Tình hình sử dụng, quản lý hoá đơn hiện nay
Trong các năm qua, đại bộ phận các tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh đều chấp hành nghiêm chỉnh chế dộ in phát
hành, quản lý sử dụng hoá đơn và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho Ngân
sách Nhà nước. Tuy nhiên đã có một số doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp tư
nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần và hộ kinh doanh đã có hành vi vi phạm quy
định về in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn; nghiêm trọng là các hành vi
mua, bán hoá đơn bất hợp pháp, lập hoá đơn khống.
I.
Hiện trạng về sử dụng, quản lý hoá đơn trước khi có NĐ89 của Chính phủ:
Đặc biệt một số tổ chức, cá
nhân đã lợi dụng việc cấp Giấy phép đăng ký kinh doanh thủ tục đơn giản, lý
lịch nhân thân của chủ doanh nghiệp chưa được xác định đầy đủ, có hàng nghìn
doanh nghiệp thành lập nhưng không nhằm mục đích kinh doanh mà chỉ mua hoá đơn
để bán kiếm lời rồi bỏ trốn không rõ địa chỉ kinh doanh (tính đến nay có 1626
tổ chức, cá nhân kinh doanh bỏ trốn không tìm thấy địa chỉ). Những hành vi vi
phạm của các tổ chức, cá nhân nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng làm thất
thoát Ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh chung, đến
lợi ích của tổ chức, cá nhân khác, của các tổ chức kinh tế, xã hội, ảnh hưởng
đến kỷ cương tài chính của Nhà nước. Việc quản lý sử dụng hoá đơn gắn với công
tác quản lý thu thuế và đã đạt được những kết quả, song một bộ phận tổ chức, cá
nhân đã lợi dụng hoá đơn để làm sai quy định về kê khai thuế, khấu trừ, hoàn
thuế làm xấu đi quá trình phát triển và danh dự của doanh nghiệp chân chính. Để
ngăn chặn các hành vi vi phạm và quản lý, sử dụng hoá đơn, Nhà nước đã có nhiều
biện pháp tích cực để ngăn chặn các hành vi vi phạm cụ thể.
- Ngày 7/11/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị
định 89 về in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn.
- Ngày 30/12/2002 Bộ Tài chính ban hành Thông tư số
120/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số: 89/2002/NĐ-CP
ngày 07/11/2002 của Chính phủ.
- Ngày 13/9/2002 Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số
19/2002/CT-TTg về việc tăng cường quản lý thuế GTGT.
Chỉ thị của Thủ tướng đã nhấn mạnh công
tác kiểm tra in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn, đối chiếu xác minh hoá
đơn và xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp mua, bán hoá đơn bất hợp pháp
đã được phát hiện.
- Ngày 03/6/2003 Chính phủ đã có công văn
số: 2742/VPCP – VI chỉ đạo các cơ quan pháp luật nghiên cứu hành vi mua bán, sử
dụng trái phép hoá đơn, chứng từ để kiến nghị với Quốc hội bổ sung vào Bộ luật
Hình sự năm 1999 để làm cơ sở pháp lý, xử lý loại hành vi này. Trước mắt, sẽ ban
hành Thông tư liên ngành để xử lý vấn đề nêu trên.
Đến nay, các cơ quan pháp luật đã hoàn
chỉnh dự thảo Thông tư liên ngành hướng dẫn việc xác định tội danh và hình thức
xử lý với các tội phạm về hoá dơn.
II. Những kết quả đạt được
sau khi thi hành NĐ số 89/2002/NĐ-CP và Chỉ thị số 19/2002/CT - TTg ngày
13/9/2002 của Thủ tướng Chính phủ:
Thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày
07/11/2002 và Chỉ thị số 19/2002/TTg ngày 13/9/2002 của Thủ tướng Chính phủ thì
việc sử dụng, quản lý hoá đơn đã đạt được những kết quả như sau:
1. Hạn chế việc mua, bán hoá đơn khống
trên thị trường. Cơ bản chấm dứt tình trạng thành lập doanh nghiệp “ma” để kinh
doanh hoá đơn bất hợp pháp và tiếp tay cho bọn tội phạm chiếm đoạt tiền hoàn
thuế GTGT. Do cơ quan thuế tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối chiếu
hoá đơn, đã phát hiện:
-Năm 2000 số lượng mua bán hoá đơn trái
phép là 9.244 số hoá đơn.
-Năm 2001 số lượng mua bán hoá đơn trái
phép là 23.644 số hóa đơn.
-Năm 2002 số lượng mua bán hoá đơn trái
phép là 35.832 số hoá đơn.
-6 tháng đầu năm 2003 số lượng mua bán
hoá đơn trái phép là 3.706 số hoá đơn.
2. Các hành vi phạm tội về chiếm đoạt
tiền thuế GTGT đã bị đẩy lùi, hầu như chưa thấy phát sinh thêm các vụ án mới.
Cơ quan Thuế, cơ quan Công an chỉ phát hiện cótrường hợp mới phát sinh trong
năm 2002 với số tiền 880 triệu đồng tại địa bàn Hà Nội và đã thu hồi đủ cho
NSNN.
3. Các hành vi vi phạm, lợi dụng hoá đơn
để trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước đã hạn chế.
4. Đảm bảo môi trường kinh doanh lành
mạnh, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, sử dụng, quản lý hoá đơn,
quản lý thuế của các tổ chức, cá nhân đã đi vào nề nếp.
5. Tình hình sản xuất, lưu thông hàng
hoá, dịch vụ nói chung, đặc biệt là các mặt hàng nông, lâm, thủy sản vẫn ổn
định và phát triển: Xuất khẩu quý I/2003 tăng 43% so cùng kỳ năm trước, trong
đó hàng nông, lâm, thủy sản tăng 32% so cùng kỳ năm trước. Thu thuế GTGT đạt
mức cao nhất trong các năm gần đây: 25.000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2001,
quý I/2003 đạt 6.450 tỷ đồng, tăng 10,8% so cùng kỳ năm 2002.
Cùng với việc triển khai sử dụng hoá đơn
do Bộ Tài Chính phát hành thì các doanh nghiệp tự in hoá đơn cũng phát triển
mạnh mẽ, đến nay đã có hơn 2.000 doanh nghiệp tự in hoá đơn để sử dụng với 55
đơn vị nhận in hoá đơn tự in cho các doanh nghiệp ở các tỉnh, thành phố; đã đáp
ứng mọi yêu cầu của doanh nghiệp tự in hoá đơn.
III. Những tồn tại:
Trong thời gian vừa qua một số báo, đài
đã phản ánh ý kiến của Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp của Chính phủ và
một số doanh nghiệp về một số tồn tại như sau:
1.Doanh nghiệp chỉ được sử dụng một loại
hoá đơn là không phù hợp.
2.Quy định vẽ sơ đồ địa điểm của doanh
nghiệp từ cơ quan thuế đến địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
3.Xác nhận của UBND phường, xã vào hợp
đồng thuê địa điểm kinh doanh.
4.Cán bộ thuế gọi điện thoại triệu tập
giám đốc để mua hoá đơn là xúc phạm đến doanh nghiệp.
5.Khi bỏ khấu trừ khống thì quản lý hoá
đơn không cần thủ tục như quy định hiện nay.
6.Xem xét về nhân thân của chủ doanh
nghiệp khi mua hoá đơn là xúc phạm chủ doanh nghiệp.
Những ý kiến nêu trên Tổng cục Thuế xin
trình bày rõ như sau:
Hoá đơn là chứng từ theo quy định của Nhà
nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi,
quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng
hoá, dịch vụ; sử dụng để khấu trừ thuế, hoàn thuế và thanh toán tài chính bảo
hành sản phẩm, đăng ký tài sản Vì vậy, việc quản lý, sử dụng hoá đơn cần phải
được quản lý thống nhất để đảm bảo quyền lợi của tổ chức, cá nhân sử dụng cũng
như quyền lợi của Nhà nước. Về các ý kiến nêu ra được giải đáp như sau:
1. Doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành
nghề chỉ được sử dụng một loại hoá đơn (ý kiến của khách sạn Bảo Sơn): ý kiến
này nêu ra không đúng thực tế: Theo quy định tổ chức, cá nhân nộp thuế theo
phương pháp khấu trừ thuế thì sử dụng hoá đơn GTGT, tổ chức, cá nhân nộp thuế
theo phương pháp trực tiếp hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế TTĐB thì sử dụng hoá đơn bán hàng thông thường; Trường hợp tổ
chức, cá nhân đăng ký sử dụng hoá đơn tự in, nếu doanh nghiệp kinh doanh nhiều
ngành nghề thì được sử dụng nhiều loại hoá đơn khác nhau. Hiện nay khách sạn
Bảo Sơn đang sử dụng 3 mẫu hoá đơn tự in khác nhau. Các quy định hiện nay đang
khuyến khích các tổ chức, cá nhân đăng ký sử dụng hoá đơn tự in, một tổ chức,
cá nhân nếu kinh doanh nhiều ngành nghề thì đăng ký sử dụng nhiều mẫu hoá đơn
khác nhau cho phù hợp với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Về việc vẽ sơ đồ: đây là quy định vẽ
vị trí địa điểm kinh doanh về số nhà, tên đường nơi doanh nghiệp đóng trụ sở để
dễ liên lạc, giao dịch mà không phải như ý kiến phản ánh của Tổ công tác là
phải vẽ sơ đồ địa điểm từ doanh nghiệp đến cơ quan thuế, ngành thuế không có
quy định này. Việc vẽ sơ đồ chỉ cung cấp 1 lần đối với các tổ chức, cá nhân lần
đầu mua hoá đơn hoặc khi có thay đổi địa điểm kinh doanh.
3. Việc xác nhận của UBND phường, xã vào
Hợp đồng thuê nhà là xác nhận sự tồn tại thực tế của Tổ chức, cá nhân kinh
doanh mà không phải xác nhận liên quan đến số tài sản. Việc xác định này là phù
hợp chức năng của UBND xã, phường theo Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày
08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực. Hiện nay do sự phối hợp
giữa các ngành, các cơ quan quản lý Nhà nước thiếu đầy đủ nên là kẽ hở mà một
số ít tổ chức, cá nhân đã lợi dụng.
Trong thời gian thực hiện Luật doanh
nghiệp cho thấy thủ tục thành lập doanh nghiệp đơn giản, tuy đã tạo điều kiện
thuận lợi cho các Tổ chức, cá nhân làm ăn chân chính nhưng một số ít Tổ chức,
cá nhân làm ăn phi pháp đã lợi dụng và đã có hàng ngàn doanh nghiệp thành lập
nhưng không có địa điểm kinh doanh hoặc chỉ thành lập 1 thời gian mua hoá đơn
sau đó bỏ trốn; lại tiếp tục sang địa phương khác, thành lập doanh nghiệp mới.
Từ thực tế này phải có sự giám sát của cơ quan cấp xã, phường; nhằm hạn chế tới
mức tối đa việc Tổ chức, cá nhân lợi dụng kẽ hở để thành lập doanh nghiệp chỉ
nhằm mục đích là mua, bán hoá đơn và lừa đảo.
4. Cán bộ thuế gọi điện thoại triệu tập
Giám đốc đến khi mua hoá đơn. Theo quy định Giám đốc có trách nhiệm ký Giấy
giới thiệu nhân viên của doanh nghiệp đến mua hoá đơn là đủ. Trong 1 số trường
hợp, cơ quan thuế có giấy mời Giám đốc doanh nghiệp đến trụ sở cơ quan thuế làm
việc như: doanh nghiệp không chấp hành quyết định xử lý, thông báo nộp thuế
hoặc cố tình lẩn tránh, trì hoãn các quyết định kiểm tra của cơ quan thuế, còn
nếu sự việc có xảy ra như Giám đốc doanh nghiệp phản ánh thì cán bộ thuế đã vi
phạm quy định hiện hành về mua hoá đơn. Đề nghị cho biết rõ cụ thể trường hợp
này để cơ quan thuế thẩm tra, xác minh và chấn chỉnh.
5. Khi đã bỏ khấu trừ thuế khống thì thủ
tục mua hoá đơn không cần quy định như hiện hành, nếu hiểu như vậy là chưa đầy
đủ, các hành vi vi phạm về hoá đơn không phải chỉ có mục tiêu duy nhất là để
hoàn thuế GTGT mà nhiều hơn, rộng hơn là trốn thuế, thanh quyết toán tài chính,
hợp thức hoá cho buôn lậu
- Dùng hoá đơn khống để đưa vào chi phí
hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Hoá đơn khống để đưa vào chi phí các
công trình xây dựng cơ bản. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra 10 công
trình đã có 3,6 tỷ đồng chi phí từ hoá đơn khống.
- Đưa vào chi phí thanh toán tài chính ở
các đơn vị hành chính sự nghiệp thụ hưởng ngân sách Nhà nước.
- Dùng hoá đơn khống để hợp thức hàng
nhập lậu như xe máy, hàng điện tử.
Qua xác minh hoá đơn 8 tháng đầu năm
2003, khi Chính phủ đã quy định bỏ khấu trừ thuế khống thì:
+ Cơ quan thuế đã xác minh 240.552 số hoá
đơn
+ Phát hiện chênh lệch tiền bán hàng
53.091.772.856 đ
+ Phát hiện chênh lệch tiền thuế GTGT
56.447.849.898 đ
+ Đã truy thu được 8.614.921.121 đ thuế
GTGT.
Như vậy, các hành vi vi phạm trong việc
mua, bán hoá đơn để lợi dụng chiếm đoạt tiền thuế của Ngân sách Nhà nước rất
tinh vi, đa dạng, phức tạp nên cần phải có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
6. Điều tra về nhân thân của chủ Tổ chức,
cá nhân mua hoá đơn.
Việc xác định thân nhân tại Thông tư số
120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ Tài chính đã được quy định rõ. Việc xác
định nhân thân chỉ gồm các nội dung được nêu trong công văn, đơn đề nghị mua
hoá đơn như: Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú,
nghề nghiệp hiện tại, nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú (nếu có), địa chỉ văn phòng
giao dịch, số chứng minh thư (hộ chiếu), cấp ngày, tháng, năm, cơ quan cấp.
Quy định này nhằm ngăn chặn việc thànhlập
doanh nghiệp bất hợp pháp để mua hoá đơn. Thực tế thời gian qua cho thấy một số
Tổ chức, các nhân được thành lập nhưngngười đứng đầu là đối tượng nghiện ma
tuý, tù tha chưa hết hạn quản lý, người trong diện chữa bệnh bắt buộc hoặc bị
cấm kinh doanh một số ngành nghề hoặc Tổ chức, cá nhân được thành lập từ hồ sơ
bị đánh cắp (CTy TNHH Thuận Phát, MS thuế: 0302263598) hoặc thuê lái xe xích
lô, xe ôm đứng tên thành lập doanh nghiệp. Một số trường hợp một người thành
lập nhiều doanh nghiệp ở một hay nhiều địa phương khác nhau chỉ với mục đích
mua hoá đơn GTGT rồi bán trái phép, xuất hoá đơn khống với các doanh nghiệp
“ma” nhằm chiếm đoạt tiền thuế qua khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT.
IV. Các giải pháp sửa đổi,
khắc phục trong thời gian tới:
1. Các cơ quan pháp luật đang hoàn thiện
Thông tư liên ngành để hướng dẫn xử lý các hành vi tội phạm về hoá đơn. Tổng
cục Thuế đang trình Bộ Tài chính có chỉnh lý để hoàn thiện Thông tư 120 cho phù
hợp với tình hình hiện nay theo hướng: quản lý chặt chẽ việc sử dụng hoá đơn
nhưng đơn giản các thủ tục không thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp chấp hành tốt công tác kê khai thuế và quản lý, sử dụng hoá đơn.
2. Tiến hành phân loại Tổ chức, cá nhân
sử dụng hoá đơn để có biện pháp quản lý thích hợp, theo hướng: giảm bớt thủ tục
về mua và quản lý hoá đơn đối với các Tổ chức, cá nhân chấp hành tốt. Các Tổ
chức, cá nhân vi phạm, Tổ chức, cá nhân mới thành lập thì thủ tục mua hoá đơn
và biện pháp quản lý cần phải chặt chẽ hơn.
3. Tăng cường đối thoại với Tổ chức, cá
nhân sử dụng hoá đơn.
Quy định việc đối thoại với Tổ chức, cá
nhân sử dụng hoá đơn tại Chi cục Thuế 01 tháng 1 lần để có sự phản ánh, góp ý
trực tiếp của doanh nghiệp. Cục Thuế tỉnh, thành phố tổ chức đối thoại với
doanh nghiệp sử dụng hoá đơn 01 quý 1 lần.
4. Tăng cường kiểm tra, phối hợp chặt chẽ
vớicác ngành, các cấp để quản lý hoá đơn, quản lý thuế, chống thất thu cho Ngân
sách Nhà nước, đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho
NSNN. Tăng cường kiểm tra khu vực hành chính, sự nghiệp thụ hưởng Ngân sách Nhà
nước để ngăn chặn, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm về sử dụng hoá đơn
trong thanh toán, quyết toán tài chính.
5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ máy tính
trong công tác quản lý kinh doanh, hạch toán kế toán, kết nối mạng với cơ quan
thuế, quy định nguyên tắc khai thác dữ liệu của các Tổ chức, cá nhân đối với
các cơ quan quản lý Nhà nước.
Tổng cục
thuế