Tình hình biến đổi dân số ở Việt Nam thời gian qua
Sau 15 năm (1993-2008) thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII về chính sách dân số- kế hoạch hoá gia đình, tình hình dân số nước ta đã có những thay đổi căn bản.
Theo Tổng
cục Thống kê, năm 2006, Việt Nam có khoảng 84.155.800; năm 2008 con số đó không
dưới 86 triệu, là nước đông dân thứ 13 thế giới. Tuy nhiên, cùng với xu hướng
biến động của dân số thế giới, dân số Việt Nam cũng đang chịu những tác động
lớn trong thay đổi về mức sinh, mức chết, tình trạng già hoá và vấn đề di cư…
Mức sinh, mức chết giảm nhưng có sự khác nhau giữa các vùng
Để đo lường mức sinh, người ta dùng nhiều chỉ tiêu, thông thường nhất là “tỷ
suất sinh thô”, tỷ suất này biểu thị số trẻ được sinh ra trong 1 năm, tính
trung bình trên 1.000 dân. Tỷ suất sinh thô của Việt Nam năm 1957 là 44%0. Sau 50 năm
đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình, tỷ suất này giảm xuống còn 17,2%0 năm 2007. Tuy
“tỷ suất sinh thô” giảm nhiều so với dân số lớn nên số trẻ em sinh ra trong một
năm hiện nay vẫn tới khoảng 1,5 triệu em. Tỷ suất sinh thô ở Việt Nam giai đoạn
1998-2007 có chiều hướng giảm, song giữa các năm có sự biến động: Năm 1999 tỷ
suất sinh thô là 19,9; đến năm 2001 còn 18,6; tuy nhiên đến năm 2002 tỷ suất
sinh thô lại tăng lên 19; năm 2003 giảm xuống 17,5; năm 2004 tăng lên 19,2; năm
2005 giảm xuống 18,6 và đến năm 2007 còn 17,2.
Bên cạnh đó, mức sinh rất khác nhau giữa các vùng trong cả nước. Tổng tỷ
suất sinh ở Tây Nguyên (3,1 con) cao hơn rất nhiều ở miền Đông Nam bộ (1,7
con). Sự chênh lệch giữa các tỉnh còn lớn hơn: từ 1,5 con ở thành phố Hồ Chí
Minh đến 3,9 con ở Kon Tum. Mặt khác, mức sinh cũng có sự khác nhau giữa thành
thị và nông thôn nhưng không lớn: 2,3 con và 1,7 con.
Kết quả điều tra tại 3.840 địa bàn mẫu được chọn ngẫu nhiên trong cả nước
cho thấy, mức sinh đã đạt ngưỡng thay thế ứng với tổng tỷ suất sinh là 2,1 con.
Mức sinh này thấp hơn nhiều so với mức chung của các nước Đông Nam Á (2,7 con)
và hiện chỉ cao hơn Singapore
(1,3 con) và của Thái Lan (1,7 con).

Đối với dân số cả nước, mức độ sinh cao nhất là 137%0 thuộc độ tuổi 20-24,
sau đó mức sinh chỉ giảm đôi chút, xuống 130%0 ở độ tuổi 30-34. Sau độ tuổi
này, mức sinh giảm rất nhanh theo độ tuổi, chỉ còn 78%0 ở nhóm tuổi 30-34, 36%0
ở nhóm tuổi 35-39. Tại nhóm tuổi cao nhất, mức độ sinh không đáng kể, chỉ có
1%0.
Các kết quả điều tra khác cũng chỉ ra rằng mức sinh nước ta tiếp tục giảm,
song giảm chậm và dao động nhẹ qua các năm. Đây cũng là xu hướng ở nhiều nước
có mức sinh giảm xuống gần hoặc dưới mức sinh thay thế.
Do mức độ sinh đã giảm đáng kể trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng,
dân số nước ta đang có xu hướng lão hoá. Tỷ trọng dân số trẻ giảm và tỷ trọng
người già ngày càng tăng. Tỷ lệ già hoá cũng có sự khác nhau giữa các vùng. Do
hoàn cảnh địa lý khác nhau theo vùng miền cho nên dẫn đến sự không đồng đều về
mức độ già hoá dân số ở các vùng. Xu hướng chung là tại các vùng đô thị, đồng
bằng có tỷ lệ người già cao hơn so với vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Đồng
bằng sông Hồng là nơi có cấu trúc dân số già nhất, trẻ nhất là Tây Nguyên và
miền núi Tây Bắc, đây cũng là hai vùng có mức sinh cao và tỷ lệ chết trẻ em
(IMR) cao nhất. Riêng vùng Đông Nam Bộ tuy là địa bàn có cả mức sinh và chết
trẻ em (IMR) đều thấp nhất trong cả nước, song do vùng này nhận một lượng lớn
thanh niên nhập cư nên cấu trúc dân số vẫn trẻ.
Số con trung bình về sinh sản của mỗi phụ nữ Việt Nam cũng không ngừng giảm xuống. Từ
chỗ mỗi phụ nữ đến hết tuổi sinh đẻ trung bình có 6 đến 7 con, mấy nam gần đây
chỉ sinh 2 con tức là đạt “mức sinh thay thế”.
Tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ ba cũng đã giảm đi trong suốt thập kỷ
qua. Tỷ lệ cặp vợ chồng sinh con thứ ba hiện nay chỉ còn dưới 17% là rất thấp.
Chính tỷ lệ cặp vợ chồng có từ ba con trở lên thấp như vậy, bù trừ với những
cặp vợ chồng chỉ có một con thì mới tạo nên mức sinh chung của cả nước là
khoảng 2 con. Việc mỗi phụ nữ chỉ sinh 2 con, chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn
không chỉ đến sức khoẻ, học vấn, việc làm, thu nhập, địa vị xã hội mà còn ảnh
hưởng theo hướng tích cực tới việc nuôi dạy con cái, hạnh phúc gia đình, s?
phát triển của cộng đồng và xã hội. Tuy nhiên mức sinh ở các vùng còn khác
nhau, Tây Bắc, Tây Nguyên là 2 vùng có mức sinh cao, khoảng gấp rưỡi vùng Đồng
bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ.

Nam 2005, theo kết quả điều tra biến động dân số, trong khi tỷ suất chết sơ
sinh (IMR) của các nước là 17,8 %0 thì tỷ suất chết thô của toàn quốc là 5,3%0.
So với các nước trong khu vực, nước ta thuộc nhóm nước có mức độ chết (IMR)
giảm nhanh, tốc độ giảm mức chết của nước ta chỉ chậm hơn chút ít so với
In-do-nê-xia và Thái Lan. Khi so sánh tỷ lệ chết thô (CDR) qua các năm đã cho
thấy CDR của nước ta cũng giống như các nước trong khu vực, có sự dao động lên-
xuống. Tuy nhiên, nghiên cứu CDR theo các vùng địa lý-kinh tế cho thấy đã xuất
hiện khá rõ tác động của cơ cấu dân số theo độ tuổi lên tỷ suất chết thô: các
vùng có cơ cấu dân số “già” thì CDR đã nhích dần lên qua các năm, mặc dù mức độ
chết (thể hiện qua IMR) liên tục giảm theo thời gian.
Ở nước ta tỷ lệ chết thô ở các vùng là khác nhau. Khu vực Tây Bắc có tỷ chết
cao gấp 1,5 lần Đông Nam Bộ. Đặc biệt là tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh rất khác nhau
giữa các vùng. Nếu tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 10%0 thì ở Tây Bắc cao gần gấp 3
lần, tới 29 %0. So với các nước trong khu vực, nước ta thuộc nhóm nước có mức
độ IMR giảm nhanh, tốc độ giảm
Do đó, cần chú trọng cung ứng đầy đủ và liên tục phương tiện và dịch vụ kế
hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) có chất lượng cao để giữ vững tỷ lệ tránh thai, mức
sinh đã đạt được, tức là đẩy mạnh Chương trình KHHGĐ đi vào chiều sâu hơn là bề
rộng. Chương trình KHHGĐ cần có sự tập trung, ưu tiên trước hết cho Tây Nguyên,
Tây Bắc nói riêng và nông thôn nói chung; KHHGĐ ở miền núi phải đồng thời với
việc ưu tiên xây dựng và thực hiện chính sách bảo vệ và chăm sóc trẻ em, giảm
thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh nói riêng và tỷ lệ tử vong ở trẻ em nói chung.
Tỷ suất tăng tự nhiên có xu hướng giảm
Có thể thấy rằng, do mức độ chết của dân số nước ta tương đối thấp và thay
đổi không nhiều nên sự thay đổi của tỷ suất tăng tự nhiên chủ yếu phụ thuộc vào
sự thay đổi của tỷ suất sinh thô. Qua điều tra cho thấy, nói chung, tỷ suất
tăng tự nhiên của dân số nước ta có xu hướng giảm mặc dù có sự tăng lên trong
12 tháng từ 1/4/2003 đến 1/4/2004 (tăng tới 2,1%0 so với 12 tháng trước đó).
Tuy nhiên, trong 12 tháng trước 1/4/2004 so với trước 1/4/2005, tỷ suất tự
nhiên đã giảm được 0,5%0./.
SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 20 (436) THÁNG 10 NĂM 2008 - NGUYỄN
VĂN TUÂN
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------