kinh doanh, tốt cho xã hội. Hơn nữa, theo họ, QSHTT (nhất
là bằng phát minh) cũng là tốt cho các nước kém phát triển: nó khuyến khích
phát minh ở các nước ấy, thu hút đầu tư từ ngoài, du nhập công nghệ mới.
Do đó, nói chung, lập trường của các nước đã phát triển là QSHTT phải rộng rãi
và được thực sự bảo vệ.
Các quốc gia đang phát triển thì nhìn vấn đề có hơi khác. Dù rằng, nói
chung, QSHTT sẽ khuyến khích phát minh, trên thực tế thì hầu hết phát minh công
nghệ đều từ các quốc gia tiền tiến, do đó sự thắt chặc QSHTT sẽ gây khó khăn
cho các nước kém phát triển, đang cần mô phỏng công nghệ. Các nước này
cũng lo ngại rằng chế độ QSHTT sẽ bị các nước giàu lạm dụng: đăng ký bản quyền
những tác phẩm văn hoá cỗ truyền, những gen đặc chủng, có thể thương mại
hoá Hơn nữa, thực thi chế độ QSHTT sẽ lấy nhiều nhân lực và ngân sách có
thể dùng vào những hoạt động phát triển khác. Nói tóm lại, nhiều nước cho rằng
QSHTT như được ấn định bởi các quốc gia tiên tiến sẽ gây khó khăn cho phát
triển của họ, và chỉ có lợi cho nứơc giàu,.
I. Vài vấn đề căn bản của quyền sở hữu trí tuệ
(1) Tại sao phải có QSHTT?
Nhìn từ triết học, có hai quan điểm khác nhau về "sở hữu trí tuệ".
Quan điểm thứ nhất thì cho rằng tác phẩm, sáng kiến là do công sức, tài ba
riêng của cá nhân sáng tạo, do đó QSHTT phải là thuộc cá nhân ấy. Quan
điểm thứ hai thì cho rằng sản phẩm trí tuệ là tài sản chung. Hầu như mọi
sáng kiến hay khám phá đều là hun đúc của tiền nhân, đóng góp của xã hội.
Người sáng tạo chỉ là một thực thể ngẫu nhiên phát hiện những kết quả đó.
Theo quan điểm này, cá nhân người ấy có thể được tôn vinh, khen thưởng, nhưng
quyền sử dụng sáng tác phẩm không thể giới hạn cho riêng ai.[9]
Nhìn từ kinh tế học, nhất là kinh tế tân cổ điển, thì sự cần thiết của QSHTT
(và quyền tư hữu nói chung) phải được phán xét trên căn bản phúc lợi cộng
đồng.[10] Mazzoleni và Nelson (1998) kê ra vài lý do chính: Một
là, QSHTT sẽ khuyến khích người có óc sáng chế. và dọn đường cho những phát
minh tiếp theo. (Ðó là vì muốn được cấp bằng sáng chế thì người phát minh phải
công bố chi tiết phát minh của mình, dựa vào những thông tin này người khác có
thể đưa ra phát minh kế tiếp). Hơn nữa, nếu người phát minh được
cấp quyền sở hữu một cách rộng rãi thì sẽ yên tâm tìm những phát minh liên
hệ. Thiếu quyền đó nhiều phát minh sẽ có cơ trùng lặp, lãng phí. Hai
là, QSHTT là một cách dùng lơi nhuận để thúc đẩy người phát minh đi vào sản
xuất [xem David (1993)]. Một số thị trường (nhất là các sản phẩm và dịch vụ
mới) sẽ khó xuất hiện nếu doanh nhân không đươc khích động sản xuất.
Do đó, dù nghĩ thế nào về căn bản triết lý của sở hữu trí tuệ, tiếp cận kinh
tế khẳng định quyền sở hữu trí tuệ là phải có vì phúc lợi chung. Một mặt,
xã hội cần những biện pháp cụ thể để khuyến khich sáng tạo, mặt khác quá chặc
chẽ thì sản phẩm trí tuệ sẽ không được xã hội tận dụng. Tiếp cận này sẽ
được dùng trong bài này.
(2) Tại sao QSHTT phải do nhà nước, thay vì thị trường, quyết
định?
Công nhận rằng xã hội nên khuyến khích và tận dụng những tác phẩm của trí
tuệ, câu hỏi tiếp sẽ là: tại sao việc đó cần một thứ quyền do nhà nước cấp
phát? Có thể chăng chính cạnh tranh kinh tế sẽ thúc đẩy những hoạt động sản
xuất này, cũng như các sản xuất khác? Thực vậy, nhiều tác giả
cho rằng thị trường hoàn toàn tự do sẽ có nhiều cách khuyến khích và đưa lợi
ích của phát minh.vào thực tế. Chẳng hạn, nhiều phát minh, sáng tác chỉ cần
động cơ lợi nhuận thúc đẩy Hơn nữa, nhiều phát minh có bản chất
không thể bắt chuớc, sao chép, và do đó QSHTT do nhà nước cấp phát là không cần
thiết. .
Song, đối với đa số các nhà kinh tế thì QSHTT là cần thiết vì một khác biệt
căn bản giữa sản phẩm trí tuệ và sản phẩm hiện vật, ở chỗ: khi sản phẩm trí tuệ
được người này sử dụng thì mức hữu ích của nó cho người khác vẫn không suy giảm
[tính “phi kình địch” (nonrivalriness)]. Với sản phẩm có đặc tính này,
phúc lợi xã hội sẽ tăng theo số người sử dụng, song cơ chế thị trường (trong đó
chỉ người mua là đươc phép sử dụng) lại không thể phân bố nó một cách tối
hảo. Do đó, QSHTT (qua công khai hoá phát minh, cho mọi người sử
dụng miễn phí sau một khoảng thời gian nhất định) là một giải pháp cho những thất
bại thị trường vì bản tính của sản phẩm trí tuệ.
(3) Đặc tính kinh tế của QSHTT
Dù đồng ý rằng nhà nuớc có trách nhiệm cấp phát và bảo vệ QSHTT, vẫn còn
nhiều câu hỏi cần giải đáp. Quan trọng nhất là: để tối đa hoá phúc
lợi cộng đồng, thời hạn hiệu lực của quyền ấy nên là bao lâu? Rồi, có nên
phân biệt đối xữ (và nếu nên, phân biệt ra sao?) giữa nhãn hiệu, bản quyền,
bằng sáng chế, bí mật kinh doanh? Giữa các ngành công nghiệp? Những câu
hỏi này có liên hệ qua lại, nhưng để tiện theo dõi, xin phân tích riêng rẽ từng
vấn đề.
(a) Thời hạn hiệu lực. Có lẽ quyết định căn bản nhất về QSGTT
là thời hạn hiệu lực của bằng sáng chế, tức là thời gian mà người có bằng đó
được độc quyền sản xuất. Thời gian này càng dài thì độc quyền càng lâu,
mà độc quyền thì như ai cũng biết (trừ vài ngoại lệ[11]) sẽ làm suy giảm phúc
lợi xã hội. Song, nếu thời hạn hiệu lực quá ngắn thì (trên lý thuyết) sẽ
không cho người có tài cán đủ động lực để phát minh. Như vậy, một chế độ
QSHTT lý tưởng phải dung hoà hai tiêu chí: (a) đủ lâu để gián tiếp khuyến khích
phát minh với con mồi lợi nhuận, (b) không nên quá lâu, trì hoãn tận dụng tối
đa sáng kiến đó, gây lãng phí cho xã hội.
(b) Loại phát minh. Cách phân loại và qui chế QSHTT sẽ
có ảnh hưởng quan trọng đến loại phát minh. Một chế độ QSHTT chỉ nhằm
các chỉ tiêu kinh tế trước mắt sẽ thiên vị những “phát minh vặt,” có lợi ích
thương mại lập tức, hơn là những phát minh căn bản không gây lợi nhuận ngay,
song có tiềm năng dấy thêm nhiều phát minh khác, quan trọng hơn về lâu về dài.
(c) Ngành công nghiệp. Trên thực tế, QSHTT có thể được luật pháp bảo
vệ qua bốn hình thức chính: bản quyền, bằng sáng chế, thương hiệu, bí mật
kinh doanh. Tuy mọi ngành công nghiệp đều cần QSHTT, song mỗi ngành có khác
nhau về nhu cầu QSHTT, và mức quan trọng tương đối giữa bản quyền,bằng
sáng chế, thương hiệu, và bí mật kinh doanh.
Bảng 1. Mức tuỳ thuộc của từng khu vực công nghiệp vào QSHTT
|
Bằng sáng chế
|
Dược phẩm, công nghệ sinh học, chủng loại sinh vật
|
|
Bản quyền
|
Văn hoá phẩm: sách, băng, phim ảnh, CD, phần mềm
|
|
Thương hiệu
|
Sản phẩm có giá trị nhờ uy tín, và đầu vào có chất lượng
cao
|
|
Bí mật kinh doanh
|
Tổ chức quản lý, tiếp thị …
|
Vì sự khác biệt này, tùy chính sách phát triển công nghiệp, nhà nước có thể
cấp phát và bảo vệ không đồng đều các loại SHTT khác nhau, cũng như phân
biệt công nghẽ mô phỏng và công nghệ sáng chế.
(d) Danh nghĩa và thực tế Trên thực tế, cường độ của
QSHTT tuỳ thuộc đặc tính của toàn bộ nền kinh tế, kể cả đuờng lối và công
cụ điều tiết của chính phủ. Thêm vào đó, QSHTT tuỳ thuộc vào mức độ nhà
nước chú trọng việc tôn trọng nó (có đủ kiểm soát viên, công an, toà
án…). Nói cách khác, cường độ của một chế độ QSHTT trên pháp lý có thể là
rất khác trên thực tế.[12]
II. Quyền sở hữu trí tuệ trong một nền kinh tế mở
QSHTT là một bộ phận luật pháp có ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt kinh tế, đặc
biệt là những giao lưu quốc tế (1) xuất nhập khẩu, (2) đầu tư nước ngoài (FDI),
(3) licensing. Tiếc thay, ảnh hưởng này rất khó xác định vì có rất nhiều
biến số. Phần chính là nó tùy thuộc (1) lý do công ty nước ngoài chọn
FDI, thay vì xuất khẩu hoặc licensing, (2) cơ cấu công nghiệp (nhất là lối cạnh
tranh giữa các công ty khách và chủ ), và (3) khả năng bắt chước của nước chủ nhà.
(Thêm nữa, cũng cần nhắc lại, trong QSHTT còn có sự khác nhau giữa bằng sáng
chế, bản quyền, thương hiệu, và bí quyết kinh doanh).
(1) Ảnh hưởng của QSHTT đến khối lượng xuất nhập khẩu
Liên hệ giữa QSHTT và xuất nhập khẩu là một đề tài đuợc nhiều chú ý. Ảnh
hưởng này tuỳ vào hai yếu tố chính (1) khả năng bắt chuớc và (2) cơ cấu công
nghiệp.
(a) Nếu khả năng bắt chước là kém thì thắt chặc QSHTT sẽ không làm
thay đổi mức sản xuất trong nước, và do đó sẽ không ảnh hưởng đến xuất nhập
khẩu. Đàng khác, nếu khả năng này là cao thì thắt chặc QSHTT cho nước ngoài sẽ
tạo thêm “chướng ngại” cho các nhà sản xuất trong nuớc, do đó sẽ ảnh hưởng
nhiều đến khối lương ngoại thưong. Smith (1993) chia các nước ra làm bốn
loại, theo hai tiêu chuẩn (1) cường độ QSHTT, (2) khả năng bắt chước, và phát
hiện một số kết quả kinh lượng trình bày trong Bảng 2:
Bảng 2. Liên hệ giữa QSHTT, khả năng bắt chuớc, và khối lượng ngoại
thương
|
|
QSHTT mạnh
|
QSHTT yếu
|
|
Khả năng bắt chước cao
|
Các nước đã phát triển (Mỹ)
(kết quả không rõ rệt)
|
Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhỉ Kỳ,Venezuela
(QSHTT càng mạnh thì nhập khẩu càng nhiều)
|
|
Khả năng bắt chước thấp
|
Không có nước nào
QSHTT tăng lên thì nhập khẩu sẽ kém đi
|
Các nước nhỏ, chưa phát triển (kết quả không rõ rêt)
|
Theo Maskus và Penubarti (1997), nếu khả năng bắt chước chưa cao, thì thắt
chặc QSHTT sẽ làm tăng nhập khẩu, do đó sẽ làm tăng thế độc quyền của các công
ty ngọai trong thị trường nội. Vì thế, theo hai tác giả này, cùng lúc với
thắt chặc QSHTT, các quốc gia kém khả năng bắt chuớc cần tăng nổ lực chống độc
quyền. Tiếc thay, các nước nhỏ, nghèo, lại ít có khả năng thực hiện điều đó.
(b) Ảnh hưởng của QSHTT đến ngoại thương cũng tuỳ vào cơ cấu công nghiệp.
Nếu công ty ngoại phải cạnh tranh với nhiều
công ty nội thì QSHTT không nhiều ảnh hưởng. Song nếu thị phần của công
ty ấy đã sẳn lớn thì thắt chặc QSHTT sẽ làm thị phần đó lớn thêm. Nhưng
ảnh hưỡng chung đến thị trường thì lại khó tiên đoán, bởi lẽ nó có hai hiệu ứng
tương phản. Một mặt, QSHTT càng chặc thì thế lực thị trường của công ty
ngọai càng mạnh, song mặt khác nó cũng làm thị trường nhỏ lại vì sự rút lui của
các công ty bé. Ảnh hưởng tối hậu sẽ tuỳ vào hiệu ứng nào là mạnh
hơn.
(2) Ảnh hưởng của QSHTT đến đầu tư trực tiếp từ ngoài (FDI)
Nói chung, QSHTT càng chặc chẽ thì càng giảm mô phỏng và càng khuyến khích
FDI. Tuy nhiên ảnh hường này tùy vào lọai công nghệ: cũ hoặc mới, có dễ
bắt chước hay không.
Đối với các công nghệ "cũ" (đã chuẩn hóa) thì FDI tuỳ thuộc
phần lớn vào giá phí đầu vào, tầm cở thị trường, cước chuyên chở, và những lợi
thế vị trí khác, do đó thắt chặc QSHTT sẽ không có ảnh hưởng đáng kể đến
FDI những công nghệ ấy. Đối với các công nghệ tân tiến thì thắt
chặc QSHTT sẽ thu hút FDI, khuyến khích chuyển giao công nghệ, nhất là loại dễ
bắt chuớc. Lý do là bằng phát minh, bản quyền và thương hiệu sẽ làm tăng giá
trị của “tài sản tri thức”, và cách khai thác loại tài sản đó hữu hiệu nhất là
trong nội bộ xí nghiệp (thay vì qua cơ chế thị trường).[13] Trong
phương diện này, cũng nên xem đến yếu tố khác (loại công nghệ, trình độ bắt
chước, mức độ cạnh tranh) trong nước. Ngoài ra, một chế độ QSHTT rộng rãi
và thực thi cũng khuyến khích các công ty nước ngòai tìm kiếm công
nghệ thích hợp với địa phương.
Ảnh hưởng của QSHTT đến mức độ cho thuê công nghệ (licensing) cũng là đáng
chú ý. Theo nhiều mô hình, chặc chẽ hoá QSHTT sẽ tăng mức độ licensing (thay vì
FDI hoặc xuất khẩu) của các công ty ngoại cho các công ty nội, vì lẽ QSHTT càng
mạnh thì phí licensing càng thấp (vì dễ trừng phạt các công ty nhận license
song lại tiết lộ bí mật). Tuy nhiên cũng có người cho rằng các công ty
nước ngoài sẽ nghiêng về FDI thay vì cấp license vì họ ngại tiết lộ bí quyết
công nghệ do thủ tục licensing đòi hỏi
(3) Phân biệt người phát minh và loại công nghệ
Dễ hiểu, QSHTT phải thiên vị người phát minh trong nước, so
với người phát minh nước ngoài. (Sự phân biệt đối xử đó có lợi cho
ai — người sản xuất hoặc người tiêu dùng? — lại là một vấn đề
khác.) Tuy rằng hầu hết các thoả hiệp quốc tế không cho phép phân biệt
đối xử giữa người trong và ngoài nước, song, trên thực tế, không khó tìm những
đặc tính tiêu biểu để phân biệt đối xử theo quốc tịch. (Chẳng hạn như bắt
buộc hồ sơ xin giấy phép phải viết bằng tiếng Việt.) Như vậy, ý nghĩa đầu
tiên có thể là nhà nước sẽ không cho người nước ngoài QSHTT mạnh bằng cho công
dân mình. Chúng ta cũng muốn khuyến khích các phát minh hữu ích và thích
hợp với nước ta, hơn là những phát minh hữu ích cho mọi quốc gia. Những
phát minh có giá trị chung sẽ có nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế thúc đẩy.
Những nhận xét trên đưa đến nhận định: trong quyết định cấp QSHTT cho các
công ty nước ngoài, một yếu tố quan trọng là khả năng mô phỏng, sáng tạotrong
nước. Phải có một chế độ về QSHTT thế nào để khuyến khích những sáng tạo,
mô phỏng của người trong nước, và bảo vệ QSHTT của họ trong các thị trường hải
ngoại. Song, khả năng đó tuỳ thuộc vào ngành công nghiệp và trình độ công
nghệ của chúng ta. Vậy nó liên hệ đến giai đoạn phát triển (điểm này sẽ
được bàn thêm dưới đây). Và cũng đừng quên rằng một ngày nào đó, chính các nhà
phát minh Việt Nam
cũng cần được bảo đảm QSHTT ở nước ngoài.
(4) QSHTT và Toàn Cầu Hoá
Một xu thế hiện đại là ngày càng nhiều thảo luận giữa các nước nhằm cắt giảm
các rào cản thương mại, đồng bộ hoá luật lệ, thuế má, và nhất là chế độ
QSHTT. Để có một lập truờng hợp lý trong các thương lượng này, chúng ta
cần chú ý đến khác biệt giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế của QSHTT, và
ảnh hưởng của QSHTT đến chênh lệch giàu nghèo giữa các nước. Cũng đừng nên quên
rằng các nước đang phát triển còn muốn bảo tồn những kiến thức và nếp sống cổ
truyền (tốt), chống lại khuynh hướng thương mại hoá, ngăn ngừa văn hoá đồi trụy
ngoại lai. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy tác động của QSHTT trong những
mục đích này rất khó xác định
Đồng bộ hoá QSHTT sẽ làm giảm đi tầm quan trọng của QSHTT trong quyết định
của các công ty về nơi đầu tư và cách kinh doanh (nhất là giữa FDI và chuyển
giao công nghiệp). Nói cách khác, những quốc gia đang tiến hành thắt
chặc QSHTT sẽ thấy lợi thế so sánh của mình mạnh thêm, trong khi những quốc gia
đã có QSHTT khá chặc chẽ thì lại thấy lợi thế của mình kém đi.[14]
III. Sở hữu trí tuệ và phát triển kinh tế
(1) SHTT và phát triển
Dùng QSHTT như một “công cụ” để phát triển quốc gia không phải là một ý
mới. Chính các nước hiện nay đã phát triển cũng đã tích cực sử dụng
công cụ này trong quá khứ. Chẳng hạn như từ năm 1790 đền 1836 thì Mỹ (lúc
ấy là nhập khẩu công nghê) chỉ cấp bằng phát minh cho cư dân Mỹ. Đến 1836
thì chính sách này mới được nới lỏng, và chỉ sau 1861 Mỹ mới cấp QSHTT cho công
dân nước khác.[15] Tương tự, một phần chiến lược "bắt kịp" nổi tiếng
của Nhật cũng là dựa vào du nhập công nghệ nước ngòai, qua một chế độ QSHTT cố
ý nâng đỡ phổ biến tri thức hơn là sáng tác. Gần đây hơn (từ 1960 đến
1980) Đài Loan và Hàn Quốc đã khá lỏng lẻo trong vấn đề bảo vệ QSHTT, phần
chính cũng là để các nhà sản xuất của họ dễ bắt chước công nghệ nước ngoài (qua
mô phỏng và "công nghệ ngược"[16]). Chỉ từ sau nửa cuối thập kỷ 1980,
vì áp lực của Mỹ, các nơi này mới mạnh mẽ bảo vệ QSHTT. Công nghiệp dược
phẩm của Ấn Độ cũng đã phát triển tương đối khá vì trong đạo luật về QSHTT năm
1970 của họ công nghê này đã được đặc biệt quan tâm.
Dù nhiều quốc gia đã có kinh nghiệm như nói trên, tác động thực tế của QSHTT
đến phát triển không phải là dễ phân tích. Một mặt, bảo vệ tài sản tri
thức sẽ khuyến khích phát minh và canh tân công nghệ như đã nói, song thắt chặc
QSHTT cũng sẽ tăng giá thành, gây thêm khó khăn cho mô phỏng, và nhiều lạm dụng
khác. Hơn nữa, trong ngắn hạn, thắt chặc QSHTT có thể gây nhiều tổn phí kinh tế
và xã hội. "Công nghiệp sao chép" có thể là công nghiệp đang dùng
nhiều lao động, đóng cửa các công nghiệp này sẽ làm tăng thất nghiệp
Khi trình độ phát triển trong nước còn thấp thì bảo hộ công nghệ sáng
chế là không có ích lợi trực tiếp, song bảo đảm nhãn hiệu, thương hiệu nước
ngoài sẽ có ích lợi gián tiếp ở chỗ nó tạo cảm tình cho các công ty nuớc ngoài
mà không hại gì cho ta. Mặt khác, QSHTT cho các công nghệ mà ta có thể mô phỏng
thì có thể lỏng lẻo hơn, tạo cơ hội cho những nhà sản xuất nội địa. Lẽ dĩ
nhiên, chúng ta cũng cần một quyền sở hữu đáng kể nhằm bảo vệ các người mô
phỏng trong nước chống sao chép.
Nghiên cứu kinh lượng (điển hình là Park và Ginarte (1997)) cho thấy một nền
kinh tế mở tăng trưởng nhanh cũng là có QSHTT ngày càng chặc chẽ[17]. Lý
do có thể là vì một nền kinh tế mở cần QSHTT để tăng chất lượng hàng hoá để
cạnh tranh. Hơn nữa, công ty trong những nền kinh tế mở sẽ ít ngần ngại
chấp nhận phí tổn chuyển giao công nghệ và thích ứng nó vào hoàn cảnh địa
phương. Đáng kể hơn nữa, QSHTT, độ mở của kinh tế, FDI, và sự tích luỹ
vốn con ngưới hầu như cộng tác với nhau để tăng năng suất và tốc độ tăng trưởng
(2) SHTT và thu nhập
Ảnh huởng đến mức độ thu nhập: Theo nghiên cứu kinh lượng học của
Maskus và nhiều người khác thì có một liên hệ rõ rệt giữa mức độ thu nhập của
một nước và cường độ QSHTT ở nước ấy. Tuy nhiên chiều liên hệ thay đổi tuỳ theo
mức độ thu nhập đang có. Ở những nước có thu nhập còn rất thấp thì hầu
như QSHTT có lỏng lẻo đi một ít thì thu nhập lại cao hơn. Ở những nước có
thu nhập trung bình thì thu nhập tăng lên thì QSHTT cũng cao hon.
Và những nước đã phát triển, có thu nhập cao nhất thì qui mô và cường độ của
QSHTT cũng là lớn nhất.
Ảnh hưởng đến chênh lệch thu nhập trong nước. Ở đa số các quốc gia
đang phát triển, những người có thu nhập thấp chỉ có thể sữ dụng những loại
hàng hoá tân thời (chẳng hạn như phần mềm máy vi tính) bằng cách sao chép
"lậu".. Vì thế, thắt chặc QSHTT (nhất là trên thực tế thi hành)
sẽ giúp duy trì, hay có khi mở rộng thêm sự chênh lệch nghèo giàu.
IV. Kết luận
Xin có vài kết luận như sau:
(1) QSHTT có căn bản là kinh tế, không phải chỉ là một thứ luật
pháp. Phải tiếp cận nó theo tư duy kinh tế, tức là ý thức đến sự đánh đổi
giữa những mục tiêu đặt ra. Ðiều oái oăm là QSHTT ngày càng khó bảo vệ (công
nghệ sao chép ngày càng cao, tổn phí bắt chước ngày càng hạ) thì các nước phát
triển lại càng áp lực các nước kém phát triển bảo vệ QSHTT
(2) Như vậy, một chính sách về QSHTT phải (a) cân nhắc nên cho QSHTT
vào công nghiệp nào, nên bảo vệ luật về QSHTT khắc khe đến mức nào … (b) được
xem như một bộ phận của toàn bộ chính sách kinh tế, đặc biệt là gắn liền với
chính sách thương mại và đầu tư nước ngoài.
(3) Đối với một nước nghèo, mở cửa, cần phát triển như nước ta, QSHTT có
liên hệ đến nhiều lãnh vực rất khác nhau, và có nhiều mục đích rất khác nhau.
Ðặc biệt, trong các thương thảo quốc tế, QSHTT có thể được dùng như một lá bài
để đòi hỏi những nhượng bộ từ nước khác, cũng như để tránh các nước khác trả
đũa về hàng xuất khẩu của ta.
(4) Trong ngắn và trung hạn, phải để ý đến ảnh hưởng của TRIPS[18] ở chỗ nó
sẽ phân phối thu nhập từ những nước đang phát triển sang những nước đã phát
triển.
(5) Ðối với câu hỏi: một nước kém phát triển như Việt Nam thì chặc
chẽ hoá QSHTT có sẽ đóng góp nhiều cho tăng trưởng hay không, thì câu trả lời
vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, có một sự đồng thuận trong giới kinh tế rằng
sự đóng góp ấy cần có những điều kiện hỗ trợ. Quan trọng nhất là: (a) vốn
con người phải khá phát triển (b) thị trường đầu vào phải mềm dẽo, (c) cơ cấu
công nghệ hạ tầng phải đủ tốt, (d) nền kinh tế phải mở, (e) có chính sách bảo
dưỡng cạnh tranh.
(6) Trong một thế giới đầy dẫy chênh lệch giàu nghèo giữa các quốc gia, và
trong mỗi quốc gia, QSHTT không thể không phản ảnh nhu cầu san bằng (trong
chừng mực nên có) những chênh lệch bất công đó. Nói cách khác, nó không
thể chỉ là để phục vụ quyền lơi người sản xuất hay người phát mình.
(7) Trong chừng mực mà ta dựa vào chế độ QSHTT để khuyến khích người n��ớc
ngoài nghiên cứu và phát triển công nghiệp thích hợp cho Việt Nam, cũng không
nên quên rằng những nước có hoàn cảnh tương tự như ta cũng sẽ thụ hưởng thành
quả của những phát minh ấy. Do đó, ta phải nhất quán với họ, kêu gọi đóng
góp của họ, vào những luật lệ về QSHTT của ta.
Tham khảo:
Alford, William P, 1995, "Tasselled Loafers for Barefoot Lawyers:
Transformation and Tension in the World of Chinese Legal Workers," 141 China
Quarterly 23.
Alford, William P. 1995, To Steal a Book is an Elegant Offense:
Intellectual Property Law in Chinese Civilization, Stanford University
Press.
Clement, Douglas, 2003, "Creation
Myths: Does innovation require intellectual property rights?" Reason,
March.
David, Paul A., 1993, “Intellectual Property Institutions and the Panda’s
Thumb,” trong Global Dimensions of Intellectual Propert Rights in Science
and Technology, chủ biên M. B. Wallerstein, M. E. Mogee, và R. A.
Schoen. Washington: National Academy
Press.
Economist, 2001, Special Report: Patents and the Poor, June 23-29,
pp. 21-23, 40-42.
Maskus, Keith E., 2000, Intellectual Property Rights in the Global
Economy, Washington D.C.: Institute for International Economics
Mazzoleni, Roberto, và Richard R. Nelson, 1998, “Economic
Theories about the Benefits and Costs of Patents,” Journal of Economic
Issues 32, 1031-52.
Park, Walter C. và Carlos Ginarte (1997), “Intellectual Property Rights and
Economic Growth,” Comtemprary Economic Policy 15, 51-61.
Pollard, Stephen, 2002, "If it were not for copyright protection, India’s
innovative software industry would not even exist," Independent,
September 17.
Rapp, Richard T., và Richard P. Rozak, 1990, “Benefits and Costs of
Intellectual Property Protection in Developing Countries,” Journal of World
Trade Law 24, 75-102.
Smith, Pamela J., 1999, “Are Weak Patent Rights a Barrier to US Exports?,” Journal
of International Economics 48, 151-77
Chú Thích:
[1]Department of Economics, Wright
State University,
Mỹ. Email: tran.dung@wright.edu.
[2]Bằng sáng chế (patents), bản quyền (copyright), thương hiệu (trademarks),
bí mật kinh doanh (trade secret)
[3]Tranh luận về sở hữu trí tuệ không phải là mới . Ngay từ giữa thế kỷ 19
(1850-1875), ở Âu Châu đã có một tranh luận kịch liệt giữa những người cho là
SHTT sẽ cản trở thương mại và những người (như John Stuart Mill) cho rằng cần
có QSHTT để khuyến khích phát minh.
[4]Tháng 9/2002, tại Geneva
(Thụy Sĩ) có hội nghị lớn của "TRIPS Council" của WTO, nhằm đi đến
một hiệp ước quốc tế về sở hữu trí tuệ.
[5]Phần lớn, nhưng không phải là tất cả. QSHTT cũng có ích cho người
tiêu dùng: giảm đi số hàng nháy, hàng giả, v..v..
[6] CD, video, phần mềm
[7] Máy móc, công thức hoá học, dược phẩm, mẫu mã trang trí
[8] Nhờ tiến bộ trong công nghệ thông tin, internet, công thuật ngược
(reverse engineering)
[9] Xem Alford (1995) về quan niệm của văn minh xưa Trung Quốc về vấn đề
này.
[10]Vì SHTT có nhiều loại (bản quyền, nhản hiệu, bằng sáng chế, bí mật kinh
doanh) với những đặc tính khác nhau, bài này sẽ chú trọng đặc biệt đến bằng
sáng chế.
[11]Nhưng đôc quyền nhiều khi cũng tốt (khi nó giúp phát triển hiệu ứng qui
mô). Hơn nữa, những cái hại của độc quyền có thể đuợc kìm hãm bằng những
biện pháp khác (và ít có công nghiệp nào là thuần tuý độc quyền như trong các
mô hình kinh điển
[12]Một vài vấn đề khác: (1) Hiệu ứng của chế độ bằng phát minh là ở giả dụ
rằng người phát minh (hoặc cơ sở nghiên cứu) là tư nhân. Những hiệu ứng
này sẽ khác trong những quốc gia mà những đơn vị này là nhỏ, yếu (2) Lý do của
bản quyền không khác gì mấy lý do của bằng sáng chế tuy rằng trong trường hợp
bản quyền, ý muốn ban thưởng nhiều hơn là nhằm khuyến khích
ngườii sáng tác. Khác với bằng sáng chế, bản quyền không đòi hỏi đăng ký
hoăc thủ tục giấy tờ (dù điều này không phải luôn là như thế), do đó khi một
quốc gia có luật bản quyền thì ảnh hưởng của nó sẽ sâu rông hơn luật về bằng
phát minh
[13]Gần đây, Thái Lan đã thu hút nhiều FDI từ Nhật Bản với chiêu bài: FDI ở
Thái Lan không bị mất QSHTT, khác với Trung Quốc.
[14]Sự xích lại gần nhau do tiến trình đồng bộ hoá QSHTT (ngoài mức tăng
QSHTT tuyệt đối) sẽ có lợi cho các công ty nhiều năng động sáng tạo.
Giảm sự chênh lệch QSHTT tương đối thì sẽ làm vơi gánh nặng trên các
công ty vì họ sẽ không tốn nhiều nguồn lực theo dõi QSHTT của từng nước.
Do đó các công ty sẽ có thể dồn nỗ lực nghiên cứu và phát triển (R&D) vào
những khu vực mà mức thu hoạch toàn cầu là cao nhất. Tăng mức
QSHTT tuyệt đối thì sẽ tăng “hiệu ứng qui mô” (scale effects) của mọi
hoạt động liên hệ đến QSHTT.
[15]Về vấn đề bản quyền cũng thế: Mỹ đã rất lâu không cho các tác giả ngoại
quốc bản quyền. Cho đến khi bị Anh trả đũa, không cho tác giả Mỹ tác
quyền, thì Mỹ mới chịu cấp bản quyền cho dân nước khác.
[16]"Reverse engineering": tách tháo máy móc thiết bị, hoặc phân
tích các hoá phẩm, để học hỏi bí quyết công nghệ, công thức chế biến.
[17] Nếu nền kinh tế là đóng thì liên hệ này không rõ ràng.
[18] "Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property
Rights": Thoả Thuận về Những Phương Diện của Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Liên Hệ
đến Thương Mại.
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU KINH TẾ - TRẦN HỮU DŨNG (1)
Trích dẫn từ: http://viet-studies.info/THDung/SHTT.htm