Thế chấp nhà ở tương lai - Mập mờ giữa sai và đúng!
Giao dịch bảo đảm làm cho kẻ muốn vi phạm cam kết phải nhụt chí, chùn tay, còn người bị vi phạm khỏi lo thất thoát, thua thiệt. Giao dịch này để bảo đảm cho những nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai, là loại giao dịch “xây” trước để “dùng” sau, chứ không bao giờ là ngược lại.
Có 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm, bao
gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo
lãnh và tín chấp. Trong biện pháp thế chấp, có giao dịch thế chấp tài
sản hình thành trong tương lai. Đối với biện pháp bảo đảm này, trước
hết là sự tiềm ẩn lớn về rủi ro tài chính. Nếu nghĩa vụ thanh toán phát
sinh ngay sau khi ký hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương
lai, thì sẽ chẳng lấy đâu ra tài sản để xử lý, phát mại nhằm hoàn thành
nghĩa vụ dân sự. Giao dịch bảo đảm này chỉ thực sự có ý nghĩa sau khi
tài sản đã hình thành xong, thậm chí còn phải có đầy đủ giấy tờ công
nhận quyền sở hữu.
Tuy nhiên, sự bất cập từ những quy định của pháp
luật về chấp nhà ở hình thành trong tương lai mới là điều thật sự lo
ngại. Do các biện pháp bảo đảm là những quan hệ dân sự, nên nhìn chung,
ý chí của các bên quyết định hiệu lực của giao dịch bảo đảm. Riêng với
biện pháp thế chấp bất động sản, trong đó có thế chấp nhà ở hình thành
trong tương lai, thì thủ tục pháp lý lại đóng vai trò “sống còn” đối
với hiệu lực của giao dịch bảo đảm. Dù là giao dịch hợp pháp, do các
bên hoàn toàn tự nguyện thực hiện, nhưng chỉ cần mắc mứu một chút về
thủ tục pháp lý, thì rất có thể bị vô hiệu và đưa đến những hậu quả
nghiêm trọng. Vụ việc thế chấp 47 căn biệt thự hình thành trong tương
lai thuộc Dự án khu biệt thự kinh doanh tại xã An Khánh, huyện Hoài
Đức, Hà Nội là một tình huống điển hình.
“khi áp dụng những quy định rất rõ ràng
của Bộ luật Dân sự vào việc thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai,
thì dường như lại là một “nhiệm vụ bất khả thi.”
Dự án nói trên do Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu
tư Xây dựng và Du lịch Bảo Sơn (Công ty Bảo Sơn) làm chủ đầu tư, đã
được UBND tỉnh Hà Tây phê duyệt theo Quyết định số 789/QĐ-UBND ngày
11-5-2007. Công ty Cổ phần Thương mại Tổng hợp Quốc tế D & T (Công
ty D & T) là nhà đầu tư cấp 2, đã hợp tác với Công ty Bảo Sơn để
xây 47 căn biệt thự, trên phần diện tích 6.142 m2 đất. Công ty D &
T đã đưa toàn bộ số biệt thự này, với trị giá 97,6 tỷ đồng, để thế chấp
vay 66,5 tỷ đồng tại Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu (G.P Bank) (thoả
thuận ban đầu là thế chấp 95 căn biệt thự để vay 201,2 tỷ đồng). Việc
thế chấp tài sản này là giao dịch hoàn toàn hợp pháp trên cơ sở nhiều
điều khoản quy định của luật và văn bản dưới luật dưới đây:
- Khoản 2, Điều 320 (Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự) của Bộ luật Dân sự quy định: “Vật
dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình
thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất
động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác
lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”;
- Khoản 1, Điều 342 (Thế chấp tài sản) của Bộ luật Dân sự quy định: “Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai”;
- Khoản 1, Điều 4 (Tài sản bảo đảm) của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định: “Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch”;
- Khoản 2, Điều 4 (Tài sản bảo đảm) của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định: “Tài
sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm
sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao
kết. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình
thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm
giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm.”
Tuy nhiên, khi áp dụng những quy định rất rõ ràng
của Bộ luật Dân sự vào việc thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai,
thì dường như lại là một “nhiệm vụ bất khả thi.”. Bởi vì Luật Nhà ở năm
2006 có một loạt quy định phải áp dụng trong việc thế chấp nhà ở như
sau:
- Giao dịch thế chấp phải có “giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật” (điểm a, khoản 1, Điều 91 – Điều kiện của nhà ở tham gia giao dịch);
- Bên thế chấp phải là “chủ sở hữu nhà ở” (điểm a, khoản 1, Điều 92 – Điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở);
- Văn bản thế chấp nhà ở phải có “chứng nhận của
công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị,
chứng thực của UBND xã đối với nhà ở tại nông thôn” và không loại trừ bất kỳ trường hợp nào (khoản 3, Điều 93 – Trình tự, thủ tục trong giao dịch về nhà ở);
- “Bên nhận thế chấp được giữ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở trong thời gian nhận thế chấp” (khoản 7, Điều 93 – Trình tự, thủ tục trong giao dịch về nhà ở).
Theo các quy định của Bộ luật Dân sự và Nghị định số
163/2006/NĐ-CP, thì sau khi diễn ra giao dịch thế chấp, tài sản thế
chấp mới thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, tức là khi thế chấp thì
chưa có Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Nói cách khác, theo Bộ
luật Dân sự thì tài sản hình thành trong tương lai gồm 2 loại: Tài sản
chưa xác lập (đầy đủ) quyền sở hữu của người thế chấp và tài sản đã xác
định rõ chủ sở hữu và đồng thời sẽ dịch chuyển quyền sở hữu đó cho bên
thế chấp trong tương lai. Nhưng với quy định của Luật Nhà ở, thì chỉ
loại nhà ở thứ hai mới được công nhận là tài sản hình thành trong tương
lai, còn loại nhà ở thứ nhất thì không đủ điều kiện để tham gia giao
dịch thế chấp. Thế là sự hợp pháp về nội dung theo quy định của Bộ luật
Dân sự lại bị bế tắc về thủ tục theo các quy định của Luật Nhà ở: Không
thể công chứng hợp đồng và đăng ký thế chấp nhà ở hình thành trong
tương lai.
Trên thực tế, nhiều tổ chức công chứng đã từ chối
công chứng hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, vì luật
mới chỉ cho phép về nguyên tắc, còn đi vào cụ thể thì thiếu điều kiện
giấy tờ, thiếu bằng chứng pháp lý để được “chứng”. Có nhiều rào cản để
hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai không qua được cửa
công chứng. Lý do đầu tiên để từ chối công chứng là: Các hợp đồng thế
chấp bất động sản hình thành trong tương lai không đáp ứng được điều
kiện “đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật” theo quy
định tại Điều 5 (Lời chứng của công chứng viên) của Luật Công chứng năm
2006. Nỗi lo phạm luật này đã được Bộ Tư pháp giải đáp tại Mục 4, Công
văn số 3744/BTP-HCTP ngày 04-9-2007 về việc “Công chứng giao dịch bảo
đảm” như sau: “Cách hiểu như vậy là sai. Tài sản hình thành trong
tương lai cũng được coi là tài sản có thật nếu có đầy đủ cơ sở pháp lý
để chứng minh. Vì vậy, Bộ Tư pháp yêu cầu các công chứng viên không
được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch thuộc loại này.”
Dù đã giải toả được trở ngại trên, nhưng vướng mắc
thì vẫn còn nguyên. Các tổ chức công chứng khó có thể chấp nhận một bản
hợp đồng mua bán nhà đang xây hay một bản hợp đồng nhận thầu xây dựng
để thay thế cho Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, là loại giấy tờ bắt
buộc phải có theo yêu cầu tại điểm d, khoản 1, Điều 35 (Công chứng hợp
đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn) và khoản 1, Điều 36 (Công chứng
hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người
yêu cầu công chứng) của Luật Công chứng năm 2006, cũng như theo yêu cầu
tại điểm a, khoản 1, Điều 91 (Điều kiện của nhà ở tham gia giao dịch)
của Luật Nhà ở năm 2005. Tại Công văn số 2057/BTP-HCTP ngày 09-5-2007
Về việc “Công chứng hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai”, Bộ Tư pháp cũng đã giải thích: Đối với trường hợp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai, thì việc
công chứng hợp đồng thế chấp có thể căn cứ vào “giấy tờ chứng minh
quyền sở hữu, quyền sử dụng” tài sản là “hợp đồng góp vốn, quyết định
giao thuê đất,…” để thay thế cho Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở. Tuy nhiên, việc giải thích giấy tờ thay thế này này
là dựa theo quy định tại khoản 1, Điều 41 (Thủ tục và thời hạn công
chứng, chứng thực hợp đồng đã được soạn thảo sẵn), Nghị định số
75/2000/NĐ-CP ngày 08-12-2000 của Chính phủ về Công chứng, chứng thực.
Nay Nghị định này đã hết hiệu lực, các tổ chức công chứng không dám
tiếp tục vận dụng các loại giấy tờ thay thế như trên.
Hợp đồng thế chấp đã không công chứng được, thì cũng
đồng nghĩa với việc không đăng ký được giao dịch thế chấp. Điểm b,
khoản 1.1, Mục III (Đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản
gắn liền với đất), Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày
16-6-2005 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn việc
đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (đã
được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT
ngày 13-6-2006) yêu cầu một trong những hồ sơ phải có để đăng ký thế
chấp bất động sản là “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản
gắn liền với đất có công chứng, chứng thực theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 130 của Luật Đất đai…”.Như vậy, muốn
đăng ký thế chấp bất động sản hình thành trong tương lai, thì trước hết
hợp đồng thế chấp phải được công chứng, chứng thực. Nhưng pháp luật cho
phép, đồng thời pháp luật lại ngăn cản việc thế chấp nhà ở hình thành
trong tương lai.
Thậm chí, không phải là nhà ở hình thành trong tương
lai nữa, mà ngay đối với nhà ở đã xây xong, đã thuộc quyền sở hữu của
bên mua nhà theo quy định tại khoản 5, Điều 93 (Trình tự, thủ tục trong
giao dịch về nhà ở), Luật Nhà ở, nhưng nếu chưa được cấp Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở, thì cũng vẫn bế tắc ở khâu công chứng và đăng
ký hợp đồng thế chấp. Tại Công văn số 232/ĐKGDBĐ-NV ngày 04-10-2007 về
việc giải quyết yêu cầu đăng ký thế chấp đối với nhà chung cư chưa được
cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch
Bảo đảm (Bộ Tư pháp) đã giải thích: Nhà ở loại đó không công chứng,
không đăng ký được hợp đồng thế chấp tại Văn phòng Đăng ký Quyền sử
dụng đất thuộc ngành Tài nguyên – Môi trường, mà chỉ có thể đăng ký
giao dịch thế chấp tại các Trung tâm Đăng ký Giao dịch, Tài sản của Cục
Đăng ký Quốc gia Giao dịch Bảo đảm, trên cơ sở “hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà ở”.
Như vậy là quyền thế chấp tài sản mà chính pháp luật đã công nhận quyền
sở hữu lại không được phép thực hiện theo cách đường đường chính chính,
mà lại phải luồn lách, đi đường vòng qua một cơ chế bắc cầu lắt léo,
không đúng với bản chất sự việc và đặc biệt là không bảo đảm an toàn
cho bên nhận thế chấp cũng như các bên có quyền lợi liên quan.
Điều trớ trêu là ở chỗ, việc thế chấp nhà ở hình
thành trong tương lai là hợp pháp, nhưng việc công chứng và đăng ký đều
không thực hiện được, thì hợp đồng thế chấp sẽ cầm chắc hậu quả vô
hiệu. Nếu như hợp đồng thế chấp không bị vô hiệu, thì cũng bằng vô
nghĩa, vì Điều 69 (Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai) của Nghị định số
163/2006/NĐ-CP đã quy định rõ: “Trong trường hợp giao dịch bảo đảm
được giao kết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa
vụ trong tương lai có thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự đăng ký
giao dịch bảo đảm đó, không phụ thuộc vào thời điểm xác lập giao dịch
dân sự làm phát sinh nghĩa vụ trong tương lai.” Điều đó có nghĩa
là, nếu không đăng ký được giao dịch thế chấp thì bên nhận thế chấp
cũng không có quyền ưu tiên thanh toán, không có quyền xử lý tài sản
bảo đảm. Trên thực tế cũng đã có những bản án tuyên hợp đồng thế chấp
nhà ở hình thành trong tương lai là vô hiệu vì lý do chưa công chứng và
đăng ký giao dịch thế chấp.[1] Như vậy, thủ tục hành chính đã không hỗ
trợ cho giao dịch dân sự tốt hơn, mà lại còn phủ quyết sự tự do, tự
nguyện ý chí của các chủ thể.
“thủ tục hành chính đã không hỗ trợ cho
giao dịch dân sự tốt hơn, mà lại còn phủ quyết sự tự do, tự nguyện ý
chí của các chủ thể.”
Ngoài ra, khoản 1, Điều 324 (Một tài sản dùng để bảo
đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự) của Bộ luật Dân sự và khoản 1,
Điều 5 (Giá trị tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân
sự) của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã cho phép một bất động sản được
thế chấp “để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ” (không có quy
định ngoại lệ “trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy
định khác” như điều kiện về giá trị tài sản thế chấp phải lớn hơn nghĩa
vụ được bảo đảm). Nhưng Điều 114 (Điều kiện thế chấp nhà ở) của Luật
Nhà ở lại quy định một tài sản là nhà ở “chỉ được thế chấp tại một tổ
chức tín dụng”. Như vậy, nếu mang một căn nhà đi thế chấp cho 2,3 công
ty để bảo đảm nghĩa vụ thực hiện nhiều hợp đồng kinh doanh, thương mại,
thì hoàn toàn đúng với quy định của Bộ luật Dân sự, nhưng đối chiếu với
Luật Nhà ở thì lại có đến 2 điểm trái luật là: Chỉ được thế chấp tại
một nơi và nơi đó chỉ có thể là tổ chức tín dụng (!?).
Trở lại phân tích vụ việc thế chấp 47 căn biệt thự
nói trên, các bên gần như không thể thực hiện được thủ tục công chứng
và đăng ký hợp đồng thế chấp, ngay cả trường hợp đất thuộc dự án của
Công ty Bảo Sơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ).
Trong khi đó, về nguyên tắc, một chuỗi hành động của Công ty Bảo Sơn và
Công ty D & T liên quan đến việc hợp tác, chuyển giao dự án, mua
bán tài sản là hợp pháp, hợp lệ. Công ty Bảo Sơn được quyền hợp tác
kinh doanh với Công ty D & T là nhằm thu hồi số vốn đã và sẽ đầu tư
vào dự án. Công ty D & T được quyền thế chấp tài sản thuộc dự án
nhằm huy động vốn để đầu tư vào dự án. Công ty D & T được quyền bán
tài sản thế chấp để thu hồi số vốn đã đầu tư. Tất cả những việc đó là
giao dịch bình thường, phổ biến và hợp lý trong một vòng quay hoạt động
kinh doanh bất động sản. Vấn đề sai phạm lớn nhất trong quá trình này
không phải là việc mua bán, chuyển nhượng sai, mà là việc Công ty D
& T thu tiền bán tài sản thế chấp mà không trả nợ cho G.P Bank,
người cho vay vốn để hình thành nên tài sản thế chấp, đồng thời cũng là
bên nhận thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
“cơ chế đăng ký thế chấp đối với nhà ở
hình thành trong tương lai đang bị bế tắc và không phát huy được mục
đích, ý nghĩa cần thiết.”
Theo lô gíc thông thường, hợp đồng thế chấp nhà ở
hình thành trong tương lai nói trên dù có được công chứng và đăng ký
thế chấp đầy đủ, thì Công ty D & T vẫn phải bán và được bán tài sản
thế chấp để thu hồi vốn trả nợ Ngân hàng. Trong vụ việc này tất cả điều
là thật: Tài sản thật, vay vốn thật, thế chấp thật, mua bán thật và thu
tiền thật. Vấn đề nghiêm trọng mang tính mấu chốt là tiền vốn đã bị
thất thoát vì thua lỗ, vì sử dụng tiền bán tài sản thế chấp sai mục
đích, sai cam kết. Hoàn toàn không phải vì lý do các bên đã không đăng
ký thế chấp, nên dẫn đến việc người dân bị lừa mua phải tài sản thế
chấp. Cũng chẳng phải vì không đăng ký thế chấp mà xảy ra hậu quả thất
thoát tiền vốn của Ngân hàng. Dù đã đăng ký thế chấp, thì việc vi phạm,
bội ước hay lừa đảo vẫn có thể xảy ra, vì việc đăng ký thế chấp hầu như
không có vai trò gì trong giai đoạn giao dịch tự nguyện ứng tiền để mua
nhà trên giấy, nhất là đăng ký tại Trung tâm Đăng ký Giao dịch, Tài
sản. Điều đáng la ngại này cảng rõ ràng, khi điểm b, khoản 3, Điều 93
(Trình tự, thủ tục trong giao dịch về nhà ở) của Luật Nhà ở còn cho
phép hợp đồng mua nhà của công ty có chức năng kinh doanh nhà ở thì
không cần phải công chứng, chứng thực; tức là có thể mua bán mà không
hề biết đến những căn nhà ấy có thể đã được công chứng và đăng ký thế
chấp. Như vậy, cơ chế đăng ký thế chấp đối với nhà ở hình thành trong
tương lai đang bị bế tắc và không phát huy được mục đích, ý nghĩa cần
thiết.
Việc G.P Bank, Công ty Bảo Sơn và Công ty D & T ký cam kết 3 bên, trong đó có thoả thuận: “trong
thời gian Cam kết ba bên có hiệu lực, các bên không được phép tiết lộ
các thông tin liên quan đến Cam kết ba bên này, bên nào vi phạm sẽ phải
bồi thường cho bên bị vi phạm theo quy định của pháp luật” cũng
không có gì sai trái. Đây là thoả thuận bí mật thông tin hợp tác kinh
doanh nói chung, chứ không phải là thoả thuận bưng bít thông tin về
giao dịch thế chấp. Ngay cả trường hợp các bên định áp dụng điều khoản
này với giao dịch thế chấp tài sản, thì cũng không đồng nghĩa với việc
đó là thoả thuận ngăn cấm đăng ký giao dịch bảo đảm, vì cam kết bí mật
vẫn không loại trừ các nghĩa vụ đăng ký, cung cấp thông tin theo quy
định của pháp luật. Trong việc này, không phải là các bên không chấp
hành quy định về đăng ký thế chấp, mà là không thể đăng ký thế chấp như
đã phân tích ở trên. Do các bên đã xác định rõ điều này, nên tại hợp
đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai giữa G.P Bank với Công
ty D & T cũng đã xác định rõ ở khoản 3.8, Điều 3 về nghĩa vụ của
Công ty D & T (đồng thời là của người vay vốn) như sau: “Khi
hoàn thành xong việc đầu tư, xây dựng hoặc mua sắm tài sản bảo đảm, Bên
vay cam kết sẽ ký Hợp đồng thế chấp tài sản mới có xác nhận của cơ quan
công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phối
hợp với Ngân hàng làm thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy
định của pháp luật”.
Tóm lại, việc nhận thế chấp của ngân hàng trong các
trường hợp như trên vẫn là hợp pháp nhưng kết cục thì lại không được
bảo đảm về mặt pháp lý. Lỗi này không thuộc về các bên trong giao dịch
thế chấp. Nhưng nếu có sự cố dẫn đến không thu hồi được vốn vay, thì
cán bộ ngân hàng sẽ phải gánh đủ trách nhiệm và hậu quả. Vụ việc thế
chấp 47 căn biệt thự nói trên, ít nhất đã dẫn đến 1 phó tổng giám đốc,
1 trưởng phòng và 1 cán bộ tín dụng bị khởi tố, tạm giam trong tháng 4-2009 vừa
qua, với nhận định ban đầu là phạm lỗi cố ý làm trái. Nếu quy kết việc
nhận thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai là trái luật, thì những
quy định nói trên của Bộ luật Dân sự chính là kẻ “tội đồ”. Nếu suy diễn
việc không công chứng và đăng ký thế chấp là trái luật, thì Luật Nhà ở
và Luật Công chứng chính là “thủ phạm”. Như vậy, pháp luật về thế chấp
nhà ở và bất động sản khác hình thành trong tương lai còn lắm “tai
ương”. Là loại giao dịch bảo đảm hợp pháp, vô cùng cần thiết, nhưng để
áp dụng vào thực tế cuộc sống thì lại thành ra “nho còn xanh lắm”.
Lời giải xin dành cho Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm và các đạo luật liên quan cần được sửa đổi, bổ sung.
[1] “Giao dịch bảo đảm dù có vô hiệu cũng không làm
mất quyền được pháp luật đối xử bình đẳng” – Tạp chí Ngân hàng số 22
tháng 11-2008.
SOURCE: TẠP CHÍ DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT - LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------