Thực trạng công tác quản lý nhà nước hoạt động chuyển giao công nghệ các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Quản lý nhà nước (QLNN) hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN) là một trong những chức năng quản lý nhà nước đang diễn ra tại các địa phương. Tuy nhiên thời gian qua, vì nhiều lý do nên việc thực hiện chức năng này tại các địa phương còn nhiều hạn chế .
Bài viết sau đây sẽ đề cập đến thực trạng của công
tác quản lý nhà nước hoạt động CGCN đối với các dự án đầu tư tại tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu (BR-VT), qua đó đề xuất một số nội dung quản lý nhà nước
tại địa phương cần phải hoàn thiện để nâng cao vai trò quản lý nhà nước
đối với hoạt động này trong thời gian tới.
Hiện nay, đầu mối tiếp nhận các dự án đầu tư trên địa
bàn tỉnh BR – VT là Sở Kế hoạch đầu tư (quản lý các dự án đầu tư ngoài
các khu công nghiệp) và Ban quản lý các khu công nghiệp (tiếp nhận các
dự án đầu tư trong khu công nghiệp). Sở Kế hoạch – đầu tư và Ban quản lý
các khu công nghiệp là cơ quan ra quyết định hoặc tham mưu cho UBND
tỉnh ra quyết định cấp giấy phép đầu tư trên cơ sở tập hợp ý kiến đóng
góp của các sở, ban, ngành liên quan.
Theo chức năng, Sở Khoa học và Công nghệ chịu trách
nhiệm về nội dung xem xét các vấn đề công nghệ và hợp đồng CGCN các dự
án cùng việc xác nhận những cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư, đổi
mới công nghệ của các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư.
Vấn đề thẩm định/thẩm tra công nghệ dự án đầu tư:
Từ 2001 cho tới nay (chủ yếu từ 2006 trở lại đây) có
khoảng 30 dự án đầu tư trong và ngoài nước được lấy ý kiến về công nghệ
hoặc làm thủ tục thẩm định công nghệ. Công tác thẩm định công nghệ tại
tỉnh được thực hiện theo quy định cụ thể về quy trình thủ tục từ giao
nộp hồ sơ, phương pháp thẩm định (chuyên viên, chuyên gia, tổ chức hội
đồng, trả lời ý kiến.v.v.)
Quá trình thẩm định một số dự án đầu tư thấy rằng.
Đối với các dự án đầu tư trong nước hầu hết các dự án chưa hoàn thiện về
mặt công nghệ. Dây chuyền công nghệ chưa được đầu tư hệ thống xử lý môi
trường, nếu có thì công suất xử lý không đảm bảo. Sau khi thẩm định
nhiều doanh nghiệp đã phải bổ sung hoặc thay đổi lại thiết kế ban đầu.
Một số doanh nghiệp có dự án đầu tư nhưng năng lực tài chính không đủ
thực hiện theo mức độ và quy mô đầu tư, hoặc có dự án đầu tư sử dụng vốn
nhà nước lựa chọn phương án nhập các dây chuyền công nghệ lạc hậu lỗi
thời của Trung quốc đang tìm cách bán lại cho doanh nghiệp Việt Nam với
giá rẻ. Đối với các dự án này, cơ quan thẩm định công nghệ đã có những
khuyến cáo, nhưng các doanh nghiệp này vẫn thực hiện.Thực tế chỉ một
thời gian sau đi vào hoạt động các doanh nghiệp này đã bị đóng cửa.
Đối với dự án của doanh nghiệp nước ngoài, đến
nay cơ quan quản lý khoa học và công nghệ tại địa phương chính thức đã
góp ý cho 02 dự án (Thép POSCO Hàn quốc và dệt kim Eclact – Đài loan) và
thẩm định cho 01 dự án đầu tư của Công ty KBEC Hàn quốc về đầu tư chôn
lấp chất thải hợp vệ sinh – công nghệ của dự án được coi là hoàn thiện
và tiên tiến nhất so với các dự án xin được đầu tư trong lĩnh vực xử lý
chất thải hiện nay. Tuy nhiên, qua thẩm định, dự án cũng phải chỉnh sửa
lại để hoàn thiện thêm về mặt công nghệ, nâng cao thêm công suất xử lý
nước thải để đảm bảo xử lý khối lượng nước thải tránh hiện tượng ô nhiễm
môi trường.
Như vậy, công tác thẩm định công nghệ các dự án đầu
tư không những giúp cho cơ quan QLNN kiểm soát được các vấn đề liên quan
đến công nghệ và CGCN, đảm bảo ngăn chặn nạn ô nhiễm môi trường. Ngoài
ra công tác thẩm định còn giúp cảnh báo cho doanh nghiệp những rủi ro
liên quan đến dự án đầu tư để từ đó giúp doanh nghiệp có hướng đầu tư
mới mang lại hiệu quả.
Qua thời gian thực hiện, xét về tổng thể công tác
quản lý nhà nước hoạt động chuyển giao công nghệ đối với các dự án đầu
tư thực hiện chưa tốt do các nguyên nhân sau:
-Do nhân sự phụ trách công tác quản lý công nghệ của
cơ quan quản lý khoa học công nghệ thiếu, phải kiêm nhiệm nhiều công
việc nên trong thời kỳ đầu chậm tham mưu triển khai công tác QLNN về
CGCN. Vì vậy, mặc dù có văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước quy định
các dự án đầu tư phải thẩm định về công nghệ (1987), và có văn bản
hướng dẫn thi hành từ rất lâu (1997) nhưng phải tới năm 2001, cơ quan
chuyên môn mới tham mưu được cho UBND tỉnh ban hành Chỉ thị quản lý công
nghệ và hoạt động CGCN tại địa phương.
-Sau khi có sự chỉ đạo của UBND tỉnh, sự nhận thức,
phối hợp triển khai công tác QLNN của các cơ quan đầu mối tiếp nhận dự
án đầu tư ( Sở Kế hoạch và Đầu tư; Ban quản lý các khu công nghiệp) đối
với quản lý dự án đầu tư hiện nay chưa tốt, rất ít dự án chuyển đến xin ý
kiến thẩm tra/ thẩm định về công nghệ. Trong quy trình thủ tục xem xét
các dự án đầu tư trong giai đoạn cấp giấy phép đầu tư do UBND tỉnh mới
ban hành (Quyết định số 23/2007/QĐ-UBND) cũng không có bước phải xem xét thẩm tra/thẩm định về công nghệ.
-Luật đầu tư mới ban hành, có những quy định mới về
hình thức xem xét (thẩm tra/ thẩm định), quy định rõ trách nhiệm hướng
dẫn thi hành của các Bộ ngành đối với việc thẩm tra/ thẩm định các dự án
đầu tư trong giai đoạn cấp giấy phép đầu tư. Cho đến nay đã ba năm thực
hiện, việc ban hành hướng dẫn thực hiện vẫn chưa đầy đủ.
Chính vì qúa trình thẩm định dự án của các ngành liên
quan không đầy đủ, thiếu thẩm định về mặt công nghệ nên không tính
toán, kiểm toán được lượng chất thải phát sinh, quá trình sản xuất mới
phát sinh nhiều loại chất thải rắn là chất thải công nghiệp và chất thải
nguy hại rất khó xử lý.
Vấn đề đăng ký, phê duyệt hợp đồng CGCN:
Thời gian qua không có hợp đồng CGCN nào được đăng ký
hoặc phê duyệt tại cơ quan chức năng thuộc tỉnh BR-VT. Toàn bộ các dự
án đầu tư trong và ngoài nước của tỉnh chỉ có 6 hợp đồng được xác nhận
đăng ký và phê duyệt tại Bộ Khoa học và Công nghệ (xem bảng dưới đây).
Bảng thống kê các hợp đồng CGCN của tỉnh BR-VT được xác nhận đăng ký và phê duyệt tại Bộ Khoa học và Công nghệ
|
TT
|
Tên hợp đồng
|
Bên giao
|
Bên nhận
|
|
1
|
Hợp đồng CGCN sản xuất kính nổi
|
Nippon Sheet Glass (Japan)
|
Cty TNHH công nghiệp kính nổi Việt Nam ( Địa chỉ : KCN Mỹ Xuân A, BR-VT)
|
|
2
|
Hợp đồng CGCN sản xuất Thép mạ hợp kim nhôm – kẽm
|
Công ty Biec International Inc (Hoa Kỳ)
|
Công ty TNHH Bluscope Steel Việt Nam (Địa chỉ : KCN Phú Mỹ 1, BR-VT)
|
|
3
|
Hợp đồng CGCN sản xuất nhựa đường
|
Total Raffinage Distribution S.A (Pháp)
|
Công ty TNHH liên doanh Nhựa đường Total VN
|
|
4
|
Hợp đồng CGCN sản xuất sản phẩm khí
|
Công ty TNHH Foster Wheeler
|
Công ty Chế biến và Kinh doanh các sản phẩm khí
|
|
5
|
Hợp đồng CGCN sản xuất Urê
|
Snamprogetti (Italy)
|
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Nhà máy đạm Phú Mỹ)
|
|
6
|
Hợp đồng CGCN sản xuất Amoniăc
|
Haldor Topsoe (Đan Mạch)
|
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Nhà máy đạm Phú Mỹ)
|
(Nguồn: Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định công nghệ
Bộ Khoa học và công nghệ, tháng 8 năm 2008)
Kết quả thẩm định hợp đồng CGCN của Bộ Khoa học và
Công nghệ và một số địa phương cho thấy rằng việc thẩm định hợp đồng
CGCN đã ngăn chặn được những công nghệ lạc hậu, lỗi thời là những mối
nguy cơ tiềm ẩn về mặt môi trường sinh thái, ngăn chặn được sự khai
khống giá công nghệ để nâng giá trị vốn góp từ đó thực hiện việc ép đối
tác Việt Nam trong quá trình thực hiện, hoặc là hình thức để trốn nghĩa
vụ nộp thuế đối với nhà nước. Đồng thời việc thẩm định những hợp đồng
CGCN đã bảo vệ được các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt các doanh nghiệp
sử dụng vốn nhà nước tránh được những thiệt hại, rủi ro đáng kể do thiếu
thông tin về công nghệ, thiếu kiến thức pháp lý, thương mại và thiếu
kinh nghiệm giao dịch công nghệ, nên bị đối tác đưa ra hạn chế, ràng
buộc áp đặt vô lý trái với quy định của pháp luật Việt Nam trong thời kỳ
đầu hội nhập.
Nguyên nhân các doanh nghiệp e ngại việc làm
thủ tục đăng ký/ phê duyệt hợp đồng CGCN sẽ bị can thiệp đến giá công
nghệ chuyển giao, thời hạn hiệu lực hợp đồng, thời hạn hợp đồng làm chậm
quá trình đầu tư.
Để đáp ứng lợi ích lâu dài của quốc gia là tạo sự
thông thoáng để đón những dòng công nghệ mới, tiên tiến từ nước ngoài
vào Việt Nam. Hiện nay việc đăng ký/ phê duyệt hợp đồng CGCN hầu như đã
bị bãi bỏ. Doanh nghiệp chỉ phải làm thủ tục xin phê duyệt những hợp đồng hạn chế chuyển giao tại Bộ Khoa học và Công nghệ.
Điều này giúp doanh nghiệp được tự chủ trong kinh doanh. Nhưng đó cũng
là những khó khăn thách thức đối với doanh nghiệp trong thời gian tới,
do dịch vụ CGCN ở Việt Nam chưa phát triển. Doanh nghiệp muốn có công
nghệ đầy đủ và hơn thế nữa, buộc doanh nghiệp phải tự mình trang bị cho
mình những kiến thức về quản lý công nghệ xuyên suốt quá trình từ tìm
kiếm công nghệ, giao dịch công nghệ, tiếp thu làm chủ được công nghệ
tiến tới cải tiến đổi mới xuất khẩu công nghệ.
Việc thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi hỗ trợ liên quan đến hoạt động CGCN trong đầu tư:
Rất hiếm doanh nghiệp tham gia hoạt động CGCN trong
đầu tư tại BR-VT được hưởng chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế theo chính
sách khuyến khích, ưu đãi hiện hành. Một phần do cả doanh nghiệp lẫn
một số cán bộ thuộc các cơ quan quản lý của nhà nước chưa nắm được chủ
trương chính sách. Mặt khác, do việc phân cấp, phân quyền ở trung ương
và địa phương đối với công tác triển khai thực hiện chưa hợp lý, thiếu
văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể:
-Theo Luật CGCN thì hàng hóa nhập khẩu để sử dụng
trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu triển khai và đổi mới công nghệ như
máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư trong nước chưa sản xuất được thì
được miễn thuế nhập khẩu. Tuy nhiên tại Nghị định 149 hướng dẫn Luật
thuế xuất khẩu,nhập khẩu, Chính phủ lại giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư
ban hành danh mục vật tư xây dựng trong nước đã sản xuất được để làm căn
cứ thực hiện miễn thuế. Cho đến nay văn bản này vẫn chưa được ban hành,
nên doanh nghiệp thuộc đối tượng ưu đãi gặp nhiều khó khăn trong việc
xin miễn thuế xuất, nhập khẩu.
-Về việc phân cấp giải quyết chính sách miễn giảm
thuế cho doanh nghiệp, tại Thông tư số 2341/2000/TTLT/BKHCNMT-BTC hướng
dẫn thi hành một số cơ chế và chính sách doanh nghiệp đầu tư vào hoạt
động khoa học và công nghệ thì Bộ Khoa học và Công nghệ và Môi trường có
ý kiến bằng văn bản đối với các hợp đồng, dự án, đề tài nghiên cứu
triển khai từ 100 triệu trở lên…. với quy định như vậy sẽ rất mất thời
gian và tốn kém cho các doanh nghiệp ở phía Nam thuộc diện miễn giảm như
BR-VT.
Ý kiến đề xuất kiến nghị
Trước thực trạng của công tác quản lý nhà nước hoạt
động CGCN đối với các dự án đầu tư nêu trên, trong thời gian tới để đẩy
mạnh đổi mới công nghệ, tiếp nhận các công nghệ mới, công nghệ tiên tiến
từ lĩnh vực đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng
lực cạnh tranh trong qúa trình hội nhập quốc tế, bảo đảm phát triển bền
vững, bên cạnh việc cần kiến nghị các cấp trung ương hoàn thiện văn bản
quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách về hoạt động CGCN trong đầu tư,
tỉnh cần tập trung hoàn thiện một số việc sau:
-Trên cơ sở các văn bản do nhà nước ban hành, cơ quan
quản lý KHCN tại địa phương phối hợp với các sở ban ngành khẩn trương
tham mưu cho UBND tỉnh triển khai thực hiện thống nhất hoặc cụ thể hóa
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động CGCN tại địa
phương.
-Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy để đảm bảo thực
hiện chức năng quản lý nhà nước đối với việc quản lý hoạt động chuyển
giao công nghệ.
-Đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công chức trong quá trình tổ chức thẩm tra/ thẩm định công nghệ dự án đầu tư.
-Tăng cường mối quan hệ, hợp tác chặt chẽ với các
chuyên gia tại các viện trường tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân
cận để phát huy vai trò hội đồng tư vấn thẩm tra/ thẩm định công nghệ
dự án đầu tư. Tỉnh cần bố trí kinh phí ngân sách cho hoạt động thẩm tra/
thẩm định công nghệ dự án đầu tư cho các thành viên hội đồng.
-Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám định công nghệ trong các dự án đầu tư.
-Nghiên cứu xây dựng trung tâm giao dịch công nghệ
nhằm phát triển thị trường công nghệ để cung cấp thông tin, tư vấn cho
doanh nghiệp trong qúa trình đầu tư, đổi mới công nghệ, và đẩy mạnh các
giao dịch công nghệ.
-Cần thông tin tuyền truyền sâu rộng cho các doanh
nghiệp về các cơ chế, chính sách liên quan đến việc đầu tư, đổi mới công
nghệ gắn liền với các dự án đầu tư, và thực hiện tốt các cơ chế, chính
sách này cho các doanh nghiệp.
-Cần có chính sách hỗ trợ đào tạo cho doanh nghiệp có
nhu cầu đổi mới công nghệ để nâng cao khả năng giao dịch, đàm phán công
nghệ . Đồng thời cần có chính sách khuyến khích sự phát triển của các
doanh nghiệp dịch vụ CGCN để tăng cường hơn nữa hoạt động CGCN tại địa
phương.
SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, Số 598, tháng 3 năm 2009, tr 30 – 32
NGUYỄN VÂN ANH – Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu