Suy nghĩ bước đầu về đặc trưng và vai trò của đạo đức tôn giáo
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Cơ chế kinh tế mới đã thực sự kích thích tính năng động, sáng tạo và khơi dậy tiềm năng của con người. Những thành tựu về nhiều mặt, nhất là sự phát triển kinh tế trong những năm qua là một minh chứng đầy sức thuyết phục về tính hiệu quả của cơ chế mới.
Tuy nhiên, trong xã hội đã nảy sinh, đang tồn tại và có xu hướng phát triển
những hiện tượng suy thoái về đạo đức và nhân cách con người. Hiện tượng
suy thoái đạo đức không chỉ diễn ra trên bình diện xã hội mà cả trong tổ chức
đảng và cơ quan công quyền. Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: "Một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả
về phẩm chất và năng lực… Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo
đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn,
đẩy lùi…"(1) . Đó là nguy cơ lớn đối với sự sống còn của Đảng và chế độ
ta.
Làm sao để ngăn chặn một cách hiệu quả sự suy thoái đạo đức đang có xu hướng
gia tăng hiện nay? Điều này cần có sự nỗ lực của nhiều người, nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực; trong đó không thể bỏ qua vai trò của đạo đức tôn giáo. Đảng ta
cũng thừa nhận rằng, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp trong công cuộc xây
dựng xã hội mới.
Đạo đức tôn giáo luôn gắn với đạo đức xã hội và chịu ảnh hưởng của đạo đức
xã hội. Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo lại có tính đặc thù. Điều này biểu hiện ở
chỗ:
Một là, tôn giáo phản ánh khát vọng về hạnh phúc của con người.
Trong lịch sử nhân loại đã từng tồn tại những quan niệm khác nhau về hạnh
phúc. Người vô thần quan niệm hạnh phúc khác người hữu thần; người lao động
quan niệm hạnh phúc khác giai cấp bóc lột; kẻ đi xâm lược quan niệm hạnh phúc
khác với người nô lệ; người già quan niệm hạnh phúc khác với người trẻ… Mỗi cá
thể, mỗi cộng đồng người ở từng quốc gia, dân tộc cũng có quan niệm khác nhau
về hạnh phúc.
Hạnh phúc là một trong những phạm trù cơ bản của đạo đức học, là mối quan
tâm lớn, là mục đích của con người. Nó bắt nguồn và tồn tại trong cuộc sống
hiện thực như những cảm nhận, phân tích, đánh giá có tác dụng mạnh mẽ đến ý
nghĩa, hành vi, quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với xã
hội(2), đồng thời hạnh phúc gắn liền với tự do. Đạo đức xã hội xã hội chủ nghĩa
là phải kiến tạo được môi trường, trong đó mọi người sống hạnh phúc và tự do.
Tự do của mỗi người không hạn chế hoặc thủ tiêu tự do của người khác; ngược lại,
tự do của mỗi người tạo điều kiện phát triển tự do của mọi người, một xã hội
thực sự mình vì mọi người và mọi người vì mình. Lịch sử quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong những thập niên qua ngày càng cho thấy tính phức
tạp, lâu dài của việc kiến tạo hạnh phúc ở cuộc sống trần thế.
Trên thực tế, chẳng ai có thể đạt được hạnh phúc tuyệt đỉnh như mơ ước của
tín đồ Kitô giáo và Phật giáo về xã hội ở Thiên đường hoặc cõi Niết bàn xa xôi
nào đấy.
Khi bàn về hạnh phúc, các nhà thần học Công giáo chia mức độ hạnh phúc làm
hai loại: hạnh phúc tương đối là cảm giác của con người về việc thỏa mãn
nhu cầu cụ thể ở cuộc sống trần gian; còn hạnh phúc tuyệt đối là hạnh
phúc tuyệt hảo, hoàn thiện, tột đỉnh, vĩnh hằng. Hạnh phúc tuyệt đối chỉ có ở
Thiên đường, ở nước Chúa ngàn năm. "Nước Đức Chúa Trời" được mô tả là
nơi yên lành, vô lo, chẳng có cướp bóc và nô lệ, chẳng có khổ đau, bệnh
tật và chết chóc; nghĩa là ở "nơi ấy", con người được mãn nguyện và
hạnh phúc hoàn toàn trong việc hưởng thụ trọn vẹn tình thương yêu của
Chúa.
Phật giáo quan niệm khi con người được giải thoát và đạt sự giác ngộ cao sẽ
tới Niết bàn – nơi hạnh phúc siêu việt, đồng thời khuyên tín đồ lấy "một
đời sống đạo đức là một đời sống hạnh phúc"(3). Phật giáo quan niệm hạnh
phúc trước hết là đoạn tuyệt với "tham, sân, si" để an tâm, thư thái,
để yên tĩnh về tâm hồn và sau khi chết, con người được hưởng hạnh phúc tuyệt
đối ở cõi Tây phương cực lạc.
Phật giáo Đại thừa có nói về một số Tịnh thổ nổi tiếng, như Tịnh thổ Di Lặc,
Tịnh thổ Linh Sơn, Tịnh thổ Như lai, Tịnh thổ A Di Đà Phật… Thế giới Tây phương
cực lạc là Tịnh thổ A Di Đà Phật. Trong thế giới cực lạc ấy, đâu đâu người ta
cũng thấy Phật và Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Mọi thứ đều quý giá và thanh cao. Mọi
người ở đấy đều có trí tuệ cao siêu, dung mạo đoan trang, thái độ cởi mở, chỉ
có vui vẻ mà không bao giờ có khổ đau, phiền não, bất công và hận thù.
Dù được mô tả có đôi chút khác nhau, song, Thiên đường của Công giáo hay
Niết bàn của Phật giáo vẫn có điểm chung, đó là "một thế giới hoàn mỹ”,
nơi đạt đến tuyệt đỉnh của niềm ước mơ, khát vọng về hạnh phúc của con người.
Tuy tôn giáo chỉ là "hạnh phúc hư ảo của nhân dân", nhưng không ít
người vẫn cảm thấy "hạnh phúc" khi chưa có hạnh phúc thực sự; tuy tôn
giáo là "mặt trời ảo tưởng", là “trái tim của thế giới không có trái
tim”, nhưng chừng nào mà khát vọng nơi trần tục không được thỏa mãn thì dường
như nó vẫn là một động lực kích thích con người vươn tới. Thực ra, Thiên đường,
Niết bàn mang nặng ý nghĩa nhân sinh, thể hiện khát vọng của con người vươn tới
hạnh phúc vĩnh hằng. Vì thế, đó vẫn là nhu cầu tinh thần của đồng bào có tôn
giáo. Chính sự nỗ lực không ngừng phấn đấu để đến với cái "xã hội lý
tưởng” ấy đã góp phần không nhỏ cho con người trút bỏ tội lỗi, giã từ cái ác để
vươn tới cái thiện.
Hai là, tôn giáo hướng con người tới hành vi làm thiện, tránh ác.
Thiện, ác là hai phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại và trở
thành phạm trù phổ biến trong đạo đức của mọi thời kỳ lịch sử. Thiện, ác là cặp
phạm trù đối lập, đồng thời cũng là hai phạm trù cơ bản có quan hệ chặt chẽ
trong đạo đức xã hội và đạo đức tôn giáo. Tuy nhiên, thiện, ác trong tôn giáo
có điểm tương đồng, nhưng cũng có sự khác biệt với thiện, ác thế tục ở mức độ
nhất định. Cùng là vấn đề thiện, ác, nhưng trong tôn giáo, chúng được đề cao,
cường điệu và thiêng hóa bằng giáo lý, giáo luật, tín điều để mọi người tuân
thủ một cách nghiệm ngặt dưới sức mạnh của thần quyền.
Trong đạo đức tôn giáo và đạo đức xã hội thì thiện, ác vẫn là hai phạm trù
trung tâm và trọng yếu nhất. Nhưng, vấn đề thiện, ác trong đạo đức tôn giáo
được gắn chặt với hậu quả của hành vi hành xử của tín đồ và do có sự thưởng
phạt "nghiêm minh" bởi các đấng siêu nhiên, nên tính giáo dục và khả
năng răn đe của nó đạt hiệu quả rất cao.
Nhiều học thuyết cho rằng, con người vốn mang tính thiện, cái ác thật sự chỉ
xuất hiện cùng với sự hình thành các cộng đồng
người và phát triển trong xã hội có sự phân hóa giai cấp, khi mà trong xã hội
tồn tại những lợi ích đối lập nhau. Cho đến nay, thiện và ác vẫn song hành như
hai mặt ở trong từng con người. Tuy nhiên, từ dân tộc nọ đến dân tộc kia, từ
thời kỳ này sang thời kỳ khác, những quan niệm về thiện, ác đã biến đổi rất
nhiều thậm chí đến mức trái ngược nhau.
Theo quan niệm của Khổng giáo, bản tính con người là có tính thiện:
"nhân chi sơ tính bản thiện". Thần học của Kitô giáo quan niệm, con
người toàn thiện không phải do tu tập, mà là "sánh bước cùng Thiên
Chúa". Đạo Công giáo cho Chúa là cái thiện toàn năng, tức Chúa là mẫu hình
lý tưởng, là nguồn gốc của cái thiện. Từ quan niệm về cái thiện, Kinh thánh đề
cập đến nhân đức, đó là hành vi và biểu hiện cụ thể của cái thiện. Khi cái
thiện nhường chỗ cho cái ác, là lúc con người không còn chế ngự được dục vọng,
không làm chủ được mình tất sẽ dẫn đến sống buông thả để cho cái ác xuất hiện,
tội lỗi hoành hành, nhân cách bị lu mờ. Cái ác vốn có nguồn gốc từ quỷ dữ là kẻ
thù của cái thiện, cũng là địch thủ của Thiên Chúa và mọi tín đồ. Cái ác xuất
hiện trên trần thế là sự kết hợp giữa quỷ dữ và tật xấu của con người. Kinh
thánh cho rằng, con người có các tật xấu cơ bản, đó là: kiêu ngạo, dâm ô, hờn
giận, ăn uống quá độ, ghen ghét, lười biếng… Công giáo răn dạy tín đồ làm lành,
tránh ác là noi gương Chúa. Sự ban thưởng và trừng phạt đối với ai làm thiện
hoặc mắc ác: "Ai làm việc thiện sẽ sống lại để được sống. Còn ai làm điều
ác sẽ sống lại để nhận án phạt" có tác dụng lớn đối với việc giáo
dục tính hướng thiện ở con người. Thiên đường của Kitô giáo, Hồi giáo và Niết
bàn của Phật giáo cũng như Địa ngục có tác dụng khuyến thiện, trừ ác đối với
các tín đồ.
Phật giáo rất chú ý giáo hóa chúng sinh bằng "Ngũ giới",
"Thập thiện". Đó chính là nhằm gạt bỏ điều ác, khuyến khích làm điều
thiện. Phật giáo quan niệm "thiện" không chỉ là chuẩn mực đạo đức cần
có, mà còn là phương tiện để giải thoát.
Trái ngược với Thiên đường và Niết bàn là Địa ngục mà các tôn giáo đều nói
đến. Đạo Kitô coi Địa ngục là nơi ở của những người chết mà trước đó không tin
đạo và phạm nhiều tội ác. Đạo Phật coi Địa ngục là cõi khổ, là nơi đày đoạ các
chúng sinh khi sống có nhiều tội ác. Nhưng đạo Phật coi cuộc sống ở Địa ngục không
phải là vĩnh viễn. Theo luật luân hồi, nghiệp báo, những kẻ trả hết nợ của tội
ác do mình gây nên sẽ được tái sinh ở kiếp sống khác tốt đẹp hơn, trong đó có
kiếp người. Phật giáo quan niệm rằng, Địa ngục không phải chỉ có một mà có
nhiều loại (sách Phật có ghi tới 136 loại Địa ngục). Tuỳ theo tội nặng, nhẹ mà
con người bị đầy xuống từng loại Địa ngục tương ứng với tội lỗi đã mắc theo
luật nhân quả nghiệp báo. Các tín đồ Hồi giáo cho Địa ngục là nơi ghê rợn, ở
đấy có lửa cháy đùng đùng, khói cuộn ngút ngàn. Những người bị đày xuống đó
phải đeo gông xiềng, chịu đủ mọi cực hình tra tấn.
Thiên đường – Địa ngục là hai thế giới đối lập nhau do con người tưởng tượng
nên nhằm thưởng công và ph��t tội đối với những ai làm được điều thiện hoặc mắc
tội ác. Dù là những thế giới không tưởng, nhưng không ít người đã tin vào cái
thế giới mà tôn giáo tưởng tượng ra và trên giác độ đạo đức học, thì những
"thế giới" ấy có giá trị trừ ác, hướng thiện hữu hiệu để bổ sung cho
luật pháp mà nhiều thể chế chính trị đã nhận ra.
Ba là, tôn giáo nhấn mạnh đức khoan dung, lòng vị tha và thương
người.
Sự nhẫn nhục, chịu đựng cũng là một biểu hiện của đức khoan dung trong đạo
đức tôn giáo. Khoan dung là thái độ nhân nhượng, hiếu hòa, tôn trọng với những
gì khác ta. Chính vì thế mà ở Việt Nam và Trung Quốc đã hình thành và
tồn tại cái gọi là Tam giáo (Nho – Phật – Lão). Một trong 14 điều răn của
kinh Phật đối với tín đồ là "Lễ vật lớn nhất của loài người là khoan
dung"(4).
Trong đạo đức Kitô giáo, tình yêu thương được đề cập trên bốn phương diện:
yêu Chúa, yêu thương mình, yêu thiên nhiên và yêu tha nhân. Trong đó, yêu
thương Chúa là trên hết, yêu bản thân là thứ hai và yêu tha nhân
là trọng tâm: "Hãy yêu mến Thiên Chúa trước hết, rồi đến bản thân ngươi,
sau đó sẽ yêu thương người gần mình nhất như chính bản thân mình… Bởi vì nếu
không yêu bản thân mình thì làm sao ngươi có thể yêu thương người gần mình một
cách chân thực"(5). Ngoài con người ra, Kitô giáo còn nhắc tín đồ phải yêu
thiên nhiên. Thiên nhiên cũng là tạo vật của Chúa và vì vậy, yêu Chúa không thể
không yêu tạo vật của Chúa. Tha nhân được hiểu không chỉ là những người đồng
đạo, mà còn là con người nói chung, không phân biệt chủng tộc, giai cấp, giới
tính, năng lực, trình độ, cá tính, thiện ác, thậm chí cả kẻ thù.
Cả kinh Cựu ước và Tân ước đều đề cập đến giới răn, yêu thương người khác
nhưng tính chất và mức độ lại không như nhau, thậm chí đôi chỗ còn trái ngược
nhau.
Lòng vị tha, bác ái trong các tôn giáo có nét nổi bật là ít vụ lợi, khước từ
sự trả ơn, đáp nghĩa. Đó cũng là đặc trưng của đạo đức tôn giáo. Vị tha là vì
người khác, nó đối lập với vị kỷ (tức là sống cho mình và vì mình). Tinh thần
vị tha là thương yêu người khác một cách chân thành, hết mình với thái độ vô
tư, vì động cơ đức ái, nên tình thương có tính tự giác cao. Phật dạy con người
phải sống vị tha, sống để đi tìm hạnh phúc cho người khác chứ không phải chỉ lo
hạnh phúc cho riêng mình. Từ vị tha mà đến thương người và chính thương người
mới là vị tha.
Phật giáo nêu cao triết lý sống "thương người như thể thương thân"
qua hành động “từ bi”. Điều này có tác dụng giáo dục con người hành thiện, với
biểu hiện "lá lành đùm lá rách" khi có thiện tai, bất hạnh trong cộng
đồng. Theo nhà Phật, "từ bi" là tình thương yêu không giới hạn, vô bờ
bến. Tình thương con người mà tôn giáo đề cập không phải chung chung, mà khá cụ
thể, thiết thực. Tôn giáo đòi hỏi các tín đồ của mình có hành động cụ thể, như
cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách mặc, chăm lo người ốm đau, bệnh
hoạn, chăm sóc người già nua, đối xử tốt với kẻ dưới, tha thứ kẻ tội lỗi,
khuyên can người lầm lạc, bảo ban kẻ dốt nát… luôn đặt mỗi con người trong tình
thương yêu đồng loại. Kitô giáo đòi hỏi mỗi tín đồ phải có một tình thương yêu
con người một cách chân thành, trong sáng và thiết thực: "Anh chị em đừng
thương yêu nhau bằng lời nói xuông, bằng miệng lưỡi bên ngoài, phải thương yêu
một cách chân thực và bằng việc làm"(6). Còn Phật giáo coi cứu một người
phúc đẳng hà sa và "Cứu một mạng người còn hơn xây bảy tháp phù đồ"
hay khuyên tín đồ hãy phấn đấu vì an lạc cho Chư
thiên và cho loài người.
Bốn là, tôn giáo đưa ra những chuẩn mực giá trị ràng buộc cuộc sống
gia đình
Trong xã hội, gia đình được coi là cộng đồng đầu tiên, là tế bào tạo của xã
hội loài người. Gia đình có vai trò quan trọng trong việc định hướng phẩm chất
đạo đức của con người. Khổng giáo quan niệm có "tề gia" mới cai trị
được đất nước (trị quốc), và có đủ hai tiêu chuẩn ấy mới có thể "bình
thiên hạ" được. Kitô giáo rất quan tâm tới gia đình và coi đền thờ tại gia
là nơi chuyển giao đức tin của tiền nhân, vun trồng các truyền thống tôn giáo,
dâng lời cầu nguyện chung lên Thiên Chúa và diễn tả các niềm tin tôn giáo trong
cuộc sống hàng ngày. Khổng giáo, Kitô giáo đều rất chú ý tới những chuẩn mực
đạo đức trong gia đình theo các mối quan hệ chủ yếu: quan hệ giữa cha mẹ với
con cái, giữa vợ với chồng.
Người cha được công nhận là gia trưởng, là chủ và là hiện thân của toàn gia
đình. Người cha có uy quyền trong việc giáo dục con cháu, được coi là cội nguồn
của một tông đường và là sợi dây nối kết một dòng tộc, góp phần duy trì chủng
tộc. Nếu ai chết mà không có con nối dõi, người ta coi như đã bị Thiên Chúa
phạt, còn Khổng giáo coi là tội "bất hiếu". Còn người mẹ được gọi là
"Mẹ của sự sống". Thiên Chúa đã tạo dựng nên sự sống con người, gồm
có cha và mẹ, nếu không có cha mẹ thì không có con cái và tất yếu, thiếu họ thì
không thể có con dân Thiên Chúa được. Như vậy, nếu tôn trọng Đấng tạo hoá thì
con người phải biết tôn kính cha mẹ. Thiên Chúa muốn đặt cha mẹ bên cạnh Thiên
Chúa trong việc hành xử của con, nhưng so với Thiên Chúa thì cha mẹ chỉ đứng ở
hàng thứ yếu. Điều đó không phải hạ thấp vai trò của cha mẹ, mà chỉ là để làm
nổi bật tính duy nhất vô nhị của Chúa. Điều răn thứ tư trong bảng thập giới quy
định con người: "Hãy thảo kính cha mẹ để ngày đời của các ngươi được dài
trên Đức Chúa"(7). Chính Giêsu đã nêu gương về sự tôn kính với cha mình,
mặc dù cha là người thợ mộc, còn mẹ là người phụ nữ bình dân. Thảo kính cha mẹ
còn thể hiện ở sự vâng phục. Vâng phục cha mẹ là chấp nhận trật tự, đẳng cấp
của thụ tạo. Kitô giáo còn đưa ra hình thức chế tài trong việc thực hiện giới
răn thứ tư: "Ai thảo kính cha mẹ sẽ được phần thưởng là được sống lâu và
hạnh phúc trên cõi trần thế"; ngược lại, "Ai cười nhạo cha và không
tuân phục mẹ theo bổn phận, kẻ ấy sẽ bị quạ mổ xác bên suối và chim kền kền xé
thịt".
Trong thập giới có điều 6 và điều 9 ngăn cấm các hành vi tội lỗi trong quan
hệ vợ chồng nhằm góp phần bảo vệ hôn nhân. Công đồng Vatican
2 đã ca ngợi những vợ chồng: "Dựa vào suy tính khôn ngoan với một lòng
quảng đại hào hiệp đã chấp nhận nuôi dạy tốt trong một gia đình".
Kitô giáo ca ngợi hôn nhân một vợ một chồng và hôn nhân bất khả ly: "Điều
gì Thiên Chúa đã phối hợp thì loài người không được phân ly"(8).
Đạo đức tôn giáo mang trong nó tính "thiêng", có phần "hư
ảo" nên có những điểm khác với đạo đức thế tục. Nhưng chính điều đó là đặc
trưng của đạo đức tôn giáo và đã làm cho không ít người tiếp nhận giá trị đạo
đức thế tục dễ dàng và thể hiện ở những hành vi cụ thể trong thế giới hiện tồn
hơn. Đạo đức tôn giáo đã góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ giữa con người với
con người và với tự nhiên. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa đạo đức tôn
giáo chỉ có tính tích cực mà không có tính tiêu cực và cũng không nên quên
rằng, vẫn còn hiện tượng phi đạo đức, phản văn hóa nảy sinh từ tôn giáo.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2006, tr.263 -264.
(2) Xem: Giáo trình Đạo đức học. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1993, tr. 87.
(3)
Đạo đức học Phật giáo. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1993, tr 16
(4) Kim Cương Tử. Trích lời kinh Phật.
(5) Toà Tổng Giám mục thành phố Hồ Chí Minh. Thần học luân lý chuyên biệt,
t.I, 1996, tr. 310.
(6) Hồng y Giuse Maria Trịnh Vắn Căn. Kinh Thánh trọn bộ Cựu ước và Tân
ước. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1985, tr. 2274 – 2275.
(7) (Xh 20,12)
(8) (Mt19,4-6)
SOURCE: TẠP CHÍ TRIẾT HỌC SỐ 7 (194) NĂM 2007 - PGS.
TS. NGUYỄN ĐỨC LỮ – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh