So sánh luật Việt nam với công ước Vienne 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa thương mại quốc tế (CISG)
Trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, các hoạt động thương mại phải tuân theo Luật Thương Mại và pháp luật có liên quan (Khoản 1 Điều 1 và Khoản 1 Điều 4 Luật Thương Mại). Tuy nhiên, các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại).
1. Luật áp dụng cho hợp đồng
Trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, các hoạt động thương mại phải
tuân theo Luật Thương Mại và pháp luật có liên quan (Khoản 1 Điều 1 và Khoản 1
Điều 4 Luật Thương Mại). Tuy nhiên, các bên trong giao dịch thương mại có yếu
tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại
quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại).
Ngoài ra, đối với các hoạt động thương mại không
được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định
của Bộ Luật Dân Sự (BLDS) (Khoản 3 Điều 4 Luật Thương Mại) vì về mặt nguyên
tắc, BLDS được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài,[1]
trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định khác (Khoản 3 Điều 2 BLDS).
2. Hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự giao kết
một giao dịch dân sự. Luật Thương Mại không có quy định về các điều kiện để hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu lực, nên chúng ta có thể dẫn chiếu các
quy định trong BLDS, theo đó, giao dịch dân sự (hay hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế) có hiệu lực khi có đủ một số điều kiện.[2]
Về cơ bản CISG không điều chỉnh những nội
dung này.[3]
3. Giao kết hợp đồng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam
đối với hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói
riêng, việc giao kết hợp đồng được thực hiện theo nguyên tắc “Đề Nghị – Chấp
Nhận” (Offer – Acceptance). Cụ thể, hợp đồng được giao kết vào thời điểm Bên Đề
Nghị nhận được trả lời Chấp Nhận giao kết của Bên Được Đề Nghị hoặc Bên Được Đề
Nghị im lặng (nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết),[4]
nội dung cụ thể như sau:
- Đề
Nghị giao kết hợp đồng:[5]
Đề nghị giao kết có hiệu lực (i) theo
ấn định của Bên Đề Nghị hoặc (ii) khi Bên Được Đề Nghị nhận được đề nghị đó.[6]
Bên Được Đề Nghị được xem là nhận được đề nghị khi (i) Đề Nghị được chuyển đến
trụ sở của bên nhận đề nghị, (ii) Đề Nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính
thức của Bên Được Đề Nghị hoặc (iii) Bên Được Đề Nghị biết được đề nghị giao kết
hợp đồng thông qua các phương thức khác.[7]
Đề Nghị giao kết có thể được rút lại hoặc
thay đổi nếu (i) việc thay đổi hoặc rút lại Đề Nghị được thông báo trước hoặc
vào thời điểm nhận được Đề Nghị của Bên Được Đề Nghị hoặc (ii) đáp
ứng điều kiện của việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị nếu có quy định các điều
kiện này trong Đề Nghị.[8]
Đề Nghị giao kết chỉ có thể được hủy bỏ nếu (i) trong Đề Nghị có quy
định quyền của Bên Đề Nghị có thể hủy bỏ và (ii) Bên Được
Đề Nghị nhận được thông báo hủy bỏ trước khi trả lời Chấp Nhận đề nghị giao
kết.[9]
Đề Nghị giao kết được chấm dứt khi (i)
Bên Được Đề Nghị không chấp nhận, (ii) hết thời hạn trả lời chấp nhận mà chưa
nhận được Chấp Nhận của Bên Được Đề Nghị, (iii) thông báo thay đổi hoặc rút lại
Đề Nghị có hiệu lực, (iv) thông báo hủy bỏ Đề Nghị có hiệu lực hoặc (v) các bên
có thỏa thuận khác. Ngoài ra Đề Nghị có thể được sửa đổi theo đề xuất của Bên
Được Đề Nghị (counter-offer). Trong trường hợp này, Bên Được Đề Nghị xem như đã
đưa ra một Đề Nghị mới.[10]
- Chấp
Nhận giao kết hợp đồng:[11]
Chấp Nhận chỉ có hiệu lực khi được thực
hiện trong thời hạn chờ trả lời chấp nhận đã được Bên Đề Nghị ấn định trong Đề
Nghị. Quá thời hạn trên, nếu Bên Đề Nghị nhận được Chấp Nhận của Bên Được Đề
Nghị, Chấp Nhận này sẽ được xem là Đề Nghị mới của Bên Được Đề Nghị đối với Bên
Đề Nghị.[12]
Trong trường hợp giao tiếp trực tiếp (kể cả điện thoại hoặc các phương tiện
khác), Bên Được Đề Nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hay không chấp nhận, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác (Khoản 2 Điều 397 BLDS 2005). Chấp Nhận có
thể được rút lại nếu đến trước hoặc vào cùng thời điểm Bên Đề Nghị
nhận được Chấp Nhận này.[13]
Đối chiếu với các quy đinh liên quan của CISG, có
thể nói, ngoại trừ một số chi tiết cụ thể, hầu hết các quy định của
pháp luật Việt Nam liên quan đến giao kết hợp đồng đều tương thích với những
nguyên tắc cơ bản của Công ước Viên 1980. Chỉ có một số khác biệt nhỏ,
thể hiện ở những quy định chi tiết hơn của Công ước.
Ví dụ, CISG quy định cụ thể về điều khoản chủ
yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa (gồm tên hàng, số lượng, giá cả), còn pháp
luật về mua bán hàng hóa của Việt Nam hiện nay không có quy định hợp đồng mua
bán hang hóa phải có những điều khoản chủ yếu nào. Ngoài ra, CISG còn quy định
rất rõ tại điều 19.3 về nội dung của chấp nhận chào hàng, qua đó có thể xác
định được những sửa đổi bổ sung nào của chấp nhận chào hàng là cơ bản khiến cho
chấp nhận chào hàng đó trở thành một chào hàng mới. Bộ luật dân sự Việt Nam
năm 2005 không có quy định cụ thể như vậy. Ngoài ra, do yêu cầu của thực tiễn
thương mại quốc tế, CISG còn đưa ra quy định về việc kéo dài thời hạn hiệu lực
của chào hàng khi ngày cuối cùng của chào hàng lại rơi vào ngày nghỉ hay ngày
lễ, trong khi luật Việt Nam không quy định gì về vấn đề này.
4. Hình thức của hợp đồng
Theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hoá được
thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể
(Khoản 1 Điều 24 Luật Thương Mại 2005). Riêng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, Luật Thương Mại 2005 chỉ công nhận theo hình thức văn
bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.[14]
Theo BLDS 2005, hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời
nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ một số loại hợp
đồng có yêu cầu riêng.[15]
CISG công nhận nguyên tắc tự do về hình thức hợp
đồng, nghĩa là một hợp đồng mua bán hàng hóa không nhất thiết phải bằng văn bản
mà có thể được thành lập bằng lời nói, bằng hành vi và có thể được chứng minh
bằng mọi cách, kể cả bằng nhân chứng (Điều 11 CISG). Đây là một điểm khác biệt
cơ bản giữa CISG và pháp luật Việt Nam về hình thức của hợp đồng. Tuy
nhiên, sự khác biệt này không cản trở việc Việt Nam
tham gia CISG vì Việt Nam
có quyền bảo lưu sự khác biệt này theo điều 96 của CISG (như đã trình bày ở
trên).
5. Quyền và nghĩa vụ của các bên
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua
bán được quy định chủ yếu tại các Điều từ Điều 34 đến Điều 62 Luật Thương mại
2005. Phân tích các quy định này cho thấy chúng có nội dung gần tương tự với
quy định trong các điều khoản tương ứng của CISG. Lý do của điều này một phần
được cho là do trong quá trình soạn thảo, các nhà làm luật Việt Nam đã tham
khảo CISG trong quá trình soạn thảo Luật này.
Điểm khác biệt đáng kể nhất được tìm thấy là
trong quy định về thời hạn khiếu nại về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.
Theo Luật Thương mại Việt Nam,
thời hạn này nhiều nhất là 6 tháng kể từ ngày giao hàng và đây là thời hạn phù
hợp với các hợp đồng nội địa. CISG quy định thời hạn này tối đa có thể là 2 năm
kể từ ngày giao hàng. Sự khác biệt này giữa Luật Thương mại và CISG là hoàn
toàn có thể lý giải được do Luật Thương mại được soạn thảo để áp dụng cho hợp
đồng trong nước, còn CISG được áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế (được suy
đoán là thường phức tạp hơn về kỹ thuật cũng như về các quy định pháp lý tương
ứng).
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Về các chế tài do vi phạm hợp đồng, pháp luật
Việt Nam
và CISG đều quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt
hại và hủy hợp đồng. Công ước Viên không quy định gì về phạt vi phạm hợp đồng
do có nhiều quan điểm rất khác nhau giữa các nước Civil Law và Common Law về
chế tài này khiến cho việc hài hòa hóa là không thể thực hiện được.
Chế tài hủy hợp đồng chỉ được áp dụng
khi một bên vi phạm cơ bản hợp đồng. Điều 25 của Công ước và điều 3 khoản 13
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đưa ra những định nghĩa không hoàn toàn giống
nhau, nhưng đều thống nhất ở một điểm: vi phạm cơ bản là vi phạm gây ra thiệt
hại nghiêm trọng cho bên bị vi phạm, làm cho bên này không đạt được mục đích
khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra, CISG còn quy định một trường hợp được hủy hợp
đồng, đó là khi bên vi phạm không không thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn đã
được gia hạn thêm (điều 49 khoản 1 và 64 khoản 1). Luật Thương mại Việt Nam
năm 2005 không có quy định tương ứng.
Về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng,
CISG và Luật Thương mại Việt Nam
cho phép trái chủ lựa chọn một trong hai biện pháp: sửa chữa hay thay thế hàng
hóa. Tuy vậy, câu hỏi đặt ra là căn cứ vào đâu để lựa chọn sửa chữa hay thay
thế hàng hóa. Luật Thương mại Việt Nam 2005 không có quy định gì về vấn đề này,
trong khi đó, CISG lại nêu rõ, trái chủ chỉ được áp dụng biện pháp thay thế
hàng hóa khi vi phạm của thụ trái cấu thành vi phạm cơ bản, còn trong các
trường hợp khác chỉ trái chủ chỉ được áp dụng biện pháp sửa chữa hàng hóa, loại
trừ khuyết tật của hàng hóa[16].
Về bồi thường thiệt hại, luật Việt Nam và
CISG đều quy định các thiệt hại được bồi thường bao gồm tổn thất và khoản lợi
bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Về tính
chất của thiệt hại được bồi thường, CISG nhấn mạnh đến tính có thể dự đoán
trước của thiệt hại đối với bên vi phạm, còn pháp luật Việt Nam lại nhấn mạnh
tính « trực tiếp » và « thực tế » (điều 302 Luật Thương mại
năm 2005). Nguyên tắc hạn chế tổn thất đều được ghi nhận tại CISG và Luật
Thương mại Việt Nam
năm 2005.
Về các trường hợp miễn trách, CISG và
pháp luật Việt Nam
có cách tiếp cận tương tự khi quy định trường hợp bất khả kháng và trường hợp
lỗi của bên bị vi phạm. Ngoải ra, CISG còn quy định cụ thể về việc miễn trách
khi do lỗi của bên thứ ba (điều 79) trong khi pháp luật Việt Nam chưa có quy
định cụ thể về vấn đề này.
Ngoài ra, CISG còn có khá nhiều quy định
chi tiết về biện pháp giảm giá hàng (điều 50), về cách áp dụng chế tài khi hợp
đồng giao hàng từng phần (điều 71), về việc hủy hợp đồng ngay cả khi chưa đến
thời hạn thực hiện nghĩa vụ (điều 72), về cách tính tiền bồi thường thiệt hại
một cách cụ thể khi hợp đồng bị hủy (điều 75 và 76), về bảo quản hàng hóa đang
tranh chấp (từ điều 85-điều 88).
Tóm lại, liên quan đến các chế tài do vi phạm hợp
đồng mà CISG và pháp luật Việt Nam
cùng quy định, CISG có các quy định đầy đủ và cụ thể hơn so với pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh đó, có vấn đề luật Việt Nam có quy định nhưng CISG lại
không quy định (như chế tài phạt) và ngược lại. Một số điểm khác biệt khác cũng
cần được lưu ý, như quy định về việc thay thế hàng hóa không phù hợp.
Tuy vậy, cần khẳng định là những sự khác biệt này
không tạo nên mâu thuẫn đối kháng giữa CISG và pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa (bởi hai hệ
thống này bổ sung cho nhau, mỗi hệ thống được áp dụng cho một loại hợp đồng
riêng).
Nguồn: “Nghiên cứu của VCCI về việc VN tham
gia Công Ước Viên 1980″
---
[1]
Quan hệ dân sự được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm quan hệ dân sự, quan hệ hôn
nhân-gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (Điều 1 BLDS 2005).
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ
dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các
bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc
tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài (Điều 758 BLDS 2005)
[2]
Theo Khoản 1 Điều 22 và Khoản 1 Điều 429 BLDS 2005 Theo Khoản 2 Điều 25 của
Luật Thương Mại, các điều kiện này bao gồm: (1) Chủ thể có năng lực hành vi dân
sự; (2) Đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch (không
thuộc hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh
có điều kiện); (3) Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội; và (4) Chủ thể tham gia hoàn toàn tự
nguyện.
[3]
Điều 4 của CISG quy định: trừ khi có quy định cụ thể, Công ước không điều chỉnh
tính hiệu lực của hợp đồng hay các điều khoản của nó; hiệu lực của hợp đồng đối
với việc sở hữu hàng hóa đã bán.
[4]
Khoản 1 và 2 Điều 404 BLDS 2005. Điều này phù hợp với điều 15 của CISG. Riêng
về vấn đề im lặng, Công ước quy định rõ tại Điều 18.1: im lặng hoặc không có
hành động không được hiểu là Chấp Nhận.
[5]
Theo Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005, Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện ý
định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về Đề Nghị này của Bên Đề Nghị đối
với Bên Được Đề Nghị đã được xác định cụ thể.
[6]
Khoản 1 Điều 391 BLDS 2005. Theo Điều 15.1 CISG, Đề nghị giao kết chỉ có hiệu
lực khi Bên Được Đề Nghị nhận được đề nghị đó.
[7]
Khoản 2 Điều 391 BLDS 2005.
[8]
Khoản 1 Điều 392 BLDS 2005. Nếu Bên Đề Nghị giao kết hợp đồng với bên thứ ba
trong thời hạn chờ trả lời chấp thuận của Bên Được Đề Nghị (nếu trong đề nghị
có nêu rõ thời hạn trả lời), Bên Đề Nghị phải bổi thường thiệt hại cho Bên Được
Đề Nghị nếu có thiệt hại phát sinh (Khoản 2 Điều 390 BLDS 2005).
[9]
Điều 393 BLDS 2005. Quy định này trên thực tế chặt chẽ hơn so với CISG, theo
Điều 15.2 của CISG Đề nghị giao kết có thể được hủy bỏ ngay cả khi trong Đề Nghị
không quy định quyền hủy bỏ của Bên Đề Nghị.
[10]
Điều 394 và 395 BLDS 2005.
[11]
Điều 396 BLDS 2005 quy định: Chấp Nhận giao kết hợp đồng là sự đồng ý của Bên
Được Đề Nghị đối với Bên Đề Nghị đối với toàn bộ nội dung của Đề Nghị (). Như
vậy, nếu Bên Được Đề Nghị chỉ chấp nhận một phần nội dung của Đề Nghị và đề
xuất sửa đổi hoặc đưa ra điều kiện đối với Bên Đề Nghị, theo Điều 395 BLDS
2005, Bên Được Đề Nghị đã đưa ra một Đề Nghị mới.
[12]
Tuy nhiên Chấp Nhận vẫn có hiệu lực nếu đến chậm vì lý do khách quan với điều
kiện Bên Đề Nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này trừ trường hợp Bên
Đề Nghị trả lời ngay không đồng ý với Chấp Nhận đó (Khoản 1 Điều 397
BLDS 2005).
[13]
Điều 400 BLDS 2005. Điều này hoàn toàn tương thích với Điều 15.2 của CISG.
[14]
Khoản 2 Điều 27 Luật Thương Mại.
[15]
Khoản 1 Điều 401 BLDS 2005. Điều 11 của CISG cũng quy định tương tự, tức là một
hợp đồng mua bán hàng hóa không nhất thiết phải ký bằng văn bản và không có yêu
cầu nào về hình thức.
[16]
Điều 46 và điều 62- CISG
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Website : http://www.sunlaw.com.vn http://www.lawdata.com.vn
Email: contact@sunlaw.com.vn
--------------------------------------------------------------------------------