Thực tiễn thực hiện các điều kiện thương mại chung và những vấn đề đặt ra để bảo vệ người tiêu dùng
Để phù hợp với số lượng người tiêu dùng (NTD) ngày càng tăng cũng như tạo thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của mình, nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có số lượng khách hàng lớn đã lựa chọn giải pháp chung là đưa ra các quy định, hợp đồng mẫu, điều kiện bán hàng (sau đây gọi tắt là “điều kiện thương mại chung”) áp dụng cho tất cả khách hàng của mình.
Lời dẫn:
Sẽ chẳng có gì để nói nếu các điều kiện thương mại này là hợp lý và đảm bảo
được các quyền cơ bản của NTD theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trên thực
tế không phải lúc nào cũng vậy và NTD Việt Nam vẫn có thể bị vi phạm quyền lợi
thông qua các điều kiện thương mại chung này. Vậy vấn đề này thể hiện trên thực
tế như thế nào? Các quy định của pháp luật hiện hành đã đủ để điều chỉnh các
hành vi nói trên hay chưa? Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đưa ra một
số phân tích cũng như kiến nghị đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật tại Việt Nam.
1. Sự hình thành và thực tiễn thực hiện các điều kiện thương mại chung
Trước đây khi nền kinh tế của nước ta chưa phát triển, tình trạng làm ăn
manh mún, nhỏ lẻ và mỗi doanh nghiệp chỉ có một lượng khách hàng không đáng kể.
Tuy nhiên, kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa kinh tế cùng
với xu thế hội nhập và phát triển đã buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải “tư
duy lại” và họ đã đạt được những thành công nhất định. Cùng với sự phát triển
kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng, đời sống của nhân dân cũng không ngừng
được cải thiện, người dân từ nhu cầu “ăn no mặc ấm” dần dần chuyển sang nhu cầu
“ăn ngon mặc đẹp”, các hàng hoá, dịch vụ xa xỉ cũng được NTD Việt Nam đón nhận
một cách sôi động. Đã có những doanh nghiệp có số lượng NTD lên đến hàng nghìn
thậm chí là hàng triệu người nhất là những doanh nghiệp kinh doanh các hàng
hóa, dịch vụ thiết yếu đối với NTD và các doanh nghiệp lớn khác. Sự thuận tiện
của các điều kiện thương mại chung là không phải bàn cãi, tuy nhiên, xung quanh
vấn đề này cũng còn nhiều việc đáng quan tâm.
Do NTD không được trực tiếp đàm phán, thỏa thuận các điều khoản trong các
hợp đồng theo mẫu cũng như phải chấp nhận các điều kiện thương mại khác một
cách bị động nên trong nhiều trường hợp NTD gặp phải rất nhiều rủi ro. Thực
tiễn công tác bảo vệ NTD cho thấy, NTD có thể bị xâm phạm thông qua một trong
các hình thức sau:
Thứ nhất, điều kiện thương mại chung có những quy định nhằm hạn chế,
loại bỏ quyền của NTD. Dựa trên cơ sở tự do thỏa thuận, tự do giao kết của pháp
luật dân sự mà trong nhiều hợp đồng theo mẫu, quy tắc bán hàng thương nhân quy
định: NTD không được khiếu nại sau đã mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ hay
hàng đã mang ra khỏi cửa hàng thì không được trả lại với bất kỳ lý do gì,…
Trong trường hợp NTD ký vào các bản hợp đồng hay chấp nhận các điều kiện bán
hàng như vậy thì các quy định đó đương nhiên có hiệu lực trên thực tế. Tuy
nhiên, rõ ràng đây là những điều khoản hết sức bất lợi cho NTD trong khi theo
các quy định của pháp luật, họ hoàn toàn có quyền thực hiện việc khiếu nại, đổi
hàng khi hàng có khuyết tật,…
Thứ hai, điều kiện thương mại có quy định nhằm buộc NTD phải gánh
chịu những rủi ro bất hợp lý. Các quy định này thường buộc NTD phải chịu những
rủi ro mà lẽ ra họ không phải chịu theo quy định của pháp luật; đồng thời loại
trừ trách nhiệm của thương nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải chịu.
Anh P.C.T ở Hải Phòng rất bức xúc về việc gia đình anh phải ký hợp đồng cung
cấp nước sạch trong đó có điều khoản về NTD phải chịu phụ phí do thất thoát
nước trên đường vận chuyển. Mặc dù số tiền phải trả không phải là lớn lắm,
chỉ khoảng vài ba nghìn đồng nhưng rõ ràng là không thể chấp nhận, việc thất
thoát nước trên đường vận chuyển là trách nhiệm của đơn vị cung cấp chứ không
phải của NTD – anh P.C.T ấm ức! Hay như gần đây, báo chí phản ánh vụ việc
một khách hàng dự định sẽ kiện ngân hàng vì ngân hàng trốn tránh trách nhiệm
trong việc để kẻ gian rút tiền của họ từ số tiết kiệm. Vụ việc như sau: theo
lời NTD, ngày 23/7, chị phát hiện bị mất một sổ tiết kiệm có giá trị 60 triệu
đồng cùng một số giấy tờ tùy thân. Ngay sau đó, chị đã liên lạc với ngân hàng X
nơi chị gửi tiền tiết kiệm để thông báo việc mất thẻ. Bất ngờ, phía ngân hàng
cho biết cách đó hai ngày đã có người dùng giấy chứng minh nhân dân (CMND) của
chị để rút tiền và giao dịch đã được chấp nhận. Rất may công an đã bắt được
người rút tiền thông qua hệ thống camera theo dõi của ngân hàng. Tuy nhiên, vụ
việc chưa dừng lại ở đó, NTD rất bức xúc khi ngân hàng X chối bỏ hoàn toàn
trách nhiệm và đổ lỗi cho NTD. Lý lẽ mà ngân hàng viện dẫn là trong quy chế
tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng đã có quy định: Khách hàng phải cất giữ thẻ
tiết kiệm cẩn thận, khi mất thẻ phải thông báo ngay cho ngân hàng bằng điện
thoại. Trong vòng 24 tiếng sau khi thông báo bằng điện thoại, khách hàng phải
trực tiếp đến ngân hàng để làm giấy báo mất thẻ tiết kiệm. Nếu không thông báo
kịp thời, khách hàng phải tự chịu trách nhiệm về những thiệt hại xảy ra. Ở
trường hợp cụ thể này, do phát hiện quá trễ nên phải mấy ngày sau kể từ lúc mất
sổ tiết kiệm, chị Sương mới báo tin cho ngân hàng. Lúc đi rút tiền, kẻ gian vừa
có sổ tiết kiệm, vừa kèm theo CMND. Do đó, ngân hàng không có lý do gì để từ
chối giao dịch. NTD không đồng tình với quan điểm của ngân hàng. Bởi lẽ, mỗi cá
nhân khi gửi tiết kiệm đều có đăng ký mẫu chữ ký tại ngân hàng. Khi được cho
xem những giấy tờ do ngân hàng lưu giữ, chị nhận ra ngay những khác biệt lớn
giữa chữ ký của kẻ gian và chữ ký mẫu của chị. Bên cạnh đó, tuy người rút tiền
có xuất trình CMND nhưng nếu biết đối chiếu, so sánh,… thì nhân viên ngân hàng
sẽ dễ dàng phát hiện người cầm CMND đó không phải là chủ nhân của sổ tiết kiệm[*].
Vụ việc sẽ được phân xử đúng sai tại Tòa án, tuy nhiên, qua vụ việc này có thể
thấy rõ NTD rất dễ bị “cài bẫy” trước các điều kiện thương mại chung.
Thứ ba, các điều kiện thương mại chung với những thuật ngữ chuyên môn
khó hiểu gây cản trở NTD trong quá trình giao kết và thực hiện giao dịch. Trong
nhiều trường hợp NTD không thể hiểu được các thuật ngữ chuyên môn của các điều
kiện thương mại mà thương nhân đưa ra. Do vậy, họ không hoàn toàn nhận thức
được bản chất của các điều khoản, điều kiện đó. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp,
phần thiệt thường thuộc về NTD. Nhiều người khi đọc các hợp đồng như hợp đồng
bảo hiểm, hợp đồng tín dụng, hợp đồng xây dựng, hợp đồng mua bán căn hộ,… không
thể nào hiểu được những từ ngữ quy định trong hợp đồng đó và do vậy, trong
nhiều trường hợp NTD đành “nhắm mắt ký”. Tất nhiên, các thuật ngữ chuyên môn nhiều
khi rất khó để diễn tả được một cách thông dụng để ai cũng hiểu được nhưng cũng
không ít trường hợp thương nhân cố tình đưa ra những thuật ngữ đó nhằm “che
mắt” NTD. Rõ ràng NTD cần hết sức cẩn thận khi giao kết những điều kiện thương
mại như vậy.
Thứ tư, thương nhân cố tình cản trở việc tiếp cận điều kiện thương
mại chung bằng việc đưa ra các điều kiện này dưới những hình thức không thuận
tiện cho NTD. Nhiều người phàn nàn khi họ phải ký kết các hợp đồng theo mẫu mà
trong đó cỡ chữ cũng như cách trình bày rất khó đọc đặc biệt là đối với những
người cao tuổi, người có thị lực kém. Các hợp đồng loại này thường là rất dài,
có khi lên đến cả chục trang, do vậy trong nhiều trường hợp không thể đọc hết
hợp đồng hoặc không đủ “kiên nhẫn” để đọc hết hợp đồng vì hợp đồng cần phải
được ký ngay. Trong trường hợp này rõ ràng NTD có nguy cơ chịu rủi ro rất lớn
nếu có tranh chấp phát sinh.
Trên đây chỉ là những trường hợp điển hình của việc áp dụng các điều kiện
thương mại chung trên thực tế. Vấn đề đặt ra là các quy định của pháp luật đã
đủ để bảo vệ NTD khi giao kết, thực hiện các điều kiện thương mại chung này hay
chưa?
2. Kinh nghiệm quốc tế
Pháp luật Bảo vệ quyền lợi NTD ở nhiều nước trên thế giới quy định rất rõ về
các vấn đề liên quan đến điều kiện thương mại chung áp dụng cho NTD đặc biệt là
vấn đề hợp đồng theo mẫu. Điều 11 Luật Bảo vệ NTD Đài Loan quy định, khi doanh
nghiệp kinh doanh có ý định đưa ra một hợp đồng theo mẫu thì phải để một thời
gian ít nhất là 30 ngày để NTD xem xét lại nội dung của tất cả các điều khoản
và điều kiện. Đồng thời, Luật cũng cho phép cơ quan có thẩm quyền ở cấp trung
ương có thể xem xét thông báo đến NTD trong một thời gian thích hợp để NTD có
thể xem xét các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ở một số ngành. Điều 11
cũng quy định: nếu các điều khoản và điều kiện trong hợp đồng theo mẫu được
hiểu theo nhiều nghĩa thì phải giải thích trên cơ sở có lợi cho NTD. Luật
cũng quy định nếu điều khoản của hợp đồng không công bằng đối với NTD thì bị
coi là vô hiệu.
Luật Bảo vệ NTD của Quebec (Canada) cũng
như bản hướng dẫn thực thi Luật đã quy định một cách chi tiết các vấn đề liên
quan đến hợp đồng tiêu dùng theo mẫu. Điều 8, Luật Bảo vệ NTD Quebec khẳng
định: NTD có thể đề nghị tuyên bố vô hiệu một hợp đồng hoặc đề nghị giảm
nghĩa vụ của mình nếu trong hợp đồng thể hiện rõ sự không cân xứng giữa phần
nghĩa vụ tương ứng của các bên mà phần lớn thuộc về NTD hoặc nếu nghĩa vụ của
NTD là quá nhiều, không hợp lý. Điều này có nghĩa là một hợp đồng có thể bị
tuyên là vô hiệu nếu nó chứa đựng những điều khoản gây bất lợi cho NTD về phần
nghĩa vụ mà NTD phải thực hiện. Tuy nhiên, Luật không coi trong trường hợp này
hợp đồng sẽ bị vô hiệu đương nhiên mà chỉ bị tuyên là vô hiệu khi có yêu cầu
của NTD. Đây là một quy định bảo vệ NTD một cách rõ ràng trong trường hợp họ
thấy những quy định trong hợp đồng là vô lý.
Tại Điều 10, Điều 11 cũng quy định về những điều khoản bị cấm, theo đó: Bất
kì quy định nào mà nhờ đó một thương nhân được giải phóng khỏi hậu quả do việc
làm của chính thương nhân hoặc đại diện của thương nhân đó gây ra và bất
kì quy định nào mà nhờ đó một thương nhân có quyền quyết định đơn phương kết
luận là NTD không hoàn thành nghĩa vụ đều bị cấm. Như vậy, kể cả khi điều
khoản bất lợi trong hợp đồng chưa gây thiệt hại cho NTD cũng như NTD không đề
nghị hủy bỏ hoặc tuyên vô hiệu hợp đồng nhưng nếu hợp đồng chứa những nội dung
bị cấm (giải phóng nghĩa vụ của thương nhân) thì đều bị cấm. Luật Bảo vệ NTD
Quebec cũng quy định rất chi tiết về cách thức trình bày hợp đồng theo mẫu, cỡ
chữ hợp đồng, màu sắc hợp đồng và thậm chí là loại giấy dùng để in hợp đồng
theo mẫu.
Một số nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc,…thậm chí còn ban hành Luật về hợp
đồng theo mẫu trong đó đưa ra những quy định rất cụ thể để bảo vệ NTD khi xác
lập giao dịch thông qua hình thức đặc thù này.
3. Quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến các điều kiện
thương mại chung
Có thể nói rằng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến việc
bảo vệ NTD khi giao kết, thực hiện các điều kiện thương mại chung còn rất nhiều
hạn chế và chưa điều chỉnh được các vấn đề phát sinh trên thực tế. Mặc dù Bộ
luật Dân sự đã có một số quy định liên quan đến vấn đề này, ví dụ, Điều 407 có
quy định: Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì
bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó.
Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa
ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của
bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi thì các quy định của Bộ luật Dân sự là
chưa đầy đủ và mang tính chất chung chung, thiếu những quy định cụ thể, trực
tiếp bảo vệ quyền lợi NTD khi giao kết, thực hiện các điều kiện thương mại
chung.
Như vậy, có thể nói rằng các điều kiện thương mại chung đã, đang và sẽ được
áp dụng một cách phổ biến trên thực tế. Vì vậy, việc bảo vệ NTD khi giao kết,
thực hiện các điều kiện thương mại chung là việc làm hết sức cần thiết. Các quy
định của pháp luật hiện hành chưa thực sự là công cụ để bảo vệ NTD liên quan
đến vấn đề này. Hy vọng, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD trong thời gian tới sẽ có
những quy định cụ thể để NTD Việt Nam thực sự yên tâm khi tham gia giao kết,
thực hiện các điều kiện thương mại chung trên thực tế.
[*] Theo Xa Luan.com tại địa chỉ:
http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=74148
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH – BỘ CÔNG
THƯƠNG - VĂN THÀNH
Trích dẫn từ: http://www.vcad.gov.vn/Web/Content.aspx?distid=2016&lang=vi-VN
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)