Suy nghĩ về dịch thuật
Xét về lý tưởng, sự thay đổi duy nhất mà người dịch có quyền thực hiện là ngôn ngữ, là thứ tiếng mà nguyên bản dùng để biểu đạt những ý nghĩa mà mình muốn biểu đạt, nhiệm vụ của anh ta chính là dùng một thứ tiếng khác để truyền đạt tất cả những cái gì đã được truyển đạt bằng thứ tiếng kia
Năm 2004 có mấy cuộc hội nghị về dịch thuậttâp hợp những chuyên gia có uy tín
trong ngành này, phần lớn đều lấy ba tiêu chuẩn TÍN, ĐẠT, NHÃ làm căn cứ để
thảo luận, trao đổi. Hình như phần lớn đều chỉ băn khoăn về chữ NHÃ - một nỗi
băn khoăn mà chúng tôi nghĩ là hoàn toàn chính đáng, vì chữ NHÃ hình như chỉ
thích hợp với một văn phong nhất định, và khó lòng có thể nói rằng “phàm là một
bản dịch thì nhất thiết phải có cái văn phong được gọi là “NHÔ. Nếu nguyên bản
không “nhã”, mà lại gồ ghề thô lỗ, thì bản dịch “nhã” chắc chắn là sẽ không
thực hiện được chữ “tín”, và sẽ nảy sinh một mâu thuẫn đối kháng ngay trong nội
bộ của tiêu chuẩn được đề ra.
Nhưng như thế vẫn chưa hết. Ngay cả chữ ĐẠT cũng có một nội dung rất khó hiểu,
khiến ta phải tìm xem những người lấy chữ ĐẠT làm tiêu chuẩn, họ hiểu chữ TÍN
như thế nào. Nếu bản dịch hoàn toàn trung thành với nguyên bản (TÍN), nhưng lại
rất dở, trong khi nguyên bản là một kiệt tác của văn học thế giới, thì lẽ nào
có thể nói rằng đó là một bản dịch trung thành? Người đọc bình thường chắc hẳn
phải nẩy ra cái ý nghi ngờ rằng người đặt ra tiêu chuẩn quan niệm chữ TÍN theo
cái nghĩa là“sát từng chữ”. Nhưng bất cứ người nào đã học qua một ngoại ngữ, dù
chỉ trong buổi học đầu tiên, cũng đã thấy ngay rằng dịch sát từng chữ là cách
tốt nhất để dịch sai hoàn toàn[i].
Dĩ nhiên mỗi người có thể có một hay nhiều bí quyết riêng để dịch cho đúng và
cho hay theo thẩm năng của họ... Và quan trọng hơn nữa là mỗi người có thể tự
cho mình những cái quyền riêng trong cách hiểu, đánh giá và xử lý một văn bản
mà mình chọn. Chúng tôi có biết một dịch giả nổi tiếng, có mấy mươi bản dịch
được xuất bản nhiều lần, đánh giá một nhà văn như Lev Tolstoy là “chưa biết
viết văn” và tự ban cho mình cái quyền bỏ từng đoạn dài mấy chục trang của tác
giả, đồng thời tự cho mình cái quyền không hiểu tác giả muốn nói gì trong hàng
trăm trang khác!
Trong bài này chúng tôi muốn tự bó hẹp trong phạm vi phiên dịch (translation)
hiểu theo nghĩa hẹp, gạt ra ngoài mọi công trình sáng tạo, dù vĩ đại đến đâu.
Vì vậy trước hết chúng tôi cố tìm một cách định nghĩa có cơ may được nhiều
người thừa nhận nhất. Đó là cách định nghĩa của M. Fyodorov (1950): “dịchlà
chuyển đạt một văn bản từ một ngôn ngữ này (nguồn) sang một ngôn ngữ khác
(đích) một cách trung thành trong chừng mực có thể, cả về nội dung lẫn về hình
thức.” Vậy, xét về lý tưởng, sự thay đổi duy nhất mà người dịch có quyền thực
hiện là ngôn ngữ, là thứ tiếng mà nguyên bản dùng để biểu đạt những ý nghĩa mà
mình muốn biểu đạt, và nhiệm vụ của anh ta chính là dùng một thứ tiếng khác để
truyền đạt tất cả những cái gì đã được truyển đạt bằng thứ tiếng kia.
Vậy “những cái đã được truyền đạt” mà người dịch có bổn phận truyền đạt lại một
cách trung thành ấy (chữ TÍN, và chỉ một chữ TÍN mà thôi!), là những cái gì? Và
người dịch phải có những cách thức nào, phải thực hiện những thao tác nào để
làm tròn cái bổn phận ấy? Dĩ nhiên, trả lời câu hỏi này không đơn giản chút
nào, vì ngôn ngữ là một thực thể hết sức đa diện, khó lòng có thể phân tích
thành một số khía cạnh hữu hạn. Sau đây chúng tôi chỉ mong kể ra những bình
diện cơ bản nhất của một văn bản thông thường có thể làm đối tương cho công
việc phiên dịch.
1. Thể loại
Một văn bản, dù muốn dù không, cũng phải thuộc một thể loại nhất định, và “tính
thể loại” chính là cái mà người dịch phải truyền đạt trước tiên. Tôi đã từng
đọc một chồng bản dịch chuyện cổ tích trong đó người dịch truyền đạt những
nguyên bản dài từ 2 đến 12 trang thành những thiên tiểu thuyết dài từ 200 đến
500 trang, và rất tự hào vì đã chuyển được những chuyện cổ tích sơ sài buồn tẻ
thành những pho tiểu thuyết ly kỳ hấp dẫn đầy những chi tiết tinh vi và những
đoạn đối thoại sắc sảo cho thấy một vốn hiểu biết sâu rộng về tâm lý người đời,
mà vẫn giữ được y nguyên cốt chuyện của nguyên bản. dịch giả từ biệt tôi với
một nỗi tuyệt vọng khôn xiết không phải đối với mấy ngàn trang tiểu thuyết của
mình, mà đối với sự kém cỏi của tôi, người đã không đủ sức hiểu cái giá trị
tuyệt vời của cái công trình mà ông đã bỏ ra bấy nhiêu công sức để thực hiện.
Ba mươi năm sau, khi chúng tôi gặp lại, vẫn chưa có một nhà xuất bản nào đủ
sáng suốt để công bố bộ sách của ông. Ai cũng trả lời ấp úng một câu vô nghĩa:
“Hay thì hay tuyệt, nhưng... nó thế nào ấy, không thích hợp lắm”. Tôi trộm
nghĩ: cái không thích hợp ở đây chính là tính thể loại.
2. Chuyển thể
Tôi không hề phản đối việc chuyển thể - như đưa lên sân khấu (kịch nói, kịch
thơ, tuồng, chèo, cải lương) hay màn ảnh, chuyển tiểu thuyết văn xuôi thành
trường ca có vần điệu, chuyển truyện ngắn thành ngụ ngôn, chuyển chuyện cổ tích
thành vè hay thành vũ kịch v.v., v.v. Có những tác phẩm được chuyển thể thành
công, có tác phẩm được chuyển thể không thành công bằng. Tất cả đều lệ thuộc
vào tài năng và công sức của người thực hiện việc chuyển thể. Dù sao thì nhìn
chung, qua việc chuyển thể khó lòng tránh khỏi tình trạng mất mát một cái gì đó
trong nguyên tác, tuy không phải không có những trường hợp lệ ngoại quý giá,
trong đó kết quả của chuyển thể vượt hẳn nguyên tác về giá trị nghệ thuật.
Những thí dụ về trường hợp này, có lẽ bất kỳ bạn đọc nào cũng có thể tìm ra một
cách dễ dàng. Xin nhắc lại một lần nữa là chúng tôi đang nói đến dịch thuật
hiểu theo nghĩa hẹp, cho nên không dám có tham vọng mở rộng phạm vi luận bàn sang
những ngành lân cận.
3. Phóng tác
Rất gần gũi với chuyển thể công việc phóng tác, khi một người cầm bút thấy cần
sửa đổi nguyên tác ít nhiều để cho tác phẩm thích hợp hơn với một đối tương
nhất định, thường hẹp hơn cái đối tương mà tác giả hướng tới. Thường thường đó
là đối tượng thiếu nhi. Làm việc này thường là một người lấy làm tiếc rằng một
tác phẩm hay nào đó có phần không thích hợp với một công chúng lẽ ra có thể
hiểu và thưởng thức nó nếu có ai căn cứ vào những đặc thù của lớp người mình
đang muốn phục vụ mà cải biên lại chút ít, sao cho nó khớp với công chúng của
mình. Nguyện vọng này hoàn toàn chính đáng, có thể thực hiện được và hơn nữa
cũng rất cần thiết đối với những người còn phải chờ đợi một sự trưởng thành về
trí tuệ mới có thể tiếp cận được một tác phẩm. Cũng xin nói rõ rằng công việc
này chỉ có thể làm được với những tác phẩm văn học mà thôi, chứ đối với những
tác phẩm nghệ thuật khác thì không ai nẩy ra c��i ý phóng tác một bức tranh, một
vở kịch câm hay một vũ kịch để cho nó thích hợp hơn với bất kỳ đối tượng nào.
Vì một lẽ giản đơn: việc đó không thể nào làm được.
Còn như một loại tác phẩm quan trọng đối với mọi dân tộc như những bái hát ru
con (thường là trích mượn từ những bài ca dao) thì công chúng chủ yếu của nó
lại chính là “những người chưa đủ trưởng thành về trí tuệ”, nhưng lại không thể
phóng tác được, phải hát đúng từng chữ khi ru con, với niềm hy vọng là nó sẽ
được ghi lại trong ký ức thành những kỷ niệm không bao giờ phai mờ để sau này
nhớ lại, con người trưởng thành sẽ coi nó như một truyền thống vĩnh hằng thiêng
liêng nhất, quý giá nhất của dân tộc[ii].
Sau khi đã nói rõ nội dung của những công việc có phần gần gũi với dịch thuật,
khi bạn đọc đã có thể có được một khái niệm tương đối rõ ràng về những ranh
giới khu biệt giữa dịch thuật với những công việc ấy, chúng tôi xin trình bày
công việc dịch thuật như một quá trình gồm có mấy công đoạn tách biệt. Đó là
một cách trình bày có tính ước định, chẳng qua để cụ thể hoá những chi tiết
nhiều khi khó xác định của cái công việc không lấy gì làm đơn giản này
4. Những công đoạn của việc dịch thuật
Các tác giả của những giáo trình được đem giảng tại các khoa và bộ môn ngôn ngữ
học mà chương trình có bao gồm nội dung dịch thuật thường trình bày công việc
của ngành khoa học này dưới dạng một quá trình có bốn công đoạn sau đây:
(1) Phân tích nguyên bản trong ngôn ngữ nguồn (Source Language) để “hiểu” thật
rõ tác giả “muốn nói” gì.
(2) Xoá cách ngôn từ hoá của nguyên bản (Deverbalisation of the text)
(3) Phân tích những đặc trưng trong nội dung và hình thức của nguyên bản (qua
một siêu ngôn ngữ ước định)
(4) Tái ngôn từ hoá bằng ngôn ngữ đích để có được một văn bản tương đương với
nguyên bản (Reverbalisation in the Target Language so that the text obtained
would be equivalent to that written in the Source Language).
Dĩ nhiên, cách phân ra thành công đoạn như trên không nhất thiết phải là một
quá trình gồm những giai đoạn lần lượt kế tiếp nhau theo trật tự thời gian. Mỗi
người dịch có thể làm việc theo một phương thức khác nhau, kê cả những phương
thức hoàn toàn mặc ẩn (implicite), thậm chí vô thức (unconscious). Nhưng, cũng
như khi nói về quá trình thụ đắc (acquisition) vốn tri thức của người bản ngữ
về tiếng mẹ đẻ của mình, muốn dạy cách phiên dịch không thể có cách gì ngoài
cách hiển ngôn hoá (explicitating), nghĩa là nói ra thành lời một cách tỏ tường
để người học nhận thức được từng chi tiết, từng giai đoạn của quá trình thụ đắc
vốn tri thức cần thiết. Ta hãy xét kỹ từng công đoạn trong quá trình làm việc
của người phiên dịch có tri thức hiển ngôn về quá trình này.
(1), (2) Hiểu và phi ngôn từ hoá nguyên bản (xóa hết những từ ngữ của nguyên
bản)
Câu hỏi tất nhiên phải nảy sinh trong tâm trí người đọc trước hết là: tại sao
lại phải xóa những từ ngữ của nguyên bản, và sau khi làm như vậy, thì trong trí
nhớ của người phiên dịch phỏng còn sót lại được những gì?
Người có kinh nghiệm và kỹ năng dịch thuật[iii] sẽ đáp:
- Không ai có thể nhớ hết từ ngữ trong một lời phát biểu ở hội nghị, nếu dịch
miệng. Người dịch chỉ nhớ cái nghĩa của lời phát biểu. Người dịch viết có kinh
nghiệm cũng biết rằng khi hiểu một câu văn, người dịch phải quên cách biểu đạt
câu ấy bằng những từ ngữ gì. Sự quên lãng này sẽ càng ngày càng trở nên tự
nhiên, thậm chí tự phát. Trong tâm trí người nghe (người đọc), những từ ngữ của
nguyên bản lập tức bị quên đi để nhường chỗ cái ý mà tác giả muốn truyền đạt.
Có thế người nghe (người đọc) mới hiểu được cái ý ấy.
- Vậy cái ý ấy cụ thể là cái gì, khi đã quên hết cách diễn đạt nó bằng những từ
ngữ vốn làm thành cái bệ đỡ vật chất của nó?
- Cái ý ấy thường được giữ lại trong ý thức của người nghe (hay người đọc) dười
dạng những hình ảnh về những gì đã được thuật lại bằng lời. Những hình ảnh này
có thể tĩnh (tư thế, dáng vẻ) hay động (động tác hay sự thay đổi tư thế, hình
dáng). Ngoài ra, những hình ảnh này lại phải được đặt trên bối cảnh của những
hình ảnh đã có trong văn cảnh trước đó, rồi lại được cắt nghĩa bằng những tri
thức phổ thông (ngoài ngôn ngữ học) của người nghe hay người đọc.
Những người nghe dịch miệng trong hội nghị thường kinh ngạc trước cái trí nhớ
“kỳ dị” của người phiên dịch chính là vì cứ tưởng anh ta nhớ hết các từ ngữ,
trong khi thật ra anh ta chỉ nhớ cái nghĩa, cái ý mà người kia muốn nói ra
thôi. Người dịch viết cũng không hề làm khác, nếu anh ta đã thực sự hiểu tác
giả muốn nói gì. Ở đây chỉ cần lưu ý một chút nữa để thấy cần phân biệt mấy chữ
muốn nói gì với những câu hỏi về nguyên do (tại sao mà nói thế?) về động cơ
(nói thế để làm gì?).
Nói tóm lại, phi ngôn từ hoá nguyên bản không hề gây trở ngại cho người dịch mà
chính là tạo một điều kiện không thể thiếu để họ có thể dùng nội quan
(introspection) soi sáng tâm trí mình để thoát ra ngoài những từ ngữ có thể gây
nên những tạp âm (noise - hiểu theo nghĩa của lý thuyết thông tin) có hại cho
hoạt động “hiểu” (comprehension) của tâm trí nếu người nghe không quên ngay đi
để chỉ tập trung vào việc hiểu cho đúng tác giả muốn nói gì, muốn mình hình
dung được những hình ảnh nào.
(3) Công việc tìm hiểu cái nghĩa, cái ý mà tác giả muốn nói sẽ được nhận thức
một cách minh xác hơn nữa khi ta phân tích một cách hiển ngôn, bằng siêu ngôn
ngữ của ngôn ngữ học và của ngữ dụng học (nhất là trong những hành động ngôn từ
(speech acts) của tác giả và của các nhân vật, trong đó có những câu được gọi
là câu ngôn hành - performative sentences)
Những bình diện của lời nói và của văn bản đều được quan tâm phân tích đến mức
chi ly, để không bỏ sót bất kỳ một chi tiết nào.
Tuy nhiên không nên nghĩ rằng hiểu một văn bản là một quá trình làm việc công
phu đòi hỏi một thời gian dài. Công việc kiểm tra và phê bình, đánh giá mới đòi
hỏi như vậy, còn việc người nghe (hay người dịch) hiểu cái nghĩa mà tác giả
muốn truyền đạt bất chấp những lỗ hổng, những sự tỉnh lược, những chỗ không nói
hết trong ngôn từ thường chỉ cần một khoảnh khắc, một nháy mắt cũng có thể được
bù đắp ngay trong ý thức của người nghe (hay người dịch).
Sau đây là những nội dung ý nghĩa chứa đựng trong nguyên bản không bao giờ được
truyền đạt bằng ngôn từ mà người nghe hay người dịch vẫn phục hồi được và hiểu
ngay lập tức khi tiếp xúc với văn bản:
1. Tiền giả định (presupposition). Khi gặp một người quen hỏi thăm mình bằng
câu “Anh đã khoẻ chưa?”, người nghe (hay người dịch) biết ngay rằng người ấy có
nghe ai đó nói rằng trước đó mình có bị bệnh. Nếu cái tiển giả định ấy đúng,
anh ta có thể trả lời là ”Khoẻ rồi” hay “Chưa khoẻ”. Nhưng nếu cái tiền giả
định ấy sai (tức trước đó anh ta không hề đau ốm gì), thì dù có trả lời thế nào
cũng không ổn, vì cũng vô hình trung thừa nhận một tiền giả định hoàn toàn sai.
2. Hàm nghĩa từ vựng (lexical implication). Khi một nhân vật trong nguyên bản
nói “Nó sắp cưới vợ mới”, người nghe (và người dịch) biết ngay rằng nó là một
người đàn ông trưởng thành từng có một đời vợ, mặc dầu trong câu không có một
từ nào nói rõ giới tính của nó (nó dĩ nhiên có thể là một đứa con gái) và tình
trạng hôn nhân trước đó của nó. Tuy vậy người nghe (và người dịch) suy diễn
được ngay những điều này từ những từ khác có mặt trong câu như cưới vợ và mới.
3. Hàm ngôn hội thoại (conversational implicature). Ta thấy có một hàm ngôn hội
thoại khi người nghe (hay người dịch) có thể căn cứ vào một ý trong cuộc hội
thoại mà suy ra một ý khác không nói ra nhưng vẫn có mặt trong ý thức người
nghe (hay người dịch). Chẳng hạn khi nghe ai nói “Hôm nay nó không say”, người
nghe hiểu ngay là có những hôm khác nó say.
Nói chung, ta thấy rằng một nguyên bản bất kỳ không nhất thiết phải nói hết nội
dung của nó ra bằng từ ngữ, vì có những ý có thể được người nghe suy ra một
cách dễ dàng ngay từ sự vắng mặt của những từ ngữ ấy.
Theo Sunlaw firm (st)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------
|