Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới
Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật phá sản nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm, chú ý. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc xây dựng, sửa đổi pháp luật, theo đó pháp luật phá sản cũng không là ngoại lệ. Do vậy, việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới và trong khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật phá sản trong nước.
Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng các
yêu cầu của việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế đa
phương, song phương của Việt Nam, ngay từ buổi đầu của công cuộc đổi mới
nền kinh tế đất nước, Việt Nam đã xây dựng và ban hành Luật Phá sản
doanh nghiệp (năm 1993). Trải qua 10 năm thi hành, các quy định của Luật
này không còn phù hợp với thực tiễn nên Luật Phá sản đó đã được sửa
đổi, bổ sung khá cơ bản và toàn diện.
Luật Phá sản năm 2004 được ban hành là kết quả của
việc tổng kết thực tiễn sau 10 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp
năm 1993, đồng thời cũng là kết quả của việc nghiên cứu, tiếp thu những
kinh nghiệm xây dựng pháp luật về phá sản của một số nước trong khu vực
và trên thế giới. Do vậy, trong chuyên đề này chúng tôi tìm hiểu chung
(có tính khái quát) về pháp luật phá sản trên thế giới.
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN
Theo quan niệm chung, tình trạng phá sản là hậu quả
đương nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường.
Việc giải quyết hậu quả của quá trình đó là tất yếu, là nhiệm vụ của bất
kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho
các chủ thể tham gia kinh doanh, đảm bảo vai trò của nhà nước trong quản
lý kinh tế, quản lý xã hội.
Trải qua quá trình dài của lịch sử phát triển kinh
tế, bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát
triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng
xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng. Hậu quả của sự khủng
hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các thương nhân.
Để giải quyết hậu quả của kinh doanh thua lỗ, mất khả
năng thanh toán, giữa chủ nợ và người mắc nợ đã cùng nhau tìm ra những
phương thức giải quyết khác nhau, hoặc là tự giải quyết, hoặc là với sự
giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó. Tuy nhiên, đôi khi các
phương thức giải quyết tự phát không hiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu
có những quy định pháp luật và sự can thiệp cần thiết để điều chỉnh,
giải quyết hiện tượng phá sản một cách hiệu quả hơn, đảm bảo trật tự, an
toàn xã hội đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
liên quan: chủ nợ, người mắc nợ và người lao động.
Ngay từ thời Trung cổ, các quốc gia châu Âu đã
ban hành những văn bản Luật Phá sản đầu tiên. Lúc đầu, phạm vi áp dụng
của những luật này chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh doanh thương mại,
nhưng dần dần đã được đưa vào áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội, và cho đến nay, pháp luật về phá sản đã điều chỉnh cả các
quan hệ kinh doanh của các cá nhân, phá sản tiêu dùng.
Có thể nói rằng, về thời điểm xuất hiện Luật Phá sản,
về hình thức, tên gọi và cả phạm vi áp dụng, thủ tục giải quyết cũng
rất đa dạng và phong phú, thể hiện được tính đa dạng của quan hệ xã hội
do lĩnh vực pháp luật này điều chỉnh.
Về tên gọi, tên gọi thông dụng và phổ biến nhất của
tình trạng của doanh nghiệp là tình trạng phá sản, vỡ nợ, mất khả năng
thanh toán. Văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ này thông dụng nhất là
Luật Phá sản. Tuy nhiên, ở mỗi nước khác nhau thì có thể có các tên gọi
khác nhau: ở Nam Tư có Luật cưỡng chế hoà giải phá sản (năm 1905); ở
Anh có Luật không có khả năng thanh toán, Luật treo giò giám đốc công ty
(năm 1986); ở Hàn Quốc có Luật cam kết và Luật tổ chức lại công ty…
Từ thực tiễn đã hình thành những thủ tục giải quyết
tình trạng làm ăn thua lỗ đa dạng và hiệu quả, thể hiện sự linh hoạt,
mềm dẻo của thị trường và khi cần thiết thì có sự điều chỉnh, can thiệp
của nhà nước. Trên thế giới, người ta phân biệt hai thủ tục giải quyết
phá sản, bao gồm thủ tục chính thức và thủ tục không chính thức.
1. Những thủ tục không chính thức
Thủ tục phá sản không chính thức là thủ tục giải
quyết tình trạng phá sản không có sự can thiệp của Toà án mà dựa trên sự
thoả thuận tự nguyện giữa người mắc nợ và chủ nợ. Trong quá trình giải
quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động cũng thường áp dụng các
thủ tục này. Thủ tục này đơn giản, mềm dẻo và thường đạt hiệu quả cao.
Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn tố tụng dân sự ở nước ta
quá trình này thường được gọi là thủ tục tiền tố tụng.
Thủ tục này được hình thành vào những năm 80 của thế
kỷ XIX, ban đầu tại một số nước như Anh và Hoa Kỳ. Đây được coi là giải
pháp tích cực thay thế hoặc hỗ trợ cho thủ tục phá sản chính thức. Tuy
hình thành với tư cách là thủ tục phá sản không chính thức nhưng dần dần
thủ tục này đã được thừa nhận và chiếm một vị trí xứng đáng bằng việc
được quy định trong pháp luật về phá sản của một số nước (như Luật Phá
sản của Hoa kỳ).
Do thủ tục này đơn giản nhưng đạt hiệu quả cao trong
thực tiễn nên nhiều nước khuyến khích áp dụng và đã có ý kiến khuyến
nghị nên xây dựng một Nghị định thư cho việc áp dụng chung trên toàn thế
giới mặc dù thủ tục này vẫn chỉ là thủ tục tự nguyện. Dần dần, thủ tục
này đã được đưa vào áp dụng tại một số nước như Indonesia, Hàn Quốc,
Malaysia, Thái Lan…
Sự tồn tại và phát triển của thủ tục không chính thức
cho thấy, dù các chế định phục hồi chính thức “hiện đại” và phát triển
song vẫn không thích hợp cho nhiệm vụ phục hồi. Tính linh hoạt và ít
cứng nhắc hơn của thủ tục không chính thức dường như đáp ứng được nhu
cầu giải quyết phá sản trên thực tiễn.
Những điều kiện để áp dụng thủ tục không chính thức là:
- Thực tế công ty nợ một khoản nợ lớn từ một số ngân
hàng hoặc các chủ nợ là các cơ quan tài chính khác và ở thời điểm hiện
tại người mắc nợ thiếu khả năng thanh toán các khoản nợ này;
- Có điều kiện thích hợp để thỏa thuận một sự sắp xếp
đối với những khó khăn tài chính của công ty mắc nợ, giữa công ty mắc
nợ với các nhà tài chính và giữa các nhà tài chính với nhau;
- Có thể lựa chọn những kỹ thuật tái đầu tư tài chính
phức tạp và các kỹ thuật thương mại khác thay thế, sắp xếp lại hoặc cấu
trúc lại các món nợ của công ty mắc nợ hoặc đối với chính bản thân công
ty mắc nợ;
- Trong tương lai, công ty mắc nợ sẽ có lợi nhuận cao
hơn thông qua quá trình đàm phán so với việc sử dụng trực tiếp và ngay
lập tức quy chế phá sản;
- Có cơ chế ràng buộc trách nhiệm là nếu quá trình
đàm phán không thể bắt đầu lại được hoặc đổ vỡ giữa chừng thì sẽ có một
cơ chế chuyển đổi riêng biệt sang thủ tục phá sản và cũng như có những
nguồn lực hiệu quả để áp dụng Luật Phá sản. Yếu tố này là động lực để
chủ nợ và người mắc nợ cùng nhau bàn bạc.
Để đạt được hiệu quả, quá trình giải quyết phá sản
theo thủ tục không chính thức cũng cần có một số kỹ năng và thủ tục.
Những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình này là:
- Thiết lập nên một “diễn đàn” để các chủ nợ và người
mắc nợ có thể cùng nhau tìm kiếm và thảo luận về một sự sắp xếp nhằm
giải quyết những khó khăn về tài chính;
- Chỉ định một chủ nợ “lãnh đạo” để tổ chức, quản lý quá trình giải quyết;
- Chọn một hội đồng đại diện cho chủ nợ để giúp chủ
nợ và hành động như là một thiết chế có tiếng nói chung tạm thời đối với
những đề nghị dành cho người mắc nợ;
- Một thỏa thuận “tạm dừng” (một thỏa thuận dừng tất
cả những vụ kiện có hại của cả chủ nợ và người mắc nợ) trong một khoảng
thời gian xác định, thường là tương đối ngắn. Thỏa thuận tạm dừng này có
thể được so sánh với “lệnh dừng” hoặc tạm đình chỉ các vụ kiện hoặc các
thủ tục tố tụng, yếu tố đã trở thành một đặc điểm quan trọng của thủ
tục phục hồi chính thức trong pháp luật phá sản;
- Thu thập và cung cấp những thông tin hoàn chỉnh và
đầy đủ liên quan đến người mắc nợ, bao gồm những hoạt động kinh doanh
của người mắc nợ, địa vị thương mại hiện tại, tình trạng tài chính
chung, tài sản và các nghĩa vụ.
Nhìn chung, thủ tục không chính thức là một thủ tục
tự nguyện dựa trên hoàn cảnh thực của doanh nghiệp, thường là một doanh
nghiệp có uy tín, kinh doanh mặt hàng đang có nhu cầu và ngày càng có
nhu cầu lớn trong xã hội, nhưng vì những lý do chủ quan cũng như khách
quan mà doanh nghiệp này lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tuy
nhiên, doanh nghiệp này sẽ phát triển tốt nếu cải tiến lại quy trình
hoặc cơ cấu lại sản phẩm đầu ra. Giữa chủ nợ và doanh nghiệp cùng bàn
bạc với nhau đề xuất ra những giải pháp khắc phục: cơ cấu lại sản phẩm,
chủ nợ sẽ đầu tư thêm hoặc kêu gọi đối tác của chủ nợ đầu tư, thay đổi
cách quản lý, người quản lý… tìm giải pháp thoát khỏi tình trạng mất khả
năng thanh toán và họ nhìn thấy tương lai thu lợi nhuận, có lãi từ sự
hợp tác này. Khi các bên nhận thấy khả năng tìm được hướng ra nhằm thoát
khỏi tình trạng này, họ sẽ thoả thuận được với nhau cách tiến hành, quá
trình khắc phục hậu quả của việc mất khả năng thanh toán, trường hợp
xấu nhất thì sẽ đi đến thanh toán tài sản của doanh nghiệp.
Như vậy, dù đây là thủ tục không chính thức nhưng hậu
quả của nó cũng tương tự như thủ tục giải quyết phá sản tại Toà án: nếu
phục hồi thành công thì doanh nghiệp, hợp tác xã không còn lâm vào tình
trạng phá sản, nếu không thành công thì doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ bị
áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ và tuyên bố phá sản.
2. Những thủ tục chính thức
Thủ tục chính thức là những thủ tục giải quyết tình
trạng phá sản được điều chỉnh bằng pháp luật và thông qua Toà án. Các
thủ tục này có những tên gọi khác nhau, nhưng bản chất đó là hai loại
thủ tục chính: Thủ tục thanh toán (phá sản, thanh toán, thanh lý tài sản
và các khoản nợ); Thủ tục phục hồi (cam kết, thoả thuận, tổ chức lại).
a. Thủ tục thanh toán
Thanh toán theo nghĩa chung truyền thống nhất là bán
tài sản của doanh nghiệp mắc nợ để thanh toán cho các chủ nợ và chấm dứt
hoạt động của người mắc nợ. Thủ tục này tương đối phổ biến và thường có
cấu trúc như sau:
- Chủ nợ hoặc thương nhân mắc nợ nộp đơn đến Toà án yêu cầu tuyên bố phá sản;
- Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp mắc nợ;
- Toà án chỉ định một người độc lập quản lý tài sản và thực hiện việc thanh toán;
- Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ; chấm dứt quyền của giám đốc và việc thuê lao động;
- Bán tài sản của doanh nghiệp;
- Phân chia tiền thu được từ việc bán tài sản của doanh nghiệp cho các chủ nợ;
- Giải thể doanh nghiệp.
Thủ tục thanh toán được xây dựng trên quan điểm:
trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, một doanh nghiệp không thể
cạnh tranh sẽ mất vị trí và phải rời khỏi thị trường. Dấu hiệu cơ bản để
xác định doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh là dấu hiệu doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Để giải quyết việc phá sản của doanh
nghiệp này một cách lành mạnh, đảm bảo quyền, lợi ích của tất cả các chủ
thể liên quan thì thủ tục đó phải mang tính tập thể và tính chất dân
sự, các chủ nợ bị ràng buộc và được đối xử công bằng.
b. Thủ tục phục hồi
Mục đích của thủ tục phục hồi là việc tiếp tục kinh
doanh của doanh nghiệp mắc nợ. Thủ tục này có thể được thực hiện dưới
dạng một “cam kết”, thông qua đó người mắc nợ và các chủ nợ thỏa thuận
về việc giảm nợ để tạo điều kiện cho tổng số nợ của người mắc nợ giảm
xuống, doanh nghiệp không còn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán
nữa và có thể tiếp tục kinh doanh. Thủ tục này cũng có thể được thực
hiện dưới dạng một quá trình “tổ chức lại” rất phức tạp. Ví dụ: Các
khoản nợ của doanh nghiệp được sắp xếp lại (gia hạn, hoãn trả lãi, thay
đổi chủ nợ); chuyển khoản nợ thành cổ phần, bán một số tài sản không
thiết yếu; chấm dứt hoạt động kinh doanh không có lợi nhuận.
Thủ tục phục hồi rất đa dạng, thể hiện dưới nhiều
dạng thức khác nhau và không được áp dụng phổ biến như thủ tục thanh
toán. Tuy nhiên, có thể nêu lên cấu trúc cơ bản của thủ tục phục hồi như
sau:
- Doanh nghiệp tự nguyện áp dụng thủ tục này;
- Phải bắt buộc chấm dứt hoặc đình chỉ những vụ kiện đòi tài sản doanh nghiệp của bất kỳ chủ nợ nào;
- Doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh có thể vẫn dưới sự
điều hành của ban quản lý hiện tại hoặc của một ban quản lý độc lập
hoặc kết hợp cả hai hình thức đó;
- Xây dựng kế hoạch phục hồi;
- Các chủ nợ xem xét bỏ phiếu chấp thuận kế hoạch phục hồi;
- Thực hiện kế hoạch phục hồi.
Thủ tục phục hồi được xây dựng trên quan điểm: không
phải mọi doanh nghiệp thất bại trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh
đều phải bị thanh toán ngay. Nếu một doanh nghiệp có khả năng phục hồi
hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh có lợi nhuận và có khả năng đem lại
lợi nhuận thì phải có cơ hội để phục hồi. Việc phục hồi một doanh nghiệp
nhằm mục đích là các chủ nợ sẽ nhận được lợi ích lâu dài hơn, nhiều hơn
khi doanh nghiệp bị thanh toán ngay.
II. KHÁI QUÁT THỦ TỤC PHÁ SẢN CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI
Như trên đã giới thiệu, pháp luật phá sản của các
nước trên thế giới thường phân biệt thủ tục giải quyết phá sản bao gồm
thủ tục chính thức và thủ tục không chính thức. Tuy nhiên, với tư cách
là một thủ tục chính thức và có sự can thiệp của Toà án, Phần II của
chuyên đề sẽ đề cập đến thủ tục chính thức ở một số nước trên thế giới.
1. Pháp luật về phá sản ở Nhật Bản
Do hoàn cảnh lịch sử nên hệ thống pháp luật về phá
sản ở Nhật Bản không được quy định trong một văn bản duy nhất mà được
quy định trong nhiều luật, bộ luật khác nhau và được ban hành tại nhiều
thời điểm khác nhau, đó là:
- Luật Phá sản (năm 1922);
- Bộ luật thương mại (năm 1938);
- Luật về thoả hiệp (năm 1922; năm 2000);
- Bộ luật về phục hồi dân sự (năm 1999; năm 2000);
- Luật về tổ chức lại công ty (năm 1952).
Để giải quyết tình trạng một doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ, pháp luật Nhật Bản quy định về thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục
phục hồi, cụ thể như sau:
a. Thủ tục thanh lý tài sản
Thủ tục thanh lý tài sản bao gồm: (1) Phá sản; (2)
Thanh lý đặc biệt và (3) Thoả hiệp. Theo thủ tục này thì toàn bộ tài sản
của công ty được chuyển thành tiền mặt và thanh toán cho các chủ nợ,
chấm dứt sự hoạt động cũng như chấm dứt sự tồn tại của công ty.
(1) Phá sản
Là việc thanh lý doanh nghiệp dưới sự giám sát chặt chẽ của Toà án. Quy trình chung của thủ tục này là:
- Đơn yêu cầu phá sản: Khi các bên xác nhận những
nguyên nhân gây nên tình trạng phá sản đang tồn tại thì có thể gửi đơn
yêu cầu phá sản đối với người mắc nợ. Ở Nhật Bản chủ yếu là người mắc nợ
nộp đơn xin phá sản. Chỉ một số ít vụ chủ nợ nộp đơn xin phá sản người
mắc nợ, như: Ngân hàng yêu cầu phá sản đối với người mắc nợ để thu hồi
nợ. Khi người mắc nợ nộp đơn yêu cầu phá sản thì kèm theo đơn là: bản
cân đối tài chính, bản kiểm kê tài sản, danh sách chủ nợ và phải nộp một
khoản lệ phí. Tình trạng phá sản là không có khả năng trả các khoản nợ
đến hạn và đối với pháp nhân là không có khả năng trả nợ. Pháp nhân được
coi là không có khả năng trả nợ khi khoản tiền nợ lớn hơn tài sản có
của pháp nhân. Khi doanh nghiệp mắc nợ ngừng trả các khoản nợ, thì người
mắc nợ được coi là không có khả năng tài chính để trả nợ và thường khi
không trả hai ký phiếu hồi lại thì được coi là một dấu hiệu ngừng thanh
toán.
- Quyết định phá sản của Toà án: nếu Toà án nhận được
đơn yêu cầu phá sản xác nhận nguyên nhân gây phá sản là có thực thì Toà
án sẽ ra quyết định phá sản.
Thương nhân, tất cả các thể nhân, pháp nhân đều có
thể bị tuyên bố phá sản. Khi thương nhân bị tuyên bố phá sản thì các vụ
kiện liên quan đến khoản nợ của thương nhân bị tạm đình chỉ ít nhất cho
đến khi kiểm kê các khoản nợ. Việc thi hành các bản án, những biện pháp
khẩn cấp tạm thời… cũng bị tạm đình chỉ.
Những khoản nợ phá sản là những khoản nợ mà chứng cứ
của những khoản nợ đó có thể được đưa ra trong thủ tục phá sản và có thể
được trả một phần hoặc toàn bộ khi phân chia tài sản có của người mắc
nợ.
Những khoản nợ là lương của người lao động của công
ty bị phá sản là những khoản nợ được ưu tiên thanh toán. Chủ nợ phải có
nghĩa vụ xuất trình chứng cứ về những khoản nợ của mình trước Toà án.
Trong quyết định tuyên bố phá sản, Toà án ấn định thời hạn mà chủ nợ
phải xuất trình chứng cứ về các khoản nợ của mình. Thời hạn này tối
thiểu là hai tuần và tối đa là 4 tháng kể từ khi ra quyết định tuyên bố
phá sản.
Cùng với việc ra quyết định phá sản, Toà án chỉ định
nhân viên quản lý tài sản của doanh nghiệp bị phá sản. Trường hợp doanh
nghiệp bị phá sản không còn tài sản thì Toà án sẽ tuyên bố chấm dứt thủ
tục phá sản ngay.
- Quản lý và bán tài sản của doanh nghiệp: Nhiệm vụ
này do nhân viên quản lý tài sản thực hiện. Ngay sau khi được chỉ định,
nhân viên quản lý tài sản sẽ đến trụ sở doanh nghiệp mắc nợ và thực hiện
các biện pháp bảo toàn tài sản theo quyết định của Toà án. Nếu doanh
nghiệp chưa cho công nhân thôi việc thì họ sẽ cho công nhân thôi việc.
Nhân viên quản lý tài sản quyết định việc bán tài sản theo thủ tục thông
thường hoặc tổ chức bán đấu giá, quyết định việc dừng kinh doanh hay để
doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục kinh doanh. Tất cả tiền thu được phải gửi
vào một tài khoản riêng và mục tiêu là chuyển toàn bộ tài sản của doanh
nghiệp bị phá sản thành tiền để thanh toán cho giai đoạn tiếp theo. Nhân
viên quản lý có quyền hủy những hành vi nhất định được thực hiện trước
khi có quyết định tuyên bố phá sản mà gây thiệt hại đối với các chủ nợ.
- Xác định tổng số nợ và tổng số chủ nợ: Thông qua
đơn yêu cầu phá sản và yêu cầu thanh toán, Nhân viên lục sự của Toà án
sẽ lập danh sách các khoản nợ theo các tài liệu, chứng cứ được các chủ
nợ cung cấp theo thời hạn như trên. Danh sách khoản nợ bao gồm các nội
dung như tên, địa chỉ của chủ nợ, số lượng khoản nợ, giao dịch làm phát
sinh khoản nợ. Tùy thuộc vào vụ việc cụ thể mà nội dung danh sách có thể
có những nội dung khác.
Nhân viên quản lý tài sản cũng phải điều tra các
khoản nợ: họ sẽ gửi khai báo của doanh nghiệp mắc nợ tới các chủ nợ. Chủ
nợ sẽ thông báo số nợ của mình cho nhân viên quản lý tài sản. Sau khi
xác định nếu thấy đúng chủ nợ và số nợ thì nhân viên quản lý tài sản đưa
họ vào danh sách chủ nợ. Nếu có sự không thống nhất, không đúng thì ở
đây sẽ có sự tranh chấp giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ về khoản nợ,
tranh chấp này chuyển cho Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Vào ngày ấn định kiểm tra các khoản nợ, công ty bị
tuyên bố phá sản, chủ nợ, người quản lý tài sản cùng kiểm định các khoản
nợ. Toà án xác định ngày kiểm tra các khoản nợ trong quyết định tuyên
bố phá sản. Nhân viên quản lý tài sản phải kiểm tra chứng cứ các khoản
nợ trước ngày kiểm tra các khoản nợ.
Tại Điều 98 của Luật Phá sản năm 1922 còn quy định về
việc bù trừ. Theo đó, chủ nợ có một khoản nợ phá sản mà lại là người
mắc nợ của công ty phá sản vào cùng thời điểm tuyên bố phá sản có thể
thanh toán khoản nợ của mình bằng tài sản phá sản. Tuy nhiên, một số
trường hợp cụ thể sẽ không được thanh toán bù trừ như sau: khoản nợ được
hình thành sau khi tuyên bố phá sản, quyền đòi nợ được mua tậu sau khi
tuyên bố phá sản.
- Thanh toán khoản nợ và chấm dứt thủ tục phá sản.
Nhân viên quản lý tài sản sẽ thực hiện công việc này. Sau ngày kiểm tra
các khoản nợ đầu tiên, người quản lý tài sản có trách nhiệm phân chia
các tài sản tiền mặt của công ty bị phá sản. Sau khi thanh lý hoàn toàn,
người quản lý tài sản tiến hành phân chia tài sản của công ty bị phá
sản lần cuối với sự phê chuẩn của Toà án. Sau đó, Toà án triệu tập một
cuộc họp toàn thể các chủ nợ để nhân viên quản lý tài sản trình bày về
mặt tài chính. Khi giá trị của khối tài sản phá sản không đủ để trả các
chi phí phá sản thì Toà án tuyên bố chấm dứt thủ tục phá sản. Khi yêu
cầu tuyên bố phá sản, Toà án đánh giá rằng tổng tài sản phá sản sẽ không
đủ chi phí thì Toà án có trách nhiệm tuyên bố chấm dứt phá sản ngay khi
quyết định tuyên bố phá sản.
Luật Phá sản Nhật Bản còn quy định sự phục quyền. Sự
phục quyền được đưa vào Luật năm 1952 dưới ảnh hưởng của luật phá sản
Mỹ. Sự phục quyền là hoàn toàn và ngay lập tức khi các điều kiện theo
quy định của pháp luật được đáp ứng. Công ty phá sản vào bất cứ lúc nào
có thể yêu cầu Toà án ra lệnh phục quyền. Lệnh phục quyền được ban hành
sẽ hủy bỏ tất cả các quyền đòi nợ khi đã trả tiền lãi, trừ một số khoản
nợ như nợ thuế, các khoản tiền phạt hình sự.
(2) Thủ tục thanh lý đặc biệt
Thủ tục thanh lý đặc biệt hay còn gọi là thủ tục phá
sản tự nguyện. Theo thủ tục này, khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản sẽ gửi đơn cho Toà án và nói rõ sẽ áp dụng thủ tục thanh toán đặc
biệt. Doanh nghiệp sẽ triệu tập Đại hội cổ đông, nêu rõ lý do phá sản.
Đại hội sẽ tuyên bố giải tán công
ty và chọn một người thanh toán tài sản. Người này sẽ thực hiện việc
thanh toán tài sản dưới sự giám sát của Toà án (thông qua các báo cáo
của họ). Người thanh toán tài sản sẽ chuyển hóa các tài sản thành tiền
để thanh toán các khoản nợ, nếu số tiền thu được lớn hơn nợ thì sau khi
thanh toán nợ, số tiền còn lại sẽ được chia cho các cổ đông. Nếu nợ lớn
hơn số tiền thu được thì người thanh toán tài sản sẽ phải lựa chọn hoặc
là tiếp tục thực hiện thủ tục thanh toán đặc biệt hoặc nộp đơn cho Toà
án xin áp dụng thủ tục phá sản.
Thủ tục thanh lý đặc biệt chỉ được áp dụng cho loại
Công ty cổ phần. Thông thường, doanh nghiệp lựa chọn thủ tục này vì chi
phí khi áp dụng thủ tục phá sản là rất cao. Nhưng thực tế thì thủ tục
này cũng không được áp dụng nhiều vì phạm vi áp dụng rất hạn hẹp.
(3) Thỏa hiệp
Luật về thỏa hiệp quy định rằng, thủ tục thỏa hiệp
được đưa ra theo yêu cầu của công ty phá sản kèm theo một kế hoạch thỏa
hiệp. Sau khi yêu cầu thỏa hiệp được đưa ra, Toà án chỉ định một hay
nhiều Ủy viên Hội đồng thỏa hiệp. Các Ủy viên Hội đồng này xem xét và
đưa ra ý kiến về cơ hội tạo lập thủ tục thỏa hiệp. Toà án xem xét, nếu
thấy yêu cầu có thể chấp nhận thì tuyên bố tạo lập thủ tục thỏa hiệp.
Mục tiêu của thỏa hiệp là tránh phá sản, phục hồi lại quyền của người
mắc nợ. Toà án chỉ định một người quản lý tài sản thỏa hiệp. Người quản
lý này có trách nhiệm xem xét thái độ của người mắc nợ và theo dõi quá
trình hoạt động của doanh nghiệp dưới sự kiểm soát của Toà án[1].
b. Thủ tục phục hồi
Thủ tục phục hồi bao gồm: (1) Tổ chức lại công ty (tái thiết công ty), (2) Phục hồi dân sự và (3) Sắp xếp công ty.
(1) Tổ chức lại công ty
Thủ tục này chỉ áp dụng cho những công ty lớn, công
ty tài chính, bảo hiểm, ngân hàng. Mục tiêu của thủ tục này là bảo tồn
giá trị của công ty với tư cách là một thực thể hoạt động và vẫn đảm bảo
các quyền của các bên liên quan. Theo thủ tục này, hoạt động của công
ty được quản lý và giám sát, các quyền của chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ
được cân nhắc, điều chỉnh, các hoạt động kinh doanh được tiếp tục.
Khi công ty mắc nợ nộp đơn xin tái thiết công ty thì
kèm theo đơn phải có bản cân đối tài chính, kiểm kê tài sản của công ty,
danh sách chủ nợ, bản trình bày khả năng tái thiết công ty (chứng minh
những nguồn vốn có thể huy động được, khả năng có thể trả được những chi
phí, những khoản nợ nhất định) và kế hoạch tổng thể về kinh doanh của
công ty tương lai (phải nêu được có sự hợp tác của các công ty chủ nợ
trong tương lai).
Toà án sẽ xem xét đơn trong vòng một tuần, nếu thấy
đã đầy đủ theo quy định thì Toà án thụ lý đơn, ra lệnh bảo toàn tài sản
và chỉ định người quản lý tài sản. Người quản lý tài sản sẽ đến công ty
người mắc nợ và sẽ nắm quyền kinh doanh (ban điều hành của công ty bị
giải tán). Người này sẽ điều tra tình trạng của công ty trong thời hạn
từ một đến ba tháng. Nếu thấy công ty có khả năng tái thiết được thì báo
cáo với Toà án để mở thủ tục tái thiết công ty, ngược lại thì mở thủ
tục phá sản. Để thực hiện những công việc trên, người quản lý tài sản sẽ
phải tìm kiếm người có khả năng quản lý công ty vỡ nợ, tìm kiếm những
công ty có thể mua (bảo trợ) công ty vỡ nợ.
Đặc trưng của thủ tục này là: có thể hạn chế quyền
của chủ nợ có bảo đảm (có nghĩa là quyền của chủ nợ đối với tài sản thế
chấp của người mắc nợ bị đình chỉ, tạm thời chưa thanh toán, chưa giải
quyết quyền lợi cho chủ nợ có bảo đảm, quyền này sẽ được khôi phục khi
công ty người mắc nợ bị phá sản); Giảm thiểu sự ưu tiên đối với khoản nợ
thuế (trong thủ tục phá sản khoản nợ này được ưu tiên); Các cổ đông
công ty chia sẻ và cùng gánh chịu thiệt hại; phát hành cổ phiếu mới để
hình thành cổ đông mới của công ty. Công ty bảo trợ chính (Công ty bỏ
tiền nhiều nhất để mua công ty vỡ nợ) sẽ là cổ đông chính và thông
thường người quản lý tài sản để công ty bảo trợ chính nắm giữ quyền quản
lý của công ty tái thiết. Toà án kiểm tra giám sát quá trình thực hiện
kế hoạch tổ chức lại công ty…
Trong thời hạn một năm kể từ ngày Toà án mở thủ tục
tái thiết công ty, phương án tái thiết công ty phải hoàn thành và nếu
chưa hoàn thành thì được gia hạn thêm một năm nữa. Phương án này do hội
nghị chủ nợ có bảo đảm và hội nghị chủ nợ không có bảo đảm thông qua.
Trên thực tế thì chỉ tiến hành một hội nghị chủ nợ, nhưng phát hành hai
lá phiếu khác nhau cho hai loại chủ nợ. Phải có trên 2/3 chủ nợ không có
bảo đảm và 3/4 chủ nợ có bảo đảm tán thành thì phương án tái thiết được
thông qua. Phương án giảm nợ phải có 4/5 chủ nợ có bảo đảm thông qua.
Mặc dù luật quy định phương án tái thiết được xây dựng trong vòng hai
năm, nhưng trên thực tế nó được thực hiện một cách khẩn trương, chỉ
trong vòng một năm hoặc ít hơn.
Khi phương án tái thiết được thông qua thì công ty
được coi như một công ty bình thường khác, Luật sư được chỉ định làm
người quản lý tài sản ở lại công ty với vai trò là người tư vấn giám sát
hoạt động của công ty. Nếu thấy phương án tái thiết đã thực hiện được
từ 70% đến 80% thì Toà án sẽ chấm dứt vai trò giám sát của họ (cũng là
chấm dứt sự giám sát của Toà án).
Trên thực tế, ở Nhật Bản chưa có một công ty nào được
tái thiết lại lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết
thì công ty tái thiết hoàn toàn có thể lại lâm vào tình trạng phá sản.
Trong trường hợp này, quyền lợi của các chủ nợ mới đã giúp công ty tái
thiết sẽ được giải quyết như thế nào? Ở Nhật Bản chưa có quy định về vấn
đề này, ở Mỹ thì quy định rõ trong trường hợp này chủ nợ mới sẽ phải
được ưu tiên hàng đầu.
(2) Thủ tục phục hồi dân sự
Cũng tương tự như thủ tục tổ chức lại công ty, thủ
tục phục hồi dân sự cũng nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục
kinh doanh, tạo cơ hội cho doanh nghiệp mắc nợ phục hồi kinh tế sau khi
gặp khó khăn về tài chính chứ không phải là thanh toán nó.
Tuy nhiên, nếu thủ tục tổ chức lại công ty chỉ áp
dụng cho những công ty lớn thì thủ tục phục hồi dân sự được áp dụng cho
cả cá nhân kinh doanh và pháp nhân vừa và nhỏ. Pháp nhân không chỉ bao
gồm các công ty kinh doanh mà còn bao gồm cả những pháp nhân công ích
như trường học, bệnh viện… Thủ tục này cũng áp dụng cho các công ty lớn
nếu họ lựa chọn thủ tục này.
Theo thủ tục này, doanh nghiệp mắc nợ chỉ cần đang ở
tình trạng có khả năng sẽ không thể thanh toán nợ đến hạn là được quyền
nộp đơn xin phục hồi dân sự.
Khi doanh nghiệp mắc nợ nộp đơn xin phục hồi dân sự,
Toà án sẽ thụ lý đơn ngay (không cần một tuần chuẩn bị như các thủ tục
khác). Và ngay sau đó, Toà án chỉ định người giám sát tài sản và ra lệnh
bảo toàn tài sản. Trong vòng từ hai tuần đến một tháng, người giám sát
tài sản điều tra để xác định doanh nghiệp mắc nợ có còn khả năng kinh
doanh hay không. Toà án sẽ ra quyết định mở thủ tục phục hồi dân sự trên
cơ sở báo cáo này.
Ở thủ tục phục hồi dân sự, trong vòng ba tháng kể từ
ngày Toà án quyết định mở thủ tục, doanh nghiệp mắc nợ phải nộp phương
án phục hồi, có thể được gia hạn hai lần, mỗi lần một tháng. Nếu đã gia
hạn hai lần mà không có phương án phục hồi thì Toà án ra quyết định phá
sản.
Trong vòng năm tháng kể từ ngày Toà án mở thủ tục sẽ
triệu tập hội nghị chủ nợ để thông qua phương án phục hồi người mắc nợ.
Nếu trên 1/2 số chủ nợ (với trên 1/2 tổng số nợ) tán thành phương án
phục hồi, thì phương án này được Toà án công nhận và doanh nghiệp mắc nợ
sẽ thực hiện phương án phục hồi trong vòng ba năm.
Nhìn chung, thủ tục phục hồi dân sự tương tự như thủ
tục tổ chức lại công ty, tuy nhiên có ba điểm khác biệt căn bản giữa thủ
tục phục hồi dân sự và thủ tục tổ chức lại công ty:
- Ở thủ tục phục hồi dân sự, thành phần quản lý hiện
tại của doanh nghiệp mắc nợ vẫn nắm quyền quản lý và kinh doanh; ở thủ
tục tổ chức lại công ty thì bộ phận này được thay thế bằng một thành
phần mới.
- Ở thủ tục tổ chức lại công ty, cổ đông hiện tại được coi như không còn nữa, còn ở thủ tục phục hồi dân sự thì vẫn giữ nguyên.
- Quyền bảo đảm của chủ nợ trên tài sản thế chấp của
công ty ở thủ tục phục hồi dân sự không bị hạn chế, còn ở thủ tục tổ
chức lại công ty thì bị đình chỉ.
Trong trường hợp chủ nợ có bảo đảm không đồng ý tạm
thời dừng quyền của mình đối với tài sản thế chấp (ví dụ: chủ nợ có bảo
đảm vẫn muốn bán nhà xưởng là tài sản thế chấp của người mắc nợ), thì
doanh nghiệp mắc nợ không thể tiếp tục kinh doanh được nữa, do đó tùy
theo quan hệ với chủ nợ mà công ty sẽ lựa chọn tái thiết công ty hoặc
phục hồi dân sự.
(3) Thủ tục sắp xếp công ty
Thủ tục này về bản chất cũng là thủ tục phục hồi lại
công ty nhưng được giải quyết ngoài Toà án. Thủ tục này tiết kiệm thời
gian và chi phí tố tụng, nên cũng được nhiều công ty áp dụng. Đặc điểm
căn bản của thủ tục này là phương án sắp xếp lại công ty cần phải được
hội nghị chủ nợ thông qua, doanh nghiệp mắc nợ sẽ gặp từng chủ nợ để
thỏa thuận việc sắp xếp lại công ty (hoãn nợ, mức trả nợ, cách thức trả
nợ, bỏ bớt lĩnh vực kinh doanh không có lãi…). Trong thủ tục này, pháp
luật có quy định cho phép sự can thiệp cần thiết của Toà án đối với
những chủ nợ có bảo đảm nếu muốn bán tài sản thế chấp thì Toà án sẽ ra
lệnh ngăn chặn. Tuy nhiên, sự can thiệp của Toà án là rất hạn chế.
Như vậy, để giải quyết tình trạng một doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ, pháp luật Nhật Bản có rất nhiều hình thức tuỳ thuộc vào
thực trạng cụ thể của doanh nghiệp đó.
2. Pháp luật về phá sản ở Pháp
Quy định của pháp luật hiện đại về phá sản của Pháp
được đưa ra trong các luật năm 1955, năm 1967. Hiện tại, việc giải quyết
phá sản ở Pháp được quy định tại Luật ngày 25-01-1985 (được sửa đổi
theo Luật Phá sản ngày 20-10-1994). Một trong những đặc trưng của pháp
luật phá sản hiện đại của Pháp là khuyến khích sự sống sót của doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Pháp luật cũng phân biệt rõ các quyền
yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản và sự phân biệt thứ tự ưu tiên các
quyền của chủ nợ đối với người mắc nợ.
Pháp luật về phá sản của Pháp cũng quy định hai thủ tục: Thủ tục phục hồi và thủ tục phá sản.
Luật Phá sản năm 1985 quy định, theo những chứng cứ
do người nộp đơn đưa ra, Toà án sẽ quyết định áp dụng thủ tục nào, nếu
áp dụng thủ tục phục hồi thì Toà án sẽ chỉ định người giám sát doanh
nghiệp. Người giám sát doanh nghiệp sẽ đánh giá khả năng của doanh
nghiệp, nếu có khả năng phục hồi, người này sẽ đề nghị Toà án cho áp
dụng thủ tục phục hồi. Người đề nghị sẽ xây dựng kế hoạch phục hồi.
Trong trường hợp ngược lại, doanh nghiệp sẽ bị làm thủ tục phá sản.
Người giám sát doanh nghiệp sẽ xây dựng và chuẩn bị kế hoạch bán doanh
nghiệp.
Luật Phá sản sửa đổi năm 1994 quy định thủ tục phục
hồi tư pháp. Thủ tục này cấp cho thẩm phán chỉ trong những trường hợp mà
sự phục hồi rõ ràng là có thể, quyền ấn định một giai đoạn giám sát mà
thời hạn của nó có thể dao động từ 6 tháng đến 20 tháng. Trong khoảng
thời gian này, việc quản lý doanh nghiệp được đặt dưới sự giám sát của
Toà án. Kết thúc giai đoạn giám sát, Toà án ra quyết định thanh lý công
ty hoặc có thể yêu cầu người mắc nợ và các chủ nợ một kế hoạch phục
hồi[2]. Kế hoạch của người giám sát phải được Toà án thông qua và chấp
thuận. Trong thời gian thực hiện kế hoạch giám sát, mọi khiếu nại (đòi
nợ) đối với doanh nghiệp bị giám sát sẽ tạm ngừng. Toà án sẽ xem xét
chấp thuận hoặc không chấp nhận kế hoạch do người được Toà án chỉ định
đệ trình mà không cần phải có ý kiến của các chủ nợ.
Luật Phá sản sửa đổi năm 1994 đã có những quy định cụ
thể hơn để tạo thêm khả năng có thể bỏ qua quá trình áp dụng thủ tục
phục hồi, nếu doanh nghiệp không thể có khả năng phục hồi thì sẽ áp dụng
thủ tục thanh toán ngay, còn trong trường hợp áp dụng thủ tục phục hồi
thì cũng có những quy định chặt chẽ để hạn chế quá trình giám sát doanh
nghiệp. Thực tế này cho thấy họ đã bỏ bớt những giai đoạn không cần
thiết giúp nhanh chóng thực hiện được mục tiêu: hoặc là áp dụng thủ tục
phục hồi, hoặc là nhanh chóng thanh lý ��ược doanh nghiệp không còn khả
năng tồn tại.
Luật Phá sản sửa đổi năm 1994 cũng thể hiện xu hướng
thay đổi trong pháp luật phá sản của Pháp. Nếu như trước năm 1994, mục
tiêu của pháp luật phá sản “hướng vào người mắc nợ” rất rõ nét với quan
điểm rõ ràng là trong tình trạng thất nghiệp cao, khả năng về việc làm
và sản xuất phải được đảm bảo bằng mọi biện pháp thì Luật Phá sản sửa
đổi năm 1994 đã làm giảm nhẹ mục tiêu hướng vào người mắc nợ, tăng quyền
hạn của các chủ nợ và nâng cao tính hiệu quả của quá trình tổ chức lại
doanh nghiệp.
Khác với Luật Phá sản của Nhật Bản yêu cầu kế hoạch
tổ chức lại doanh nghiệp phải được một tỷ lệ nhất định các chủ nợ ở mỗi
nhóm chủ nợ thông qua, Luật Phá sản của Pháp cho phép Toà án quyết định
chấp thuận hay từ chối kế hoạch do người được Toà án chỉ định đưa ra mà
không cần các chủ nợ lớn phải thông qua. Người được Toà án chỉ định có
trách nhiệm tư vấn cho các nhà quản lý doanh nghiệp, những người đại
diện cho người lao động, các chủ nợ của doanh nghiệp và các cơ quan có
liên quan khác và yêu cầu họ cho biết quan điểm của họ là nên để doanh
nghiệp tiếp tục tồn tại hay là thanh toán nó. Nhưng quyết định cuối cùng
lại do Toà án quyết định mà không cần sự đồng ý của các chủ nợ. Đây là
đặc điểm riêng của Luật Phá sản của Pháp.
3. Pháp luật về phá sản ở Liên bang Nga
Theo quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1992
của Liên bang Nga thì tình trạng phá sản của doanh nghiệp được hiểu là
việc mất khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ nợ về thanh toán hàng hóa
(công việc, dịch vụ) kể cả việc mất khả năng bảo đảm các thanh toán phải
nộp ngân sách và các quỹ ngoài ngân sách do nghĩa vụ của người mắc nợ
vượt quá tài sản của mình hoặc do mất cân đối trong cán cân thanh toán
của người mắc nợ.
Dấu hiệu bên trong về tình trạng phá sản của doanh
nghiệp là sự ngừng việc thanh toán bình thường của mình, nếu doanh
nghiệp không bảo đảm hoặc rõ ràng không có khả năng thực hiện các yêu
cầu của chủ nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thực hiện các
yêu cầu đó. Doanh nghiệp bị coi là phá sản kể từ thời điểm Toà án trọng
tài công nhận tình trạng phá sản hoặc từ thời điểm doanh nghiệp mắc nợ
chính thức tuyên bố phá sản tự nguyện (Điều 1 Luật Phá sản doanh nghiệp
của Cộng hòa Liên bang Nga năm 1992).
Luật Phá sản doanh nghiệp của Liên bang Nga quy định các thủ tục gồm: (1) Thủ tục tổ chức lại; (2) Thủ tục thanh lý.
Thủ tục tổ chức lại bao gồm việc quản lý tài sản của người mắc nợ và phục hồi doanh nghiệp mắc nợ.
Thủ tục thanh lý bao gồm: Giải thể bắt buộc doanh
nghiệp mắc nợ theo quyết định của Toà án trọng tài; Giải thể tự nguyện
bởi doanh nghiệp bị phá sản dưới sự kiểm soát của các chủ nợ (Điều 2
Luật Phá sản doanh nghiệp của Liên bang Nga năm 1992).
(1) Thủ tục tổ chức lại
- Quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ:
Chủ nợ, người mắc nợ và chủ sở hữu người mắc nợ có thể nộp đơn yêu cầu quản lý tài sản người mắc nợ đến Toà án trọng tài;
Nếu xét thấy có đủ điều kiện thì Toà án trọng tài
đồng ý cho tiến hành thủ tục quản lý tài sản của người mắc nợ. Thời hạn
áp dụng tối đa không quá 18 tháng;
Toà án trọng tài bổ nhiệm một Quản tài viên (người này được hưởng thù lao);
Quản tài viên có quyền quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp, chịu trách nhiệm quản lý doanh nghiệp;
Tổ chức Hội nghị chủ nợ: Bầu uỷ ban chủ nợ; Phê duyệt
kế hoạch quản lý tài sản của người mắc nợ; Bổ nhiệm (chỉ định một số
doanh nghiệp) có nghĩa vụ chuyển tiền vào tài khoản ký quỹ tại Toà án
trọng tài; phê duyệt kế hoạch quản lý tài sản của người mắc nợ…
Tuỳ tình hình cụ thể, Quản tài viên có quyền đề nghị
Toà án trọng tài quyết định đối với doanh nghiệp: Chấm dứt quản lý tài
sản và tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản; tiếp tục thực hiện quản lý
doanh nghiệp; tuyên bố doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng trên và chấm
dứt quản lý tài sản của doanh nghiệp.
- Phục hồi doanh nghiệp mắc nợ:
Chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và chủ sở hữu doanh
nghiệp mắc nợ có thể nộp đơn yêu cầu phục hồi doanh nghiệp đó đến Toà án
trọng tài;
Nếu thấy có đủ điều kiện thanh toán các khoản nợ từ
phía doanh nghiệp mắc nợ thì có thể áp dụng thủ tục phục hồi. Khi đó sẽ
có sự giúp đỡ về mặt tài chính từ phía chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc từ
những người khác;
Nếu trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày nhận được lá
đơn thứ nhất, Toà án trọng tài nhận được đơn thứ hai yêu cầu mở thủ tục
phá sản đối với chính doanh nghiệp đó thì sẽ không được áp dụng thủ tục
phục hồi doanh nghiệp.
- Nếu chấp nhận phục hồi doanh nghiệp mắc nợ thì theo
yêu cầu của chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ, Toà án trọng tài tuyên bố tổ
chức cuộc thi chọn người tham gia phục hồi doanh nghiệp. Quá thời hạn dự
kiến mà không ai đăng ký tham gia cuộc thi chọn người phục hồi doanh
nghiệp thì Toà án trọng tài sẽ ra một trong những quyết định sau:
+ Công nhận doanh nghiệp bị phá sản và tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp;
+ Bác đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vì doanh nghiệp
có khả năng đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp chủ nợ và có khả năng thanh
toán các khoản nợ.
Nếu có đủ người thì những người tham gia phục hồi
doanh nghiệp sẽ có cuộc họp để đưa ra thoả hiệp. Bản thoả hiệp không
được đưa ra yêu cầu buộc doanh nghiệp mắc nợ chuyển giao tài sản cho
người tham gia phục hồi. Những người tham gia phục hồi phải cộng đồng
trách nhiệm với doanh nghiệp bị phục hồi.
Tuỳ tình hình cụ thể mà doanh nghiệp mắc nợ, chủ nợ,
chủ sở hữu doanh nghiệp mắc nợ có quyền làm đơn yêu cầu Toà án trọng tài
ra một trong những quyết định: công nhận doanh nghiệp đã được phục hồi
và đình chỉ thủ tục phá sản; chấm dứt phục hồi và tuyên bố doanh nghiệp
bị phá sản;
(2) Thủ tục thanh lý tài sản
Thanh lý tài sản là nhằm đáp ứng một phần yêu cầu của các chủ nợ và giải phóng cho người mắc nợ khỏi nghĩa vụ.
Sau khi công nhận doanh nghiệp bị phá sản, Toà án
trọng tài ra quyết định giải thể bắt buộc doanh nghiệp mắc nợ. Quyết
định giải thể bắt buộc cũng như quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá
sản được đăng trên Tờ tin của Toà án trọng tài tối cao Nga, chi phí đăng
tin là từ tài sản trong tài khoản ký quỹ tại Toà án trọng tài.
Chức năng của Toà án trọng tài trong thủ tục thanh lý tài sản:
+ Mở và kết thúc thủ tục thanh lý tài sản;
+ Bổ nhiệm nhân viên thanh lý tài sản;
+ Ra quyết định buộc người lãnh đạo doanh nghiệp thôi thực hiện nghĩa vụ quản lý doanh nghiệp;
+ Ra quyết định về tính hợp pháp trong hành vi của
những người tham gia thủ tục thanh lý tài sản trong các trường hợp theo
quy định của Luật Phá sản.
4. Pháp luật về phá sản ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Luật Phá sản doanh nghiệp của nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa lần đầu tiên được thông qua năm 1986. Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1986 chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước.
Hai mươi năm sau, ngày 27-8-2006, Luật Phá sản doanh
nghiệp mới được ban hành. Luật này bao gồm 136 điều và có hiệu lực kể từ
ngày 01-6-2007. Luật này chỉ có phạm vi áp dụng trên Trung Hoa đại lục
mà không áp dụng tại các vùng lãnh thổ như Hồng Kông, Ma Cao và Đài
Loan[3].
Luật Phá sản mới đã mở rộng phạm vi áp dụng hơn và
tương thích hơn với Luật Phá sản của các nước khác, đặc biệt là Mỹ. Một
trong những điểm mới quan trọng của Luật Phá sản năm 2006 là phạm vi áp
dụng của Luật Phá sản năm 2006 được mở rộng cho tất cả các loại hình
doanh nghiệp không phân biệt doanh nghiệp tư hay doanh nghiệp công, tuy
nhiên vẫn không áp dụng đối với cá nhân.
Một thay đổi có ý nghĩa quan trọng nữa là Luật mới
này thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán khi người mắc nợ phá sản, đó là
chủ nợ thương mại được ưu tiên trước người lao động. Theo số liệu chính
thức, từ năm 1994 đến năm 2005, Trung Quốc tuyên bố phá sản 3658 doanh
nghiệp[4].
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 2006 có quy định về
người quản lý (khái niệm người quản lý gần như tương đồng với khái niệm
người được ủy thác quản lý tài sản phá sản trong thủ tục phá sản của
Mỹ). Vai trò của người quản lý là giúp đỡ chủ nợ và đảm bảo cho việc phá
sản được diễn ra thuận lợi. Luật Phá sản năm 2006 cũng đưa ra các quy
định rất rõ ràng về tiêu chuẩn những người có thể trở thành người quản
lý và các tiêu chuẩn này thường phù hợp với những người đến từ đội ngũ
các luật sư, kế toán viên.
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 2006 không chỉ củng cố
và làm rõ hơn những điều khoản về thanh lý tài sản của Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1986 mà còn bổ sung những quy định về tổ chức lại với
tư cách là một sự lựa chọn về mặt pháp lý. Với thủ tục tổ chức lại, một
công ty có thể tự bảo vệ mình trước các chủ nợ khi mà bản thân công ty
đó vẫn có thể tiếp tục hoạt động được. Một quy định trong phần thủ tục
phục hồi đưa ra khái niệm “cram down” (tạm dịch là “kế hoạch cuối
cùng”). Điều này có nghĩa là doanh nghiệp mắc nợ phải nỗ lực xây dựng và
thực hiện kế hoạch giải quyết các bất đồng trong trường hợp các bất
đồng này là có khả năng giải quyết.
Sự khác nhau quan trọng nhất của Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1986 và Luật Phá sản doanh nghiệp năm 2006 là Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 2006 quy định quyền ưu tiên cho các khiếu nại có đảm
bảo đối với người lao động, khiếu nại đối với nợ thuế và các khiếu nại
chung khác. Quy định này phù hợp với đất nước có nền kinh tế thương mại
phát triển, khi mà các khiếu nại của người lao động chỉ diễn ra với các
chủ nợ không bảo đảm. Luật Phá sản doanh nghiệp năm 2006 cũng áp dụng
cho các công ty hoạt động ở các lãnh thổ hải ngoại và các công ty nước
ngoài hoạt động tại Trung Quốc[5].
Tóm lại, khái niệm phá sản theo quy định của pháp
luật Trung Quốc là khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán khoản
nợ đến hạn thì bị xem xét khả năng doanh nghiệp bị phá sản. Chủ nợ,
người mắc nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản và hai thủ tục giải quyết phá sản
được đưa ra là: thủ tục thanh lý và tổ chức lại (phục hồi).
Thủ tục thanh lý: khi thực hiện thủ tục này, các vụ
kiện liên quan đến tài sản của người mắc nợ sẽ tạm dừng kể từ ngày Toà
án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và chấp nhận đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đó. Các chủ nợ sẽ đăng ký đòi nợ theo thủ tục quy định trong
vòng 1 tháng hoặc trong vòng 3 tháng kể từ ngày nhận được thông báo của
Toà án về chấp nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Những giao dịch
được thực hiện trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày chấp nhận vụ phá sản sẽ
vô hiệu và tài sản liên quan đến giao dịch này sẽ được thu hồi.
Thủ tục phục hồi cũng có thể được áp dụng nếu giữa
chủ nợ và người mắc nợ đạt được thoả thuận. Quá trình này chỉ kéo dài
tối đa trong thời hạn 2 năm. Trong thời hạn thực hiện kế hoạch tổ chức
lại, nếu tình trạng của doanh nghiệp bị xấu đi, doanh nghiệp không thực
hiện đúng kế hoạch tổ chức lại đã được thông qua hoặc doanh nghiệp có
những hành vi gian dối thì kế hoạch tổ chức lại sẽ bị đình chỉ và doanh
nghiệp sẽ bị tuyên bố phá sản.
Như vậy, thủ tục giải quyết hậu quả kinh doanh thua
lỗ của doanh nghiệp rất đa dạng và mềm dẻo. Điểm chung của các nước là
tuỳ theo tình hình cụ thể của các doanh nghiệp mà áp dụng thủ tục phục
hồi (cứu vãn) hay thủ tục thanh lý (phá sản). Trong quá trình thực hiện
không cứng nhắc trong một thủ tục mà có thể chuyển từ thủ tục này sang
thủ tục khác một cách linh hoạt.
Pháp luật phá sản các nước đều thể hiện vai trò của
người quản tài (người quản lý tài sản). Chỉ một người thực hiện chức
năng, nhiệm vụ và có vai trò như Tổ quản lý, thanh lý tài sản của Luật
Phá sản năm 2004 của Việt Nam. Quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá
sản được ban hành một cách nhanh chóng nếu doanh nghiệp thực sự đã phá
sản. Toà án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản và sau đó việc lập danh
sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ và kiểm kê tài sản của doanh nghiệp
bị tuyên bố phá sản được tiến hành sau khi đã có quyết định tuyên bố
doanh nghiệp bị phá sản.
Qua việc tìm hiểu pháp luật phá sản của một số nước
trên thế giới, có thể thấy một số vấn đề cần nghiên cứu thêm trong các
quy định của Luật Phá sản năm 2004 của Việt Nam:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 13 và Điều 15
của Luật Phá sản năm 2004 về quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
của chủ nợ và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì giấy tờ, tài liệu kèm
theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản là rất chặt chẽ và nhiều hơn trong trường hợp chủ nợ
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản.
Tuy nhiên, kinh nghiệm một số nước trên thế giới cho
thấy là trong trường hợp người mắc nợ nộp đơn (hay chính doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản nộp đơn), Toà án thường yêu cầu ít
giấy tờ, tài liệu hơn so với trường hợp chủ nợ nộp đơn (ví dụ: pháp
luật phá sản của Nhật Bản). Nên chăng, thay vì việc quy định nghĩa vụ,
trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 19 Luật
Phá sản năm 2004)[6] cần nghiên cứu thêm về yêu cầu các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp khi người nộp đơn là chủ nợ.
Thứ hai, theo quy định tại khoản 1 Điều 15
Luật Phá sản năm 2004 thì khi nhận thấy doanh nghiệp của mình lâm vào
tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luật Phá sản
năm 2004 đã không quy định chế tài nên trách nhiệm này không được người
mắc nợ nghiêm chỉnh chấp hành và vì vậy cũng ảnh hưởng đến tính hiệu
lực của Luật Phá sản năm 2004 trong thực tiễn[7]. Việc không quy định chế tài ở trong Luật Phá sản năm 2004 dẫn đến quy định tại Điều 15 dường như không có ý nghĩa.
Về vấn đề này, nên chăng cần tham khảo kinh nghiệm
của một số nước trên thế giới đặc biệt là pháp luật phá sản của Pháp.
Điều 128 Luật Phá sản của Pháp quy định, người mắc nợ có thể bị kết tội
phá sản trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ khởi kiện nếu không có
lý do chính đáng. Mặt khác, Luật Phá sản của Pháp còn trao quyền cho
Công tố viên yêu cầu mở thủ tục phá sản. Hoặc, chúng ta có thể xem xét
nghiên cứu việc trao quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản cho Thanh tra Nhà
nước hay Cơ quan kiểm toán. Trong tình trạng hiện nay, khi mà tồn tại
phổ biến tâm lý e ngại khởi kiện phá sản, thì việc trao quyền khởi kiện
phá sản cho các cơ quan đó có thể là cần thiết nhưng việc nghiên cứu các
tiêu chí khởi kiện là vấn đề quan trọng.
Thứ ba, pháp luật phá sản hiện hành chủ yếu
quy định về tố tụng (tức là thủ tục, trình tự thụ lý giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản) trong khi phần pháp luật nội dung còn ít. Tức là chưa
có những quy định cụ thể giải quyết tình trạng khó khăn về tài chính của
doanh nghiệp; các hình thức giúp doanh nghiệp mắc nợ thoát khỏi tình
trạng mất khả năng thanh toán như pháp luật về xử lý tình trạng mất khả
năng thanh toán của nhiều nước trên thế giới hiện nay.
Thứ tư, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy
định Tổ quản lý tài sản do một cán bộ Toà kinh tế làm tổ trưởng và Thẩm
phán giám sát và kiểm tra hoạt động của các nhân viên Tổ quản lý tài
sản. Tổ quản lý tài sản có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Lập bảng kê toàn bộ tài sản của doanh nghiệp;
- Giám sát, kiểm tra việc quản lý tài sản của doanh
nghiệp. Trong trường hợp cần thiết, có quyền đề nghị Thẩm phán quyết
định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản còn lại
của doanh nghiệp;
- Tập hợp danh sách các chủ nợ và số nợ phải trả cho
từng chủ nợ. Tổ quản lý tài sản chịu trách nhiệm trước Thẩm phán về việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (các điều 15, 16 và 17 Luật Phá
sản doanh nghiệp năm 1993).
Luật Phá sản năm 2004 quy định Tổ quản lý, thanh lý
tài sản làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản, một chấp hành viên của cơ quan thi hành
án cùng cấp làm Tổ trưởng. Theo quy định tại Điều 10 Luật Phá sản năm
2004 thì Tổ quản lý, thanh lý tài sản có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Lập bảng kê toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, hợp tác xã;
b) Giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c) Đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
trong trường hợp cần thiết;
d) Lập danh sách các chủ nợ và số nợ phải trả cho
từng chủ nợ; những người mắc nợ và số nợ phải đòi của doanh nghiệp, hợp
tác xã;
đ) Thu hồi v�� quản lý tài sản, tài liệu, sổ kế toán và con dấu của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý;
e) Thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định của Thẩm phán;
g) Phát hiện và đề nghị Thẩm phán ra quyết định thu
hồi lại tài sản, giá trị tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý đã bán hoặc chuyển
giao bất hợp pháp trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 43
của Luật này;
h) Thi hành quyết định của Thẩm phán về việc bán đấu
giá tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng th�� tục thanh lý
theo đúng quy định của pháp luật về bán đấu giá;
i) Gửi các khoản tiền thu được từ những người mắc nợ
và từ việc bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã vào tài
khoản mở tại ngân hàng;
k) Thi hành các quyết định khác của Thẩm phán trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.
Như vậy, nếu như Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993
quy định Thẩm phán, Tổ quản lý thanh lý tài sản đóng vai trò quan trọng
trong thủ tục phá sản nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ nợ,
doanh nghiệp mắc nợ và người lao động, thì Luật Phá sản năm 2004 trao
quyền quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản do Chấp hành viên
(người của cơ quan Thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng).
Chấp hành viên có nhiệm vụ quyền hạn sau đây:
- Điều hành Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 10 của Luật này;
- Mở tài khoản ở ngân hàng để gửi các khoản tiền thu
được từ những người mắc nợ và từ việc bán đấu giá các tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý trong trường hợp cần
thiết;
- Tổ chức thi hành các quyết định của Thẩm phán (khỏan 1 Điều 11 Luật Phá sản năm 2004).
Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993 và Luật Phá sản năm 2004 nêu trên cho thấy, dù là Thẩm
phán Toà án hay Chấp hành viên thuộc Cơ quan thi hành án dân sự, thì bên
cạnh rất ít những điều hợp lý, đa phần là sự bất hợp lý.
Việc trao quyền quản lý, thanh lý tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cho Thẩm phán hay Chấp
hành viên (là những luật gia) là vượt quá khả năng của họ. Bởi họ ít am
hiểu các hoạt động kinh tế nên không thể đảm đương tốt nhiệm vụ, không
thể giám sát, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp.
Theo chúng tôi, khi nghiên cứu sửa đổi Luật Phá sản
năm 2004, chúng ta cần nhận thức lại vấn đề này và có sự nghiên cứu
thích hợp pháp luật phá sản nước ngoài (như pháp luật phá sản của Liên
bang Nga, Anh, Pháp, Nhật Bản…), không giao nhiệm vụ quản lý, thanh lý
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cho Thẩm
phán hay Chấp hành viên mà quy định một thành phần đặc biệt là Quản tài
viên (Người quản lý tài sản). Người này được Toà án bổ nhiệm trên cơ sở
giới thiệu của doanh nghiệp hay chủ nợ. Bên cạnh đó, cần có những quy
định cụ thể tiêu chuẩn của những người này.
Do đó, chúng ta cần nghiên cứu cơ chế Toà án chỉ định
một người đủ tiêu chuẩn thay mặt Toà án đứng ra làm nhiệm vụ giám sát,
kiểm tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản, đồng thời quy định rõ những nội dung giám sát, kiểm tra
của người này.
Thứ năm, theo quy định tại khoản 6 Điều 37 của
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 thì phương án phân chia giá trị tài
sản của doanh nghiệp là một nội dung bắt buộc của Quyết định tuyên bố
phá sản. Thực tế mười năm áp dụng quy định này đã gặp không ít khó khăn
vướng mắc. Nhưng đến Luật Phá sản năm 2004 thì phương án phân chia tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã là nội dung chính trong Quyết định mở
thủ tục thanh lý tài sản (theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 81 Luật
Phá sản năm 2004). Tuy có sự sửa đổi như nêu trên nhưng thực tiễn áp
dụng quy định này vẫn gặp nhiều khó khăn vướng mắc vì thực tế việc phân
chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã phải căn cứ
vào giá bán thực tế tài sản do Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện mà
Tổ quản lý, thanh lý tài sản lại do Chấp hành viên làm Tổ trưởng, họ sẽ
khó có thể thực hiện được nhiệm vụ. Do đó, thay vì sự tham gia của Chấp
hành viên thì nên quy định cho nhân viên thanh toán tài sản thực hiện.
Về vấn đề này, chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm
của Liên bang Nga. Theo đó, việc định giá tài sản của Toà án chỉ nhằm
phục vụ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, chỉ để xem xét một
doanh nghiệp, hợp tác xã có lâm vào tình trạng phá sản hay không hoặc
làm căn cứ để đánh giá khả năng phục hồi của doanh nghiệp… Khi doanh
nghiệp đã thực sự phá sản thì Toà án chỉ ra quyết định tuyên bố phá sản
và giao cho nhân viên thanh toán thực hiện việc phân chia giá trị còn
lại của doanh nghiệp.
Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển nền kinh tế đất
nước trong thời gian tới, pháp luật phá sản cần được hoàn thiện hơn nữa.
Pháp luật phá sản phải khắc phục được những khiếm khuyết, bất cập trên
cơ sở tổng kết thực tiễn áp dụng và tham khảo những kinh nghiệm hay của
pháp luật phá sản các nước trong khu vực cũng như pháp luật phá sản thế
giới.
[1] http://books.google.com.vn/books
[2]www.oecd.org/dataoecd/8/9/12771090.pdf Le droit des faillites d’un point de vue historique, Paolo Santella, Banca d’Italia.
[3]http://en.wikipedia.org/wiki/Bankruptcy_in_the_People%27s_Republic_of_China
[4]http://oldfrench.radio86.com/view_news.php?id=502
[5]http://www.chinalawblog.com/2007/06/chinas_new_bankruptcy_law_firs.html
[6] Khoản 2 Điều 19 Luật Phá sản năm 2004 quy định:
“Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản do không khách quan gây ảnh
hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
hợp tác xã hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì
tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường
theo quy định của pháp luật”. Quy định này như trên là chưa rõ ràng
vì không có tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là không khách quan hoặc
như thế nào là gây ảnh hưởng xấu đến danh dự uy tín của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản – Báo cáo số 207/BC-BTP ngày 29-12-2008 của Bộ Tư pháp về rà soát, đánh giá thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004, tr.20.
17 Báo cáo số 207/BC-BTP ngày 29-12-2008 của Bộ Tư pháp về rà soát, đánh giá thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004, tr.16.
SOURCE: CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ: TÌM HIỂU LUẬT PHÁ SẢN – TẬP 1. VIỆN KHOA HỌC XÉT XỬ, tandtc VÀ NXB TƯ PHÁP, 2010 - PHAN THỊ THU HÀ – Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao