Tập quán pháp và việc thực hiện nguyên tắc áp dụng tập quán trong Bộ luật dân sự năm 2005
Tập quán pháp là những tập quán
được Nhà nước thừa nhận có giá trị pháp lý, trở thành những quy tắc xử sự chung
và được Nhà nước đảm bảo thực hiện (1). Khi Nhà nước cần điều chỉnh một quan hệ
xã hội, thông thường Nhà nước sẽ ban hành các quy phạm pháp luật. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp, quan hệ xã hội mà Nhà nước cần điều chỉnh lại đang được
điều chỉnh bởi các quy phạm tập quán. Vì thế, nếu những tập quán này phù hợp
với mục tiêu điều chỉnh các quan hệ xã hội của Nhà nước, nhiều Nhà nước sẽ sử
dụng phương pháp thừa nhận, làm cho tập quán đó trở thành quy tắc xử sự có tính
bắt buộc chung được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Như vậy, để được coi là tập
quán pháp thì bản thân quy phạm tập quán đó bắt buộc phải được Nhà nước thừa
nhận bằng một trong hai cách: hoặc thông qua một quy định mang tính nguyên tắc
cho mọi trường hợp (2), hoặc thông qua một quy định chi tiết cho từng trường
hợp cụ thể (3).
1. Nhận diện tập quán
pháp qua Bộ luật Dân sự năm 2005
Trong Bộ luật Dân sự (BLDS)
năm 2005, Nhà nước ta đã thừa nhận một số tập quán. Việc thừa nhận này
trước hết thông qua một quy định mang tính nguyên tắc thể hiện tại Điều 3:
“Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì
có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự
của pháp luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với
những nguyên tắc quy định trong BLDS” (4).
Đồng thời, để cụ thể hóa nguyên
tắc nói trên, BLDS năm 2005 cũng đã đưa ra nhiều quy định chi tiết thừa nhận
tập quán trong một số trường hợp xác định.
Thứ nhất, áp dụng tập quán điều
chỉnh quan hệ nhân thân. Trong số những quyền nhân thân được BLDS năm 2005 ghi
nhận, bảo vệ thì quyền xác định dân tộc là quyền có sự tham gia điều chỉnh của
tập quán pháp. Khoản 1 Điều 28 BLDS năm 2005, quy định: “Cá nhân khi sinh ra
được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trong trường hợp cha đẻ
và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là
dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thoả thuận
của cha đẻ, mẹ đẻ”. Như vậy tập quán của dân tộc về việc lựa chọn dân tộc cho
con khi cha mẹ khác nhau về dân tộc được nhà nước thừa nhận, coi như pháp luật.
Thứ hai, áp dụng tập quán trong
một số vấn đề liên quan đến giao dịch dân sự như giải thích giao dịch dân sự
(bao gồm cả hợp đồng dân sự); hình thức giao dịch hụi, họ; giao dịch thuê tài
sản.
Theo Khoản 1 Điều 126 BLDS năm
2005, khi giao dịch dân sự có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì việc giải
thích giao dịch đó được thực hiện theo thứ tự:
a) Theo ý muốn đích thực của các
bên khi xác lập giao dịch;
b) Theo nghĩa phù hợp với mục
đích của giao dịch;
c) Theo tập quán nơi giao dịch
được xác lập.
Như vậy, tập quán nơi giao dịch
được xác lập nếu được lựa chọn để giải thích giao dịch dân sự thì đó chính là
tập quán pháp. Phù hợp với quy định đó, Khoản 4 Điều 409 BLDS 2005 quy định:
khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo
tập quán tại địa điểm nơi giao kết hợp đồng. Đặc biệt, giao dịch hụi, họ, biêu,
phường được BLDS ghi nhận ở Khoản 1 Điều 479 là một hình thức giao dịch về tài
sản theo tập quán.
Tập quán còn được sử dụng để xác
định nghĩa vụ bảo đảm giá trị sử dụng tài sản thuê trong giao dịch thuê tài
sản. Khoản 1 Điều 485 và Khoản 1 Điều 489 BLDS năm 2005 quy định: “Bên cho thuê
phải sửa chữa những hư hỏng, khuyết tật của tài sản thuê, trừ hư hỏng nhỏ mà
theo tập quán bên thuê phải tự sửa chữa”; “Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng
thời hạn đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả tiền thuê thì
thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếu không thể
xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài
sản thuê”.
Thứ ba, áp dụng tập quán trong
vấn đề xác lập quyền sở hữu chung, hình thành, quản lý, sử dụng, định đoạt tài
sản chung của cộng đồng. Việc xác lập quyền sở hữu chung có thể được thực hiện
theo thỏa thuận của các chủ sở hữu, theo quy định của pháp luật và cũng có thể
được hình thành theo tập quán (Điều 215 BLDS năm 2005). Riêng đối với sở hữu
chung của cộng đồng thì việc hình thành, quản lý, sử dụng, định đoạt có thể
theo thỏa thuận hoặc theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, trái đạo
đức xã hội (Điều 220 BLDS năm 2005).
Thứ tư, áp dụng tập quán trong
vấn đề nghĩa vụ dân sự. Có rất nhiều loại nghĩa vụ cụ thể được quy định trong
BLDS năm 2005, nhưng chỉ có ba loại nghĩa vụ sau đây có sự tham gia điều chỉnh
của tập quán, đó là nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản, nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra và nghĩa vụ tài sản liên quan đến
thừa kế. Tại Khoản 1 Điều 265 BLDS năm 2005 quy định việc xác định ranh giới
giữa các bất động sản có thể theo tập quán. Đến Điều 625, nghĩa vụ bồi thường
thiệt hại do súc vật gây ra được quy định tại Khoản 4 là nếu súc vật thả rông
theo tập quán gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật phải bồi thường theo tập
quán. Liên quan đến vấn đề thừa kế, Điều 683 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán
các nghĩa vụ, ngay tại Khoản 1, chi phí đầu tiên được ưu tiên thanh toán chính
là chi phí mai táng hợp lý theo tập quán.
Thứ năm, vấn đề tập quán quốc
tế. Sẽ là một thiếu sót nếu chúng ta không đề cập đến tập quán quốc tế trong
các giao lưu dân sự theo nghĩa rộng trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập hiện nay. Tại
Khoản 4 Điều 759 của BLDS năm 2005, nguyên tắc áp dụng tập quán quốc tế được quy
định như sau: “Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được
Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu
việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trên thực tế, các tập
quán này được áp dụng rất nhiều trong hoạt động thương mại quốc tế.
2. Việc thực hiện nguyên
tắc áp dụng tập quán trong BLDS năm 2005
Từ những quy định trong BLDS năm
2005, có thể khẳng định, tập quán chính thức được thừa nhận tham gia điều chỉnh
các quan hệ xã hội như các quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, trên
thực tiễn, việc áp dụng tập quán còn gặp nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu,
giải quyết. Hiện có hai xu hướng thường xảy ra liên quan đến việc áp dụng các
quy phạm pháp luật có viện dẫn tập quán: thứ nhất, các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành ra một văn bản quy phạm pháp luật mới điều chỉnh luôn vấn đề
được quy định là áp dụng theo tập quán. Chẳng hạn, từ Điều 479 BLDS năm 2005 về
hụi, họ, biêu, phường, ngày 27/11/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
144/2006/NĐ-CP về hụi, họ, biêu, phường. Thứ hai, tránh áp dụng tập quán mặc dù
đã được pháp luật cho phép áp dụng tập quán. Ví dụ, về vấn đề xác định ranh
giới giữa các bất động sản liền kề, Điều 265 BLDS năm 2005 quy định thực hiện
theo thoả thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh
giới đã tồn tại từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp. Như vậy, nếu
không có thỏa thuận giữa các chủ sở hữu và quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, cơ quan xét xử khi giải quyết vấn đề này đương nhiên có thể xác
định ranh giới theo tập quán. Nhưng có trường hợp tòa án khi xét xử tranh chấp
đã không xem xét tập quán, nên đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự (5).
Sở dĩ có hiện tượng này, theo
chúng tôi có nhiều nguyên nhân, trong đó, có một nguyên nhân quan trọng là đối
với cơ quan xét xử, hiệu quả của việc áp dụng tập quán chưa cao. Thực tế khảo
sát ở một số tỉnh miền núi thường xuyên áp dụng phong tục, tập quán cho thấy,
có đến một nửa số bản án, quyết định viện dẫn tập quán để giải quyết tranh chấp
không được Viện kiểm sát, Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận. Ngay đối với các đoàn
thể xã hội cũng chỉ chấp nhận, đồng tình với 58,3% các bản án, quyết định có áp
dụng tập quán (6).
Một nguyên nhân cũng gây ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc áp dụng tập quán, gây ra tâm lý né tập
quán, đó là do các quy định liên quan đến việc áp dụng tập quán còn chưa rõ
ràng, minh bạch. Mặc dù Điều 3 của BLDS năm 2005 đã khắc phục được hạn chế này
của Điều 14 BLDS năm 1995 (nếu như trong Điều 14 BLDS năm 1995, nhà làm luật
không xác định rõ thứ tự ưu tiên áp dụng của tập quán và quy định tương tự của
pháp luật, thì đến BLDS năm 2005 tại Điều 3 xác định rất rõ, tập quán được ưu
tiên áp dụng trước, nếu không có tập quán mới áp dụng quy định tương tự của
pháp luật). Tuy nhiên, trong các điều luật còn lại có liên quan đến áp dụng tập
quán nêu trong BLDS năm 2005 vẫn có những quy định khiến chủ thể áp dụng pháp
luật lúng túng. Ví dụ theo Khoản 1 Điều 28 BLDS năm 2005 “Trong trường hợp cha
đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định
là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thoả thuận
của cha đẻ, mẹ đẻ”. Từ quy định này, không rõ tập quán được ưu tiên áp dụng hay
thỏa thuận của cha mẹ và tập quán đều được ưu tiên áp dụng như nhau? Hay như
quy định tại Điều 265 BLDS năm 2005 “ranh giới (giữa các bất động sản liền kề)
cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30
năm trở lên mà không có tranh chấp”. Câu hỏi đặt ra ở đây là nếu vừa thỏa mãn
cả điều kiện có tập quán điều chỉnh và cả điều kiện có ranh giới tồn tại từ 30
năm trở lên không có tranh chấp, nhưng kết quả giải quyết theo hai căn cứ này
hoàn toàn trái ngược, thì áp dụng theo căn cứ nào?
Từ những nhận thức trên, chúng
tôi cho rằng, để tập quán pháp phát huy hiệu quả cao khi tham gia điều chỉnh
các quan hệ xã hội trong lĩnh vực dân sự, cần có một hệ thống giải pháp đồng
bộ, trong đó có những giải pháp quan trọng như:
Một là, xây dựng các quy phạm
pháp luật định nghĩa về tập quán, tập quán pháp. Tập quán pháp dưới góc độ là
một thuật ngữ pháp lý vốn đã được nhiều công trình khoa học xây dựng khái niệm.
Tất cả các giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật hay Pháp luật đại cương
đều có đưa ra khái niệm này. Còn tập quán, nếu tiếp cận từ góc độ văn hóa lịch
sử, chúng ta sẽ thấy có r��t nhiều cách lý giải khác nhau. Tại điểm b tiểu mục
2.7 mục 2 Phần II Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự về chứng minh và chứng cứ cũng đã nêu định nghĩa về tập
quán như sau: “Tập quán là thói quen đã thành nếp
trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng
nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng”.
Trong nỗ lực xây dựng và hoàn thiện một hệ thống pháp luật mà tính minh bạch
luôn được nhấn mạnh, theo chúng tôi, các định nghĩa này không thể chỉ dừng lại
ở góc độ khoa học, chúng cần phải được ban hành trong một văn bản có giá trị
pháp lý cao. Có như vậy, việc xác định, áp dụng chúng mới chính xác, có cơ sở.
Đồng thời, các định nghĩa sẽ làm căn cứ cho việc tập hợp các tập quán để hỗ trợ
Nhà nước trong việc quản lý xã hội cũng như để vận động xóa bỏ.
Hai là, tập hợp tập quán theo
các tiêu chí cụ thể. Đây không phải là điều mới, không phải là điều chưa từng
được ai thực hiện, nhưng cũng không phải là điều dễ làm. Từ những năm 20 của thế
kỷ XX, sau một thời gian dài cai trị các nước Đông Dương, do nhận thức được sự
bất lực trong việc cai trị bằng pháp luật ở Tây Nguyên, người Pháp đã chuyển
sang nghiên cứu luật tục và sử dụng chúng trong hoạt động xét xử (7). Nhà nước
ta hiện nay cũng đã bước đầu thực hiện việc này nhưng gần như mới chỉ dừng ở
mức độ ban hành danh mục một số tập quán, phong tục lạc hậu nghiêm cấm vận dụng
hoặc cần vận động xóa bỏ (ví dụ như tại Danh mục ban hành kèm theo Nghị định số
32/2004/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 đối với các dân tộc thiểu số). Theo chúng tôi, từ việc
thừa nhận một số tập quán trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, coi chúng
như pháp luật, thì việc tập hợp chúng, xác định phạm vi tác động, giá trị áp
dụng của chúng là điều cần thiết để tránh áp dụng tùy tiện hoặc bỏ sót.
Ba là, lựa chọn Hội thẩm nhân
dân trong trường hợp giải quyết vụ việc dân sự có áp dụng tập quán. Chúng ta
không có tòa án phong tục, điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể áp dụng
tập quán một cách có hiệu quả. Nếu trong phiên tòa hình sự có bị cáo là người
chưa thành niên thì Hội thẩm nhân dân thường là cán bộ Đoàn thanh niên hoặc
giáo viên, tương tự như vậy, trong việc xét xử dân sự, nếu có áp dụng tập quán,
nên chăng chúng ta cũng lựa chọn những Hội thẩm có sự hiểu biết sâu sắc về các
tập quán đó.
Bốn là, phát huy vai trò của các
cá nhân, tổ chức có uy tín trong việc áp dụng tập quán. Khác với pháp luật, tập
quán cũng như đạo đức và các quy phạm xã hội khác không có cơ chế đảm bảo thực
hiện bằng Nhà nước. Việc tập quán được thực hiện tốt hay không có ảnh hưởng một
phần không nhỏ từ vai trò của cộng đồng, của người đứng đầu cộng đồng nơi tồn
tại tập quán đó. Vì vậy, chúng ta cần phát huy vai trò của những nhân tố có ảnh
hưởng tốt tới hiệu quả áp dụng tập quán, như già làng, trưởng bản, tộc trưởng
dòng họ, các tổ chức tự quản để người dân tự nguyện thực hiện, thay vì để phát
sinh tranh chấp lại phải quay lại tìm các tập quán đó giải quyết.
Năm là, hoàn thiện pháp luật quy
định về tập quán theo nguyên tắc hài hòa, phù hợp, tránh xu hướng coi nhẹ cũng
như quá đề cao vai trò của tập quán. Một vấn đề cũng mang tính nguyên tắc đã
được BLDS năm 2005 ghi rõ, đó là chỉ áp dụng tập quán khi pháp luật không quy
định, và việc áp dụng không được trái nguyên tắc cơ bản của BLDS cũng như đạo
đức xã hội, có nghĩa là trong điều kiện có thể, Nhà nước nhất thiết phải ban
hành văn bản quy phạm pháp luật. Tập quán chỉ được, và chỉ nên áp dụng khi pháp
luật chưa đầy đủ, hoàn thiện. Nhưng nếu đã quy định áp dụng tập quán thì quy
định đó phải minh bạch. Và nếu có nhiều lựa chọn, tập quán chỉ là một trong
những lựa chọn mà pháp luật cho phép, thì cần nêu rõ thứ tự ưu tiên áp dụng tập
quán.
Mặc dù pháp luật của chúng ta
không có nhiều quy định cho phép áp dụng tập quán, nhưng một khi Nhà nước đã
thừa nhận, thì bản thân các tập quán đó trở thành tập quán pháp, trở thành pháp
luật, chúng cần phải được đảm bảo thực hiện.
(1) Giáo trình Lý luận chung về
nhà nước và pháp luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB ĐHQG, H. 2005,
tr307.
(2) Ví dụ tại Điều 40 Bộ luật
Hồng Đức quy định: “Những người miền thượng du cùng phạm tội với nhau thì theo
phong tục xứ ấy mà định tội. Những người thượng du phạm tội với người trung
châu thì theo luật mà định tội. Đây là quy định mang tính nguyên tắc.
(3) Ví dụ Điều 28 BLDS nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam năm 2005 là quy định cho trường hợp cụ thể.
(4) BLDS năm 1995 quy định vấn
đề này tại Điều 14: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không
có thoả thuận, thì có thể áp dụng tập quán hoặc quy định tương tự của pháp
luật, nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này.
Theo Điều luật này, tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật có thứ tự ưu
tiên áp dụng như nhau. Đến Điều 3 của BLDS năm 2005, tập quán được ưu tiên áp
dụng trước, nếu không có tập quán mới áp dụng quy định tương tự của pháp luật.
(5) Xem thêm: “Ranh giới đất,
xác định sao cho đúng?”, Pháp luật TP HCM online, ngày 13/3/2008.
(6) Theo thông tin được công bố
tại địa chỉ http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2007/09/11/3456134 của
Nguyễn Hồng Hải, Giảng viên Khoa Luật Dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội.
(7) Xem thêm: Phan Đăng Nhật,
Tòa án phong tục: một kiểu vận dụng luật tục có hiệu quả. Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, Số 3/2007, tr19.
ThS. Nguyễn
Thị Tuyết Mai – Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị Hành
chính khu vực II
(Nghiên cứu lập pháp số 5(142) tháng 3/2009)