Thuế thu nhập cá nhân sau 2 năm thực hiện: Một số bất cập nảy sinh và hướng giải quyết
Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 21/11/2007, chính thức áp dụng từ 01/01/2009, đánh dấu một bước hoàn thiện trong hệ thống thuế của Việt Nam. Mặc dù, Luật Thuế TNCN được chuẩn bị, xây dựng khá kỹ lưỡng, lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp xã hội từ hơn 3 năm trước khi ban hành, nhưng khi triển khai Luật vào thực tế cuộc sống, không thể tránh khỏi những bất cập, vướng mắc nảy sinh đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết… Từ thực tế áp dụng Thuế TNCN trên địa bàn Hà Nội cũng cho thấy điều đó.
Những thành công ban đầu…
Nhìn chung, qua 2 năm triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN, Cục thuế Hà Nội
đã chú trọng công tác tuyên truyền, hướng dẫn đối tượng nộp thuế với nhiều hình
thức phong phú đa dạng, nội dung cụ thể, thiết thực, dễ hiểu giúp người dân
hiểu về ý nghĩa của việc thực hiện nghĩa vụ thuế, phương pháp kê khai, tính
thuế, nộp thuế, quyết toán thuế. Đồng thời, Cục Thuế đã chỉ đạo các Chi cục
phân công cán bộ có năng lực nghiệp vụ giỏi tiến hành làm thủ tục hành chính
thuế và hướng dẫn kê khai nộp thuế, thành lập các đường dây nóng, các kênh
thông tin cần thiết, thích hợp, nhanh chóng và hiệu quả nhất để có thể tư vấn,
hỗ trợ và giải đáp những vướng mắc cho các đối tượng nộp thuế. Ngoài ra, Cục
thuế Hà Nội còn là đơn vị dẫn đầu cả nước về cải cách hành chính và hiện đại
hóa công tác quản lý thuế với việc triển khai thành công các dự án như “Kê khai
thuế qua mạng Internet”, “Hiện đại hóa thu ngân sách nhà nước và thu thuế qua
ngân hàng” và “Hệ thống ki-ốt thông tin thuế”. Những cải cách đó đã đem lại lợi
ích cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế, như: thủ tục nộp hồ sơ khai thuế đơn
giản, nhanh gọn, hiệu quả cao và an toàn, không giới hạn về không gian, thời
gian trong ngày, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người nộp thuế; đơn giản hoá
và cải cách triệt để thủ tục hành chính trong quy trình thu nộp thuế, giảm thời
gian nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế; giúp người nộp thuế
thuận tiện hơn trong việc tiếp cận các thông tin liên quan đến thuế; cơ quan
thuế xử lý tờ khai nhanh, chính xác, giảm thiểu lao động, thuận lợi cho việc
lưu trữ hồ sơ và tra cứu dữ liệu, đặc biệt là đáp ứng được nhu cầu phục vụ số
lượng người nộp thuế ngày càng tăng nhanh trong khi nguồn nhân lực chưa được bổ
sung tương ứng…
Nhờ đó, trên địa bàn Hà Nội, cơ chế tự khai tự nộp thuế theo yêu cầu của
Luật Quản lý thuế được quán triệt và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc ở
hầu hết các cơ quan chi trả thu nhập và các cá nhân nộp thuế. Việc tổ chức kê
khai và khấu trừ thuế TNCN tại nguồn trước khi chi trả thu nhập cho người lao
động đã đảm bảo được mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế TNCN cho nhà
nước. Mặc dù có chính sách miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm 2009 và trong bối
cảnh nền kinh tế suy thoái do khủng hoảng, nhưng số thuế TNCN năm 2009 vẫn cao
hơn so với những năm trước đó. Hơn nữa, việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp
thuế đã làm cho cả người có thu nhập và cơ quan chi trả thu nhập đều phải tự tìm
hiểu, nắm rõ nội dung của Luật và các văn bản liên quan để thực thi, qua đó
nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành luật pháp thêm một bước.
Những bất cập và vấn đề đặt ra trong quản lý
thuế TNCN
Về công tác cấp mã số thuế cá nhân
Để triển khai Luật Thuế TNCN, bước đầu tiên là việc cấp mã số thuế cá nhân.
Mã số này sẽ gắn với mỗi cá nhân suốt đời và là cơ sở để quản lý đối tượng nộp
thuế TNCN. Do số lượng đối tượng nộp thuế TNCN quá lớn, nên để đảm bảo tiến độ
cấp mã số thuế cá nhân phục vụ kịp thời công tác thu thuế, thời gian đầu Cục
thuế chỉ yêu cầu các đơn vị chi trả thu nhập thực hiện đăng ký cấp mã số thuế
cho những cá nhân có mức thu nhập đạt ngưỡng phải nộp thuế. Sau giai đoạn một,
yêu cầu các đơn vị chi trả thu nhập kê khai bổ sung đối với những trường hợp
chưa kê khai, đồng thời triển khai cấp mã số thuế cho các đối tượng thuộc diện
chịu thuế, song chưa có mã số thuế.
Theo Cục thuế Hà Nội, tính đến 30/06/2010, số mã số thuế cá nhân cấp cho đối
tượng có thu nhập từ tiền lương, tiền công tăng gấp hơn 200 lần so với năm 2008
và đạt tỷ lệ 31,64% dân số từ 15 tuổi trở lên. Đây là nỗ lực rất lớn của Cục
Thuế Hà Nội và là tiền đề rất quan trọng cho công tác quản lý kê khai nộp thuế
TNCN và quyết toán thuế đạt hiệu quả, đáp ứng mục tiêu của cơ chế tự khai tự
nộp thuế.
Bảng 1: Tình hình cấp mã số thuế cá nhân trên địa bàn Hà Nội
Đơn vị tính: Mã số
|
Năm
|
Cá nhân có TN
từ tiền lương tiền công
|
Cá nhân có TN
từ kinh doanh
|
|
|
Số cấp mới
|
Số lũy kế đến cuối năm
|
Số cấp mới
|
Số lũy kế đến cuối năm
|
|
|
2008
|
5.543
|
43.959
|
22.605
|
113.741
|
|
2009
|
1.087.918
|
1.131.877
|
6.602
|
120.343
|
|
6T/2010
|
295.664
|
1.427.541
|
24.102
|
144.445
|
(Nguồn: Cục thuế Hà Nội)
Tuy nhiên, để quản lý chặt chẽ người nộp thuế, yêu cầu đặt ra là phải cấp mã
số thuế cá nhân cho mọi công dân. Việc người nộp thuế chưa có mã số thuế sẽ gây
thiệt hại cho chính người nộp thuế vì phải nộp thuế TNCN với tỷ lệ trích cao
hơn. Đặc biệt, việc các cá nhân phụ thuộc không có mã số thuế dẫn đến khe hở và
khó kiểm soát chính xác vấn đề giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, từ đó,
gây thất thu thuế TNCN. Việc kê khai giảm trừ gia cảnh chủ yếu là dựa vào ý
thức của đối tượng nộp thuế. Điều này đã tạo ra khe hở trong việc kê khai số
người phụ thuộc. Ví dụ, cùng 1 ông bố hay bà mẹ, nhưng sẽ được tính trùng thành
2 bởi cả 2 người con ở 2 địa phương khác nhau đều cùng kê khai và chính quyền
địa phương sở tại đều xác nhận. Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều địa phương khi
nhận được một số đơn đề nghị xác nhận đối tượng cư trú có trách nhiệm nuôi
dưỡng người phụ thuộc ở địa phương khác (ông, bà, cháu… ở quê), họ không thể
nào xác định được mối quan hệ của người phụ thuộc đang sống ở tỉnh khác và
người dân đang cư trú trên địa bàn, càng không thể nào biết được có đúng là
người dân đang cư trú trên địa bàn có trách nhiệm nuôi dưỡng người đang sống ở
tỉnh khác hay không, dẫn tới tình trạng nơi thì chứng nhận hết một cách quá dễ
dàng, nơi thì từ chối chứng nhận gây khó khăn cho người dân. Và cũng theo phản
ánh của người dân thì một trong những khó khăn mà họ gặp phải là xin hồ sơ để
xác định đối tượng phụ thuộc không có thu nhập.
Về công tác kê khai nộp thuế, quyết toán thuế TNCN
Thông qua việc cấp mã số thuế cá nhân, cơ sở dữ liệu người nộp thuế được xây
dựng là tiền đề quan trọng của việc quản lý kê khai nộp thuế và quyết toán thuế
TNCN. Đối với thu nhập từ tiền công tiền lương, thực hiện kê khai và nộp thuế
thông qua cơ quan chi trả thu nhập, theo đó, mức thuế TNCN được khấu trừ tại
nguồn theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần đối với các khoản chi trả cho cá
nhân thuộc sự quản lý của cơ quan chi trả thu nhập cho những cá nhân ký hợp
đồng lao động từ 03 tháng trở lên và khấu trừ 10% thu nhập đối với các khoản
chi trả cho cá nhân không có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động dưới 03
tháng nếu số tiền mỗi lần chi trả từ 500.000 đồng trở lên. Cơ quan chi trả thu
nhập có trách nhiệm thu và chuyển số thuế thu được vào Kho bạc Nhà nước. Hiện
nay Cục thuế Hà Nội đã ứng dụng phần mềm hỗ trợ kê khai theo mã vạch 2 chiều,
kê khai qua mạng Internet, chương trình này đã được triển khai đến tất cả các
Chi cục Thuế cho phép tiết kiệm thời gian, chi phí và nhân lực cho cả người nộp
thuế và cơ quan thuế.
Biểu đồ 1: Kết quả thu Thuế thu nhập cao và thuế TNCN của Cục thuế Hà Nội

(Nguồn:
Cục thuế Hà Nội – Đơn vị tính Tỷ đồng)
Năm 2009, năm đầu tiên thực hiện Luật thuế TNCN, lại rơi vào bối cảnh nền
kinh tế suy thoái, thu nhập giảm sút, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, vì
thế mà trong quá trình triển khai Luật thuế TNCN, Bộ Tài chính đã ban hành
Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành… về việc miễn thuế TNCN; theo đó,
tất cả mọi cá nhân đều được miễn thuế TNCN tính trên phần thu nhập của 6 tháng
đầu năm 2009, không phân biệt thời điểm chi trả thu nhập. Tuy vậy, số thuế TNCN
từ tiền lương tiền công thu được của 6 tháng cuối năm 2009 vẫn đạt mức 2.704 tỷ
đồng, cao gấp 2,06 lần cùng kỳ năm 2008. Điều này cho thấy, việc mở rộng diện
đánh thuế và thực hiện tốt công tác quản lý kê khai nộp thuế đã tác động tích
cực đến số thuế TNCN thu được trong ỳ.
Để tổ chức triển khai thực hiện việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 theo
thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009, Tổng cục Thuế đã có công văn số
451/TCT-TNCN ngày 08/02/2010 hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, trong qúa trình triển
khai thực hiện, đã phát sinh nhiều vướng mắc, tiến độ thực hiện quyết toán thuế
TNCN chậm. Vì vậy, ngày 21/5/2010, Tổng cục Thuế đã ban hành công văn 1700
/TCT-TNCN hướng dẫn bổ sung quyết toán thuế TNCN năm 2009, đồng thời gia hạn
thời gian quyết toán thuế đến 31/07/2010. Theo quy định, việc quyết toán thuế
TNCN tại cơ quan chi trả thu nhập được áp dụng đối với cá nhân trong năm chỉ có
thu nhập duy nhất tại một nơi. Trong trường hợp này, cá nhân phải lập giấy ủy
quyền quyết toán thuế TNCN theo mẫu quy định, trên cơ sở đó, cơ quan chi trả
thu nhập tổng hợp quyết toán thuế và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý đơn
vị trả thu nhập. Đối với cá nhân trong năm có thu nhập từ 2 nơi trở lên, cá
nhân đăng ký nộp thuế tại cơ quan thuế và các trường hợp khác thì phải thực
hiện quyết toán thuế tại cơ quan thuế, nơi cá nhân đăng ký giảm trừ gia cảnh
hoặc tại cơ quan thuế cá nhân đăng ký quản lý. Đến nay, số lượng các cơ quan
chi trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế TNCN năm 2009 là 222.824 đơn vị;
số lượng cá nhân tự quyết toán thuế TNCN năm 2009 tại cơ quan thuế là 48.195
người.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy số đông người nộp thuế, kể cả những người có từ
2 nguồn thu nhập trở lên, đều ngại tự mình quyết toán thuế hoặc không rõ thủ
tục tiến hành, nên ủy quyền cho đơn vị chi trả thu nhập thực hiện hộ. Từ đó, có
thể làm thất thu ngân sách nhà nước hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi chính đáng
của chính người nộp thuế.
Về công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Từ sau khi Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành, công tác thanh tra kiểm tra
thuế của Cục thuế Hà Nội có nhiều đổi mới. Thanh tra kiểm tra dựa trên cơ sở
thu thập, phân tích thông tin dữ liệu liên quan đến người nộp thuế để đánh giá
mức độ tuân thủ, phân loại rủi ro và lập danh sách người nộp thuế phải kiểm tra
hồ sơ khai thuế. Mặc dù Cục thuế Hà Nội đã tăng cường công tác thanh tra kiểm
tra chống thất thu thuế, kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở của cơ quan thuế
và nhiều trường hợp kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế. Tuy nhiên, do năm
2009 là năm đầu tiên thực hiện Luật thuế TNCN, có nhiều nội dung mới trong
phương pháp quản lý thuế, do tính phức tạp của thuế TNCN, số lượng người nộp
thuế quá lớn, nên việc tổ chức thực hiện thanh tra kiểm tra về thuế TNCN chưa
được thực hiện đầy đủ, thường xuyên…
Ngoài ra, thực tế tiến hành thu thuế TNCN trên địa bàn Hà Nội và cả nước
thời gian qua còn cho thấy những bất cập khác, như:
- Chưa kiểm soát được mọi nguồn thu nhập của từng cá nhân. Nguồn hình thành
TNCN quá đa dạng và phức tạp. Đối với những khoản thu nhập từ tiền lương, tiền
công thì cơ quan thuế có thể kiểm soát qua đơn vị trực tiếp chi trả thu nhập;
nhưng đối với các khoản thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể, các cá nhân hành
nghề độc lập, đặc biệt là đối với đối tượng ca sỹ, nghệ sỹ,… thì cơ quan thuế
khó có thể kiểm soát được một cách chính xác.
- Mức giảm trừ cá nhân và giảm trừ cho người phụ thuộc theo Luật hiện hành
là chưa hợp lý, chưa tính đến sự mất giá của đồng tiền. Theo thời giá hiện nay,
việc quy định mức giảm trừ gia cảnh là 4 triệu đồng/người/tháng đối với cá nhân
người nộp thuế và 1,6 triệu đồng/người/tháng đối với người phụ thuộc là chưa
đảm bảo cho đời sống tối thiểu của người lao động, nhất là ở đô thị. Một điểm
chưa hợp lý nữa là mức giảm trừ gia cảnh hiện nay không tính đến khu vực, có
nghĩa là ở nông thôn, thành thị, đồng bằng hay miền núi đều áp dụng như nhau,
nhưng thực tế cho thấy mức chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày của một cá nhân ở
thành thị là lớn hơn rất nhiều so với ở nông thôn và miền núi.
Tình trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả từ những bất cập trong
quy định của luật thuế, cũng như từ những yếu tố khác, như:
- Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế ưa chuộng tiền mặt, phần lớn
các khoản thu nhập cá nhân đều được chi trả bằng tiền mặt, do đó, khó có thể
tạo ra cơ chế kiểm soát thu nhập cá nhân một cách chính xác và hiệu quả.
- Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành thuế với các cấp chính quyền địa
phương, với các tổ chức, cơ quan liên quan trong việc hợp tác triển khai Luật
thuế TNCN, dẫn đến những khó khăn trong việc xác định và quản lý gia cảnh người
nộp thuế, quản lý hoạt động của các cá nhân kinh doanh tự do, hành nghề độc
lập,…
- Hiện tượng tiêu cực và bất công trong việc nộp thuế TNCN vẫn chưa được xử
lý triệt để, làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả thực tế và công bằng của Luật thuế,
gây một số bức xúc trong quần chúng nhân dân.
- Trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành Luật của một bộ phận lớn dân cư còn
hạn chế, tâm lý trốn thuế còn lan truyền, trong khi lực lượng cán bộ thuế còn
mỏng, không thể thực hiện thanh tra kiểm tra thuế TNCN trên diện rộng để phát
hiện các hành vi vi phạm và xử lý.
Những định hướng tháo gỡ nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý thu thuế TNCN
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, trong tương lai,
nguồn thu nhập chịu thuế sẽ ngày càng phức tạp, số người nộp thuế TNCN sẽ không
ngừng gia tăng. Thực tế đó đặt ra đòi hỏi phải hoàn thiện công tác quản lý thu
thuế TNCN nhằm đảm bảo cho hệ thống quản lý thu thuế TNCN trở thành một hệ
thống quản lý thuế hiện đại và khoa học, khắc phục được những vướng mắc, tồn
tại được phát hiện trong thực tiễn triển khai thi hành luật.
Thứ nhất, đẩy mạnh và thực hiện triệt để hơn nữa cơ chế khấu trừ thuế
TNCN tại nguồn trước khi chi trả thu nhập cho cá nhân. Phải có hướng dẫn cụ thể
đối với đơn vị thực hiện khấu trừ thuế. Để xác định mức khấu trừ tại nguồn có
thể áp dụng nguyên tắc tạm nộp trong năm thì tính theo thuế suất toàn phần,
cuối năm quyết toán theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần. Tỷ lệ khấu trừ tại
nguồn đề nghị nâng cao hơn để đảm bảo số thuế tạm nộp lớn hơn số thuế phải nộp
thì đối tượng nộp thuế mới tích cực kê khai quyết toán thuế cuối năm. Đối với
thu nhập từ tiền lương tiền công mang tính chất ổn định thì tính theo thuế suất
lũy tiến từng phần của biểu thuế. Cần xác định rõ ràng trách nhiệm phải khấu trừ
tiền thuế cho đơn vị chi trả thu nhập, có tỷ lệ thù lao thích hợp hơn, có sự
biểu dương, khen thưởng… đối với những đơn vị thực hiện tốt trách nhiệm của
mình và xử lý kịp thời, nghiêm minh các đơn vị không thực hiện đúng trách
nhiệm.
Thứ hai, cần đẩy mạnh hơn nữa việc đăng ký và cấp mã số thuế cá nhân,
tiến tới mỗi công dân đều có một mã số để theo dõi quản lý, không phân biệt có
thu nhập chịu thuế hay không có thu nhập chịu thuế.
Thứ ba, để cơ chế tự khai, tự nộp thuế TNCN phát huy hiệu quả, cần
tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức hệ thống thông tin dịch vụ kế
toán, kê khai và tính thuế. Đồng thời cần có lộ trình triển khai thực hiện phù
hợp, từng bước từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, chia theo từng nhóm
để quản lý; nên có cơ chế khuyến khích các đối tượng nộp thuế tự nguyện áp dụng
phương pháp tự khai tự nộp thuế, chẳng hạn như cho phép được hưởng các khoản
khấu trừ đặc biệt hoặc các chế độ ưu đãi khác.
Thứ tư, cùng với việc hoàn thiện cơ chế tự khai tự nộp thuế, thì công
tác thanh tra kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN cần được đẩy mạnh, đòi
hỏi cơ quan thuế phải tập trung lực lượng lớn vào việc tuyên truyền và thanh
tra kiểm tra việc chấp hành luật thuế. Cơ quan thuế phải phối hợp chặt chẽ với
các cơ quan chức năng như cơ quan công an, cơ quan ngoại vụ, cơ quan quản lý
lao động,… để nắm bắt kịp thời thông tin về đối tượng nộp thuế, nguồn phát sinh
thu nhập, có biện pháp phân loại đối tượng nộp thuế thành các nhóm khác nhau để
thanh tra, kiểm tra một cách có hiệu quả.
Thứ năm, kiện toàn tổ chức bộ máy thuế, chú trọng việc bồi dưỡng nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành thuế song song với việc tăng cường cơ
sở vật chất cho ngành thuế theo hướng hiện đại hóa công tác quản lý thuïë.
Thứ sáu, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền phổ biến Luật thuế
TNCN nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, ý thức tuân thủ của người nộp thuế. Để
công tác tuyên truyền đạt hiệu quả cao cần phải: đa dạng hóa hình thức và
phương pháp tuyên truyền về thuế TNCN; định kỳ tổ chức điều tra trắc nghiệm đối
với người nộp thuế để đánh giá mức độ hiểu biết về pháp luật thuế TNCN, nắm bắt
được ý kiến nguyện vọng của dân, qua đó, thiết kế nội dung tuyên truyền phù hợp
với từng nhóm đối tượng nộp thuế; xây dựng cơ chế tiếp thu ý kiến, thông tin
phản hồi từ người nộp thuế một cách phù hợp; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng
về chuyên môn, nghiệp vụ thuế TNCN và kỹ thuật tuyên truyền cho các tuyên
truyền viên để họ có thể làm tròn nhiệm vụ của một tuyên truyền viên tốt.
Thứ bảy, phát triển hình thức thanh toán không dùng tiền mặt trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hướng tới việc quản lý thu nhập của cá nhân qua
hệ thống ngân hàng, có như vậy mới có thể kiểm soát được thu nhập cá nhân, đạt
được mục tiêu thu đúng, thu đủ thuế TNCN cho ngân sách nhà nước.
Thứ tám, để nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế TNCN cần phải tăng
cường phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng của các ngành, các
lĩnh vực có liên quan, trong đó, phải đề cao vai trò và thẩm quyền của cơ quan
thuế trong việc giám sát thu nhập, thanh tra kiểm tra thuế, xử lý vi phạm và
cưỡng chế thuế. Với đặc trưng của thuế TNCN, trước hết, phải nói đến sự phối
hợp giữa cơ quan thuế với BHXH, với ngân hàng và Kho bạc Nhà nước.
Thứ chín, Nhà nước cần tổ chức thực hiện lấy ý kiến của toàn dân để
đánh giá mức độ phù hợp của chính sách thuế TNCN trong đời sống xã hội, trên cơ
sở đó có những bổ sung sửa đổi Luật một cách kịp thời nhằm hoàn thiện một số
nội dung của Luật thuế TNCN. Nên chăng, Luật nên quy định lại mức thuế suất cao
nhất của biểu thuế lũy tiến từng phần là 25% bằng với mức điều tiết của Luật
thuế thu nhập doanh nghiệp, bởi mức thu nhập chịu thuế này thường là của các cá
nhân kinh doanh. Như vậy, sẽ đảm bảo bình đẳng hơn giữa hai sắc thuế trực thu
này. Mặt khác, Luật nên quy định điều khoản cho phép điều chỉnh mức giảm trừ
gia cảnh theo mức độ trượt giá và tăng trưởng kinh tế theo từng giai đoạn và
giao quyền cho Chính phủ điều chỉnh mức giảm trừ này khi cần thiết.
Tài liệu tham khảo:
1. 1. Bộ Tài chính (2009), Hướng dẫn kê khai, nộp và quyết toán thuế
TNCN, NXB Tài Chính.
2. Bộ Tài chính, Thông tư số 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số
100/2008/NĐ-CP.
3. Chính phủ, Nghị định số 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều
của Luật thuế thu nhập cá nhân
4. Chính phủ, Nghị định số 85/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật quản lý thuế.
5. Cục thuế Hà Nội, Báo cáo tình hình thực hiện chính sách thuế các năm
2007, 2008, 2009 và 6t/2010.
6. Tổng cục thuế, Công văn số 1700/TCT-TNCN ngày 21/5/2010, Về việc hướng
dẫn bổ sung quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009.
7. Tổng cục thuế, Công văn số 451/TCT-TNCN ngày 08/2/2010, Về việc quyết
toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009.
8. Trang web : http://www.gdt.gov.vn,
http://www.mof.gov.vn, http://www.google.com.vn
SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 4/2011 - PGS.TS.
LÊ THỊ KIM NHUNG – Phó Trưởng khoa Tài chính – Ngân hàng, Đại học Thương mại