Thực hiện áp dụng luật doanh nghiệp : Qui định chưa rõ, tòa lúng túng
Các tòa kinh tế hiện cũng còn không ít vướng mắc, khó khăn trong quá trình xử lý án, nhất là việc xác định thế nào là thành viên công ty, xử lý tài sản thế chấp… nên đã kiến nghị TAND Tối cao gỡ rối.
Tòa Kinh tế TAND TP.HCM than rằng khái niệm thành viên công ty hiện
đang khiến nhiều thẩm phán lúng túng, không biết xác định thế nào cho đúng.
Rối khái niệm thành viên công ty
Có người cho rằng khái niệm này trong Bộ luật Tố tụng dân sự không đồng
nghĩa với quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005. Nghĩa là khi có tranh chấp giữa
các thành viên của công ty với nhau thì tòa không phân biệt đó là công ty TNHH,
công ty hợp danh hay công ty cổ phần. Cuối cùng tòa phải theo luật tố tụng dân
sự mà giải quyết.
Tuy nhiên, có thẩm phán lắc đầu bảo không phải, khái niệm này được hiểu
giống nhau giữa hai luật. Nên khi có tranh chấp giữa các thành viên công ty
TNHH và công ty hợp danh thì tòa dựa vào luật doanh nghiệp để giải quyết. Riêng
tranh chấp giữa các thành viên của công ty cổ phần về cổ phiếu thì tòa dựa vào
luật tố tụng dân sự giải quyết.
Cạnh đó, tranh chấp việc góp vốn giữa các thành viên với nhau cũng có nhiều
quan điểm. Khi một thành viên chuyển nhượng vốn của mình cho một người ngoài dù
các thành viên khác đều biết nhưng hai người chưa đăng ký thay đổi thành viên
công ty thì khi có tranh chấp, người được chuyển nhượng không được coi là thành
viên công ty. Lúc này tòa phải giải quyết tranh chấp việc chuyển nhượng phần
góp vốn theo hợp đồng chuyển nhượng vốn góp.
Tuy nhiên, có người lại cho rằng người ngoài công ty nhưng được chuyển
nhượng vốn thì vẫn được coi là thành viên công ty khi có tranh chấp.
Những chuyện trên vừa mới được Tòa Kinh tế TAND TP.HCM kiến nghị TAND Tối
cao gỡ rối.
Thông qua nhà nước để xử lý tài sản
Tòa Kinh tế (TAND Tối cao) thì nêu thêm một vướng mắc liên quan đến cách
tuyên án khác nhau khi xử lý tài sản bảo lãnh vay tiền của ngân hàng, tổ chức
tín dụng mà người vay không trả được nợ.
Một bên cho rằng khi giải quyết án, tòa án phải tuyên người được bảo lãnh
vay phải trả nợ; nếu người vay không có khả năng trả thì người bảo lãnh phải
trả nợ thay cho người được bảo lãnh. Nếu người bảo lãnh cũng không có khả năng
trả nợ thì người nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cho bán đấu giá tài sản của người bảo lãnh để thu hồi nợ cho người nhận bảo
lãnh.
Một bên khác thì cho rằng nếu đến hạn trả nợ mà người được bảo lãnh không
thực hiện việc trả nợ thì tòa tuyên buộc người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ
trả nợ thay cho người được bảo lãnh và xử lý tài sản của người bảo lãnh để thu
hồi nợ cho người nhận bảo lãnh.
Tòa Kinh tế cho rằng quan điểm đầu là chấp nhận được. Ngoài ra, ngoài việc
quy định người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay thì luật còn quy định các
bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên
được bảo lãnh không có khả năng thanh toán. Như vậy, khi giải
quyết án, trước hết, tòa phải căn cứ vào thỏa thuận của các bên theo từng
trường hợp cụ thể nêu trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo lãnh bằng tài
sản.
Cấp tỉnh hay cấp huyện giải quyết
Trong thực tiễn cũng xảy ra trường hợp trong hợp đồng, các bên thỏa thuận chọn
tòa án cấp tỉnh giải quyết tranh chấp nếu có xảy ra. Tuy nhiên, theo quy định
thì những tranh chấp đó thuộc thẩm quyền tòa cấp huyện giải quyết. Như vậy, tòa
cấp tỉnh có quyền thụ lý, giải quyết hay không?
Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng thỏa thuận của các đương sự không phù hợp
quy định của pháp luật. Khi tòa cấp tỉnh nhận đơn thì phải chuyển về cho cấp
huyện thụ lý và báo cho các đương sự biết điều này.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia khác lại bảo pháp luật tố tụng dân sự không cấm
đương sự lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp. Do vậy, nếu các đương sự đã có
thỏa thuận thì sẽ căn cứ vào thỏa thuận đó mà giải quyết.
Theo Tòa Kinh tế (TAND Tối cao), quan điểm thứ nhất là hợp lý. Bởi ngoài
những căn cứ như ý kiến này nêu thì theo quy định, dù các đương sự có quyền lựa
chọn tòa án để giải quyết tranh chấp thì thỏa thuận đó phải chọn đúng tòa án có
thẩm quyền. Nếu chọn không đúng tòa thì dù tòa tỉnh có thụ lý thì cũng không có
thẩm quyền giải quyết…
Quy đổi ra tiền Việt Nam
Trên thực tế, nhiều đơn khởi kiện gửi đến tòa án đưa ra yêu cầu bằng ngoại
tệ… Trong những trường hợp này, tòa án phải yêu cầu đương sự quy đổi ra tiền
Việt Nam
và có cách tính cụ thể để ra số tiền phạt hợp đồng…
Điểm chung nhất là nội dung tranh chấp phải được phản ánh rõ ràng trong đơn
khởi kiện. Đặc biệt, đối với những tranh chấp có quy định bên bị vi phạm phải
thực hiện việc khiếu nại trước khi khởi kiện ra tòa án thì trong đơn kiện phải
thể hiện rõ các bên tranh chấp đã khiếu nại với nhau hay chưa.
Yêu cầu của đương sự trong các vụ án kinh doanh, thương mại là các yêu cầu
tính được bằng tiền và tranh chấp của loại án này không được miễn tạm ứng án
phí. Do đó, giá trị tranh chấp giữa các bên là cơ sở để tòa án tính tạm ứng án
phí.
Phải nắm vững quy định về thẩm quyền
Đối với các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, căn cứ để phân định
thẩm quyền theo cấp xét xử là phụ thuộc vào tính chất của tranh chấp và đương
sự hoặc tài sản ở nước ngoài… Theo đó thì chỉ những tranh chấp cụ thể quy định
tại khoản 1 Điều 29 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa cấp huyện. Đây là những
tranh chấp diễn ra phổ biến trên thực tế và tính phức tạp không cao.
Cuối cùng, để xác định tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền
giải quyết của tòa án địa phương mình hay không, thẩm phán phải vận dụng nguyên
tắc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên
đơn. Việc xác định này cũng giống như trong các tranh chấp về dân sự, hôn nhân
gia đình và lao động.
(Trích tài liệu tập huấn nghiệp vụ TAND TP.HCM)
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM - NHÓM
PHÓNG VIÊN BÁO PLTPHCM
Trích dẫn từ: http://phapluattp.vn/20100301112832250p0c1063/quy-dinh-chua-ro-toa-lung-tung.htm