Tăng cường bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong các giai đoạn tố tụng
Bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân là một trong những nội dung và cũng là mục đích của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chăm lo đến con người, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động Nhà nước là những quan điểm cơ bản được thể hiện trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong những năm gần đây.
Hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là hoạt động xét xử là một mặt hoạt động
của Nhà nước liên quan rất chặt chẽ với quyền tự do, dân chủ của công dân. Hoạt
động tố tụng hình sự là nơi các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ
biến nhất, và vì vậy là nơi quyền tự do dân chủ của công dân có nguy cơ dễ bị
xâm hại nhất. Thực tiễn tố tụng những năm qua cho thấy rằng cũng còn nhiều
trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có những vi
phạm các quyền công dân , nhất là trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế
của pháp luật, có nhận thức, thái độ của người tiến hành tố tụng… Vì vậy, có
thể nói, tăng cường việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong tố
tụng hình sự nói chung; trong xét xử vụ án hình sự ,nhất là việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn nói riêng, từ góc độ lập pháp cũng như áp dụng pháp luật có
vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Theo quy định của BLTTHS thì Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn
chặn tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá
trị để bảo đảm.
Qua nghiên cứu thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử vụ
án hình sự, từ góc độ bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân, chúng tôi thấy
còn một số điểm hạn chế, bất cập như sau:
– Thứ nhất, theo chúng tôi có tình trạng quá lạm dụng biện pháp tạm giam. Tỷ lệ
bị can, bị cáo bị tạm giam chiếm tỷ lệ khá cao. Căn cứ tạm giam chưa được thể
hiện cụ thể. Nhìn chung trong quá trình điều tra vụ án, khi đề nghị Viện kiểm
sát phê chuẩn quyết định tạm giam, đa số các trường hợp trong công văn yêu cầu
đều ghi căn cứ chung chung như “để đảm bảo cho công tác điều tra, xử lý”, “thấy
rằng cần thiết phải tạm giam bị can, không để bị can trốn”, “không để bị can
tiếp tục phạm tội”, mà ít đưa ra được những căn cứ cụ thể. Cũng không loại trừ
trường hợp Cơ quan điều tra sử dụng tạm giam như là biện pháp nghiệp vụ để buộc
bị can khai nhận tội. Mặc dù Điều 177 BLTTHS quy định sau khi nhận hồ sơ vụ án,
Chánh án hoặc Phó chánh án quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp
tạm giam, nhưng trên thực tế, sau khi thụ lý hồ sơ thông thường Toà án tiếp tục
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã áp
dụng; rất ít trường hợp Toà án thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam đã áp
dụng trước đó, có thể để cho thuận tiện tiến hành tố tụng, hoặc để đảm bảo
thuận lợi cho thi hành án phạt tù sau này, còn nếu không bị phạt tù thì chờ
tuyên án trả tự cho bị cáo luôn.
Việc quá lạm dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhiều khi gây nên sức ép tâm lý
không đáng có đối với việc xét xử của Toà án; nhất là sau khi có Nghị quyết số:
388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc bồi thường thiệt hại cho những người
bị oan do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra trong hoạt động tố tụng
hình sự; chẳng hạn:
Tình trạng tạm giam là một trong những nguyên nhân dẫn đến Toà án ngại tuyên vô
tội khi xét xử mặc dù có đủ căn cứ để làm điều đó. Do sợ bị đánh giá là quyết
định bắt giam oan, sai cho nên Toà án thường không dám tuyên bị cáo vô tội, mà
thường trả hồ sơ để điều tra bổ sung để Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát
đình chỉ -Tạm giam nhiều cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ người bị kết
án bị phạt tù giam ở nước ta quá cao. Toà án rất hạn chế cho bị cáo bị tạm giam
hưởng án treo hoặc áp dụng các hình phạt khác không phải tù như cải tạo không
giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo… mặc dù có đủ điều kiện theo quy định của BLHS;
trong những trường hợp này Toà án thường xử phạt tù với thời hạn bằng thời hạn
bị cáo đã bị tạm giam. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người bị kết
án.
Việc quá lạm dụng biện pháp tạm giam cũng thể hiện trong trường hợp áp dụng
khoản 2 Điều 228 BLTTHS bắt giam bị cáo ngay sau khi tuyên án. Nhiều trường hợp
Hội đồng xét xử quyết định bắt bị cáo tại ngoại bị xử phạt tù ngay sau khi
tuyên án chỉ với nhận định chung chung kiểu như “xét thấy bị cáo có thể trốn”,
“xét thấy để đảm bảo thi hành án”… mà không có căn cứ cụ thể;
– Thứ hai, BLTTHS quy định chưa rõ ràng, nên các cơ quan tiến hành tố tụng nói
chung, Toà án nói riêng đang lúng túng trong việc áp dụng thời hạn tạm giam
trong trường hợp đồng phạm mà các bị can, bị cáo phạm tội thuộc các loại khác
nhau, cho nên thời hạn tố tụng cũng được quy định khác nhau. Thực tiễn hiện nay
đi theo hướng thời hạn tố tụng nói chung, tạm giam nói riêng được thực hiện
theo tội nặng nhất trong vụ án đó. Ví dụ: hai bị can A và B đồng phạm cố ý gây
thương tích cho người khác với mức độ thương tật là 45%, B phạm tội trong
trường hợp tái phạm nguy hiểm; như vậy A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
khoản 2 Điều 104 BLHS (tội nghiêm trọng), B bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo khoản 3 Điều 104 BLHS (tội rất nghiêm trọng). Trong trường hợp này, thường
thì cơ quan điều tra căn cứ vào Điều 120 BLTTHS, Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều
176, Điều 177 BLTTHS để xác định thời hạn tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử đối với cả hai bị can trên cơ sở tội mà B thực hiện (tức là tội rất nghiêm
trọng). Như vậy, A chỉ phạm tội nghiêm trọng, nhưng lại phải bị áp dụng biện
pháp cưỡng chế tố tụng về tội rất nghiêm trọng. Điều này, theo chúng tôi là
không hợp lý từ góc độ pháp chế cũng như bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân.
Chúng tôi rất nhất trí với hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao là trong trường hợp này “thời hạn tạm giam đối với từng bị can không được
quá thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm nặng nhất mà bị can đó bị truy
tố”;
– Thứ ba, các biện pháp ngăn chặn không giam giữ rất ít được áp dụng trên thực
tế. Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm hầu như không được áp
dụng đối với bị can, bị cáo là người Việt Nam.
Trong điều kiện tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay, khi một người vì lý do nào đó
mà bị bắt, tạm giữ, tạm giam thì sẽ ảnh hưởng lớn đến uy tín, danh dự, và vì
vậy rất khó để có thể đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, hoạt động
xã hội. Vì vậy, Theo chúng tôi việc quá lạm dụng các biện pháp ngăn chặn bắt,
giam giữ, tạm giam mà coi nhẹ các biện pháp ngăn chặn khác sẽ gây ra không chỉ
hậu quả pháp lý, mà cả hậu quả xã hội không có lợi; ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, đến sự phát triển, tiến bộ của con người;
– Thứ tư, hầu như 100% bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Bởi vì
BLTTHS không quy định cụ thể các điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn như
bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
về nội dung, cho nên đa số những người tiến hành tố tụng, trong đó có Chánh án,
Phó chánh án, Thẩm phán quan niệm rằng đã là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự
thì phải bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nào đó. Vì vậy, khi khởi tố, bị can
luôn bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án không huỷ bỏ,
mà chỉ giữ nguyên hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng bằng biện
pháp ngăn chặn khác. Nhận thức như vậy là không đúng với tinh thần của BLTTHS.
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử
sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003 cũng đã khẳng định rằng Chánh án hoặc Phó Chánh án
có thể quyết định huỷ bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo đang bị tạm
giam, nhưng xét thấy không cần thiết tiếp tục tạm giam người đó và cũng không
cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Như vậy, không nhất thiết đã là bị
can, bị cáo trong vụ án hình sự thì phải áp dụng biện pháp ngăn chặn.
-Một số giải pháp tăng cường việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân
trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ở giai đọan xét xử
+ Hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự
Qua phân tích những vấn đề lý luận và nghiên cứu thực tiễn xét xử của các Toà
án, chúng tôi thấy rằng việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của
công dân trong tố tụng hình sự nói chung còn có những hạn chế là do những bất
cập trong các quy định của BLTTHS và hướng dẫn áp dụng thống nhất BLTTHS. Vì
vậy, việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS có liên quan và tăng cường hướng
dẫn áp dụng các quy định của BLTTHS trong xét xử vụ án hình sự là một trong
những giải pháp quan trọng bảo đảm cho việc xét xử của Toà án chính xác, khách
quan, là những điều kiện quan trọng để thực hiện việc tôn trọng và bảo vệ các
quyền tự do dân chủ của công dân.
* Hoàn thiện các quy định của BLTTHS:
- Sửa đổi các Điều 38, Điều 39, Điều 177 BLTTHS theo hướng giao cho Thẩm phán
được phân công chủ toạ phiên toà thẩm quyền quyết định đối với biện pháp ngăn
chặn tạm giam. Là người trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán là người
hiểu rõ hơn ai hết trường hợp nào cần áp dụng, thay đổi hay huỷ bỏ các biện
pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo. Trên thực tế, theo quy định của BLTTHS
hiện nay thì việc quyết định áp dụng, huỷ bỏ, thay đổi biện pháp tạm giam của
Chánh án, Phó Chánh án cũng do Thẩm phán đề xuất. Mặt khác, giao cho Thẩm phán
thẩm quyền này sẽ nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong chuẩn bị xét xử;
tránh được tình trạng dựa dẫm, đùn đẩy nhau trong việc quyết định áp dụng, huỷ
bỏ hay thay đổi biện pháp này và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Với các
điều kiện bổ nhiệm được tiêu chuẩn hoá hiện nay (có trình độ đại học luật, được
đào tạo nghiệp vụ xét xử, có kinh nghiệm lâu năm trong công tác pháp luật, đáp
ứng các tiêu chuẩn chính trị, đạo đức.), Thẩm phán Toà án hoàn toàn có đủ điều
kiện để giao cho thẩm quyền quyết định biện pháp ngăn chặn tạm giam.
- Sửa đổi khoản 1 Điều 88 BLTTHS về căn cứ áp dụng tạm giam theo hướng tạm giam
chỉ có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo nếu có căn cứ cụ thể khẳng định
rằng họ có thể tiếp tục phạm tội, có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra,
truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Như vậy, để áp dụng biện pháp tạm giam, người
có thẩm quyền phải có căn cứ cụ thể khẳng định bị can, bị cáo có thể tiếp tục
phạm tội, có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi
hành án. Với sửa đổi như vậy, quy định của Điều 88 BLTTHS mới phù hợp với Điều
79 BLTTHS, tránh được sự tuỳ tiện trong áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam, những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự nước ta;
- Sửa đổi đoạn 2 khoản 2 Điều 94 BLTTHS như sau: “Đối với những biện pháp ngăn
chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế trong giai đoạn
điều tra, truy tố phải do Viện kiểm sát quyết định”. Bởi vì, theo quy định của
Điều 177 BLTTHS, sau khi nhận hồ sơ vụ án, Toà án hoàn toàn có quyền quyết định
áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, trong đó có các biện pháp
ngăn chặn do Cơ quan điều tra áp dụng. Quy định của khoản 2 Điều 94 BLTTHS là
trái với bản chất sự việc và mâu thuẫn với Điều 177 BLTTHS;
- Nghiên cứu sửa đổi khoản 1 Điều 303 BLTTHS về căn cứ bắt, tạm giữ, tạm giam
đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội theo
hướng thu hẹp phạm vi áp dụng các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc này đối với
người chưa thành niên phạm tội, đáp ứng chính sách nhân đạo của Nhà nước ta và
nguyên tắc coi trọng giáo dục, phòng ngừa đối với người chưa thành niên phạm
tội. Nghiên cứu Điều 12 BLHS và Điều 303 BLTTHS, chúng tôi thấy căn cứ áp dụng
bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi phạm tội được quy định tại khoản 1 không có gì khác với người đã thành
niên; bởi vì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng. Như vậy, người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã
phạm tội là có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong mọi trường hợp mà không có
hạn chế gì. Trong khi đó, người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, nhưng theo khoản 2 Điều 303
BLTTHS họ chỉ có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong trường hợp phạm tội nghiêm
trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;
* Tăng cường hướng dẫn áp dụng BLTTHS:
Để bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân, cùng với việc hoàn thiện BLTTHS để
sửa đổi những quy định còn bất cập, bổ sung những quy định mới nhằm đảm bảo cho
hoạt động tố tụng được chính xác, khách quan và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cần phải tăng cường việc hướng dẫn áp
dụng thống nhất các quy định của BLTTHS của các cơ quan có thẩm quyền.
Theo chúng tôi, trước mắt các cơ quan có thẩm quyền cần tập trung hướng dẫn một
số vấn đề sau đây:
- Hướng dẫn về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không giam giữ như bảo
lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nhaốm
giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, Toà án nói riêng tăng cường
áp dụng các biện pháp này. Hiện nay trong thực tiễn có quan điểm sai lầm cho
rằng đã là bị can, bị cáo trong một vụ án thì phải áp dụng biện pháp ngăn chặn;
quan niệm như vậy có đúng không cũng cần phải thống nhất. Cần hướng dẫn áp dụng
thống nhất Điều 93 BLTTHS về mức tiền phải đặt, thẩm quyền và thủ tục sung quỹ
Nhà nước số tiền đặt để các Toà án có thể tăng cường áp dụng biện pháp ngăn
chặn này v.v…;
+ Nâng cao năng lực, trình độ, nhận thức của Thẩm phánm Hội thẩm.
Dù pháp luật có quy định cụ thể đến đâu thì hiệu quả của nó phụ thuộc rất nhiều
vào quan điểm, nhận thức của người áp dụng pháp luật trong từng trường hợp cụ
thể. Đặc biệt, trong BLTTHS nhiều quy định được áp dụng hay không lại tuỳ thuộc
vào đánh giá chủ quan của người có thẩm quyền. Ví dụ: căn cứ để áp dụng biện
pháp tạm giam theo điểm b khoản 1 Điều 88, khoản 2 Điều 228 BLTTHS phụ thuộc
vào đánh giá chủ quan (tuy nhiên trên cơ sở các tình tiết khách quan) về khả
năng bỏ trốn, khả năng tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo. Việc áp dụng các
quy định pháp luật mang tính cưỡng chế cũng phụ thuộc nhiều vào quan điểm, cách
nhìn nhận của người có thẩm quyền áp dụng. Ví dụ: theo điểm a khoản 1 Điều 88
BLTTHS thì người nào phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng đều
có căn cứ để tạm giam; nhưng việc có áp dụng bieọn pháp tạm giam hay không
trong từng trường hợp cụ thể lại phụ thuộc vào quan điểm (nghiêm khắc hay khoan
hồng) của người có thẩm quyền.
Vì vậy, có thể nói tăng cường nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm
phán, Hội thẩm là giải pháp quan trọng đảm bảo cho hoạt động xét xử của Toà án
đáp ứng yêu cầu tôn trọng và bảo vệ các quyền t��� do dân chủ của công dân. Theo
chúng tôi, để thực hiện giải pháp này cần tiến hành các biện pháp sau đây:
- Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán,
Hội thẩm các Toà án;
- Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, chính sách pháp luật, nhất là chính
sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội, quan điểm bảo vệ quyền
con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cho cán bộ Toà án các cấp;
+ Hoàn thiện chế độ trách nhiệm
Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trước công dân là giải pháp quan trọng trong
việc bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân. Nhà nước không chỉ
có trách nhiệm trong việc ban hành pháp luật và duy trì để pháp luật về quyền
tự do dân chủ của công dân được thực hiện trên thực tế, mà còn xử lý các vi
phạm pháp luật bằng các chế độ trách nhiệm khác nhau. Vì vậy, việc hoàn thiện
chế độ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng cũng là giải pháp cần thiết để
bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự nói chung,
trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói tiêng.
- Trước hết cần hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các hành
vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân trong hoạt động tư pháp. Theo
chúng tôi, cần bổ sung vào Chương XXII BLHS một điều luật quy định tội thiếu
trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong hoạt động tư pháp; bởi vì, trong
BLHS mới chỉ có tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn (Điều 301);
còn nếu áp dụng Điều 285 BLHS để xử lý các hành vi thiếu trách nhiệm đó thì
không thật hợp lý.
- Hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp oan, sai. Chúng
tôi cho rằng đã đến lúc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cần ban hành nghị quyết về
bồi thường thiệt hại không chỉ trong trường hợp oan, mà cả trong trường hợp
sai. Bởi vì, trong thực tế có trường hợp tiến hành tố tụng sai có thể gây ra
thiệt hại lớn hơn, gây hậu quả nghiêm trọng hơn trường hợp bị oan. Hơn nữa,
Điều 30 BLTTHS quy định bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại do cơ quan hoặc
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây là một trong những nguyên tắc của tố
tụng hình sự;
- Hoàn thiện chế độ kỷ luật đối với hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của
công dân trong tố tụng hình sự. Những hành vi của người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân chưa đến mức độ truy cứu
trách nhiệm hình sự thì tuỳ tính chất, mức độ phải được xử lý kỷ luật một cách
hợp lý; phải được đánh giá để bãi miễn hoặc không tái bổ nhiệm các chức danh
chuyên môn. Đặc biệt là những người không đủ năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của hoạt động tư pháp, đã có những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do dân chủ
của công dân thì không nên giao tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ tố tụng nặng nề
đặt ra.
Theo luatviet.vn
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------