Thực tiến áp dụng pháp luật: Nhận thức luật vênh nhau, dân lãnh đủ
Báo Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh nhiều trường hợp người mua nhà gặp rắc rối bởi các khoản nợ của chủ cũ. Mua nhà có chủ quyền hợp lệ, đi công chứng hợp đồng hẳn hòi, thậm chí có trường hợp đã đăng bộ xong nhưng người mua vẫn không thể thực hiện quyền sở hữu nhà.
Quy định đã hết hiệu lực nhưng cơ quan thi hành án vẫn vịn vào đó để ách các
giao dịch hợp pháp.
Ai bảo mua nhà của người mắc nợ!
Như bà P. (quận 6, TP.HCM) bị cơ quan thi hành án dọa kê biên căn nhà mà bà
đã mua để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của chủ cũ vì chủ cũ mắc nợ người khác
hơn 130 triệu đồng. Hay ông S. (thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè) cũng mắc kẹt vì
chủ cũ mắc nợ người khác hơn 100 triệu đồng. Căn nhà mà chủ cũ đã bán cho ông
cần phải kê biên để thi hành án.
Cơ quan thi hành án dựa vào Thông tư liên tịch số 12 ngày 26-2-2001 của Bộ
Tư pháp và VKSND tối cao để lý giải quyền kê biên căn nhà của chủ cũ, ách lại
giao dịch mua bán nhà hợp pháp đã thực hiện xong của người dân. Điểm a khoản 1
mục IV thông tư này quy định: “Đối với các trường hợp sau khi có bản án, quyết
định của tòa án, người phải thi hành án đã chuyển nhượng các tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản đó và có văn
bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch đó. Người được thi hành án,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
hoặc khởi kiện yêu cầu tòa án hủy bỏ giao dịch đó”.
Căn cứ vào quy định này, cơ quan thi hành án cho rằng người mua có thể khởi
kiện chủ cũ ra tòa về hợp đồng mua bán nhà đã ký kết.
Bất đồng nhận thức
Từng có luật sư phân tích rằng điều khoản vừa nêu của Thông tư liên tịch số
12 đang chỏi với Luật Nhà ở (có hiệu lực kể từ ngày 1-7-2007). Khoản 5 Điều 93
Luật Nhà ở quy định quyền sở hữu nhà được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm
hợp đồng mua bán được công chứng. Nghĩa là người mua mới (như bà P., ông S.) đã
trở thành chủ sở hữu nhà. Buộc họ phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ của
chủ cũ là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Nhận định của vị luật sư này trùng khớp với quan điểm của TAND TP.HCM. Trong
tài liệu tập huấn nghiệp vụ về thủ tục tố tụng dân sự và về luật dân sự phát
hành hồi tháng 6-2008, TAND TP.HCM cho rằng các tài sản hợp pháp của người phải
thi hành án nếu không bị kê biên, không phải là tài sản thế chấp (bị hạn chế
quyền sở hữu) thì hợp đồng chuyển dịch quyền sở hữu giữa họ với người khác phải
được bảo vệ theo pháp luật.
TAND TP.HCM phân tích cho thấy cơ quan thi hành án đang áp dụng một văn bản
đã hết hiệu lực từ lâu. Bởi lẽ Thông tư liên tịch số 12 ra đời trong khoảng
thời gian Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 có hiệu lực và được dùng để
thực hiện việc thi hành án theo pháp lệnh này. Đến ngày 1-7-2004, Pháp lệnh Thi
hành án dân sự năm 2004 thay thế pháp lệnh năm 1993 và không còn nội dung quy
định như Thông tư liên tịch số 12 nữa. Nghĩa là kể từ ngày 1-7-2004 trở đi,
Thông tư liên tịch số 12 đã đương nhiên hết hiệu lực.
Dân lãnh đủ
TAND TP.HCM còn quán triệt quan điểm phải trả lại đơn khởi kiện nếu người
được thi hành án thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu tòa án hủy bỏ giao dịch theo
hướng dẫn của cơ quan thi hành án. Trong trường hợp đã thụ lý, tòa án cần đình
chỉ giải quyết vụ án vì chưa đủ điều kiện khởi kiện. Bởi lẽ Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2004 và Bộ luật Dân sự năm 2005 không quy định tư cách chủ thể khởi kiện
cho người được thi hành án trong việc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng mua bán tài sản
mà người phải thi hành án đã chuyển nhượng hợp pháp cho người khác.
Luật chỉ có một nhưng nhận thức luật của người vận dụng lại vênh nhau. Về
nguyên tắc, cơ quan ban hành phải đảm bảo tính thống nhất trong các văn bản
pháp luật. Lâu nay việc kiểm tra, rà soát tính hiệu lực của các văn bản pháp
luật chưa được thực hiện tốt, dẫn đến cái này chỏi cái kia, cái kia đá cái nọ. Khi
không có tuyên bố chính thức văn bản hết hiệu lực, cơ quan nào cũng tin rằng
nhận thức luật của mình là đúng và mặc sức vận dụng bất kể cơ quan khác áp dụng
nó ra sao.
Hậu quả là người dân phải lãnh đủ thiệt hại từ sự bất đồng của cơ quan nhà
nước.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM - HOÀNG LAM
Trích dẫn từ:
http://www.phapluattp.vn/news/ban-doc/view.aspx?news_id=27720