Tính toàn vẹn của lịch sử văn học - Nguyễn Phạm Hùng (Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội)
Trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện nay, chúng ta đang vấp phải hàng loạt vấn đề về sự thiếu thống nhất, hay khác biệt của những quan điểm và phương pháp viết văn học sử, đặc biệt là sự thiếu thống nhất trong quan niệm về tính toàn vẹn của lịch sử văn học. Điều này đó ảnh hưởng tức thời tới việc xác định diện mạo của lịch sử văn học Việt Nam.
Diện mạo của lịch sử văn học phải
được biểu hiện ra ở các biên giới không gian và thời gian của văn học, ở các
loại ngôn ngữ văn học và thể loại văn học, ở các khuynh hướng tư tưởng và nghệ
thuật của văn học, và ở nhiều lĩnh vực khác nữa. Chỉ khi nào chúng ta hình dung
đầy đủ về diện mạo của nền văn học Việt Nam, chúng ta mới có thể có được
một bộ lịch sử văn học toàn vẹn. Nhưng cho đến nay, vấn đề này vẫn chưa được
giải quyết một cách thoả đáng, cho dù công việc nghiên cứu lịch sử văn học Việt
Nam đã được đặt ra từ những năm 40 của thế kỷ XX. Vì thế mà rất nhiều vấn đề
quan trọng của lịch sử văn học Việt Nam như việc xác định thời điểm khởi đầu
của lịch sử văn học viết, việc nhìn nhận văn học thời kỳ Bắc thuộc có phải là
văn học của Việt Nam hay không, việc đánh giá các nền văn học viết Champa, Phù
Nam, Thủy Chân Lạp, văn học viết của một số dân tộc ít người, văn học “vùng tạm
chiếm” trước đây, hay “văn học hải ngoại” hiện nay… trong lịch sử văn học, hiện
vẫn chưa được thống nhất. Việc chưa xác định đầy đủ diện mạo của lịch sử văn
học dân tộc đã dẫn đến hệ quả tất yếu là, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có
được một bộ lịch sử văn học toàn vẹn như nó vốn có. Trong bài viết này,
chúng tôi chỉ xin đề cập đến một vài phương diện của lịch sử văn học Việt Nam có liên quan
tới vấn đề đã nêu.
1. Từ việc xác định điểm mốc khởi thủy của lịch sử
văn học viết Việt Nam...
Việc xác định điểm mốc khởi thủy của lịch sử văn học viết Việt Nam cho đến nay
có thể được xem là tạm thời thống nhất trong học giới. Sau khi nêu lên nhiều
tiêu chí, trong đó lấy tiêu chí về văn học của một nước Việt Nam độc lập làm
yêu cầu số một, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lịch sử văn học viết của Việt Nam
bắt đầu được tính từ thế kỷ X. Các tiêu chí mà các nhà nghiên cứu đưa ra là:
Đất nước độc lập, dân tộc tự do, cương giới xác định, văn hoá có bản sắc riêng,
đội ngũ trí thức trưởng thành, nhu cầu sáng tạo và tiếp nhận của người Việt
xuất hiện, ngôn ngữ và thể loại văn học đã được tiếp thu và sáng tạo có hệ
thống[1]…
Điều này rõ ràng là phù hợp với thời điểm thế kỷ X. Và do đó thế kỷ X được xem
là điểm khởi đầu của lịch sử văn học viết của dân tộc. Trên cơ sở đó, các nhà
nghiên cứu đặt ra nhiệm vụ cho ngành văn học sử là phải xác định cho được tác
giả và tác phẩm mở đầu của nền văn học viết dân tộc. Thế nhưng về vấn đề này,
lâu nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng Ngô Quyền và
lời tuyên bố của ông được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư[2]
là tác giả và tác phẩm mở đầu cho nền văn học viết. Đây là ý kiến dựa trên quan
điểm xem văn học thời cổ xưa có thể bao gồm cả những “ngữ lục”, những bài “văn
nói” được ghi chép lại. Vì vậy, trong một số công trình khảo cứu, sưu tập văn
học, mà tiêu biểu là cuốn Thơ văn Lý Trần,[3]
các tác giả đã tuyển chọn nhiều bài văn nói có giá trị văn học, xem đó là những
tác phẩm văn học, trong đó có “bài văn nói” của Ngô Quyền kể trên. Bài văn nói
của Ngô Quyền xuất hiện vào năm 938 về việc chuẩn bị kế sách đánh quân xâm lược
nhà Hán do Hoàng Thao cầm đầu, các tác giả sách Thơ văn Lý Trần đặt tiêu
đề là Dự đại phá Hoàng Thao chi kế (Bày kế đánh tan quân Hoàng Thao).
Bài văn nói này được các nhà soạn sách giáo khoa Tác phẩm văn học 10,[4]
cuốn sách giáo khoa dùng trong các trường trung học phổ thông ở miền Nam trong
thời kỳ “cải cách giáo dục” sau năm 1990, lấy làm tác phẩm mở đầu cho lịch sử
văn học viết Việt Nam, với tên gọi Tuyên bố của Ngô Quyền. Nhưng có ý
kiến cho rằng đoạn “ngữ lục” của Ngô Quyền không thể là một tác phẩm văn học
viết vì nó “chưa có được tiêu chí tối thiểu của một tác phẩm văn học viết”, vì
nó không phải là “thủ bút” của tác giả, nên nó không thể là tác phẩm mở đầu của
nền văn học viết Việt Nam.[5]
Tuy nhiên, việc xem đoạn “ngữ lục” của Ngô Quyền không phải là tác phẩm văn học
viết chỉ vì nó không phải là “thủ bút” của Ngô Quyền có lẽ vẫn chưa thật đầy
đủ, vì trên thực tế, có nhiều tác phẩm không hề có “thủ bút” của tác giả những
vẫn thuộc về “văn học viết”, như Luận ngữ, Mạnh tử, chẳng hạn.
Có ý kiến cho rằng bài thơ Nam quốc sơn hà là tác phẩm mở đầu
nền văn học viết Việt Nam.[6]
Trong nhiều sách vở trước đây, nhất là các sách giáo khoa, tác phẩm được giới
thiệu đầu tiên của lịch sử văn học viết thường là bài Nam
quốc sơn hà. Nam quốc sơn hà được xem như là tác phẩm mở đầu của văn
học viết Việt Nam, thậm chí, nó được xem như là một cái mốc lớn của lịch sử văn
học dân tộc, và là “bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc”.[7]
Nó gắn liền với tên tuổi của Lý Thường Kiệt, nhà chính trị, quân sự, ngoại giao
kiệt xuất của thời Lý. Lý Thường Kiệt được xem như là tác giả của bài thơ, hay
là người đã “hoàn chỉnh” bài thơ, và sử dụng nó vào việc phục vụ cuộc chiến đấu
chống quân Tống xâm lược, trên sông Như Nguyệt năm 1076. Tuy nhiên, giới nghiên
cứu văn học từ những thập kỷ 80 - 90 của thế kỷ trước đã chứng minh rằng, Nam
quốc sơn hà là một tác phẩm khuyết danh, và Lý Thường Kiệt không phải là “tác
giả” duy nhất của bài thơ này.[8]
Vì thế, Nam quốc
sơn hà khó có thể là tác phẩm mở đầu nền văn học viết Việt Nam.
Lại có ý kiến cho rằng Thiên
đô chiếu của Lý Công Uẩn là tác phẩm mở đầu lịch sử văn học viết Việt Nam.[9]
Trong một số tuyển tập văn học, sách nghiên cứu, giáo trình, giáo khoa, tác
phẩm Thiên đô chiếu thường được giới thiệu đầu tiên. Những người chủ
trương Thiên đô chiếu là tác phẩm mở đầu nền văn học viết đã căn cứ vào
vị trí của Lý Công Uẩn, người mở ra một triều đại cực thịnh, một thời đại huy
hoàng đầu tiên cho dân tộc, mà xác định vị trí người mở đầu nền văn học
thời kỳ độc lập, tự chủ, chứ không phải là người đầu tiên làm văn học: “Nếu như
Lý Thái Tổ chính thức mở ra trang đầu lịch sử văn học viết của nước Đại Việt
bằng bài Chiếu dời đô nổi tiếng xuất hiện vào năm 1010 thì cũng không
nên quên rằng trước tác phẩm này, đã có những bài thơ của các thiền sư trong đó
phải kể đến bài thơ mà thiền sư Ngô Chân Lưu làm để tiễn sứ giả nhà Tống là Lý
Giác (năm 981)”.[10]
Tuy nhiên, đây cũng không phải là tác phẩm khởi đầu của lịch sử văn học viết
Việt Nam
chỉ đơn giản vì trước đó còn có những tác phẩm khác.
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu
đã đi đến thống nhất cho rằng tác phẩm khởi đầu của lịch sử văn học viết Việt
Nam là bài thơ Quốc tộ của sư Đỗ Pháp Thuận (915 - 990) được viết vào
khoảng năm 981 – 982 để trả lời vua Lê Đại Hành khi ông vua này hỏi về sự dài
ngắn của ngôi vị đế vương, của vận nước.[11]
Bài thơ Quốc tộ lần đầu tiên được chép trong một ngữ lục Thiền tông về
sư Pháp Thuận, trong sách Thiền uyển tập anh ngữ lục - một cuốn sách của
nhà chùa, được viết trong một khoảng thời gian dài, và được hoàn thành vào đầu
thời Trần.[12]
Bài thơ không có tiêu đề, nên cũng có thể gọi là thơ “vô đề”. Thực chất nó chỉ
là một “Thiền ngữ” trình bày trong một cuộc vấn đáp quen thuộc của các nhà sư
thời kỳ này, được người đời sau ghi chép lại. Nó là một lời đối thoại bằng thơ
của sư Pháp Thuận trả lời vua Lê Đại Hành hỏi về sự dài ngắn, bền vững của
“ngôi nước”, của ngôi vua, của “đế vị”, cũng tức là của “vận nước”. Nó là một
bộ phận, một chi tiết trong ngữ lục Thiền tông ghi chép về cuộc đời, sự nghiệp
và công đức của nhà sư, nhằm mục đích đề cao tài năng và danh vọng của sư Pháp
Thuận. Nhưng cũng như nhiều bài thơ khác trong Thiền uyển tập anh ngữ lục,
ngoài vai trò của một lời đối đáp trong cuộc đối thoại, khi tách ra, nó có thể
trở thành một tác phẩm văn học tương đối độc lập. Tuy có thể không phải là “thủ
bút” của Pháp Thuận, nhưng cũng như các bài thơ Thiền khác trong tập sách này,
bài thơ của Pháp Thuận có giá trị là một tác phẩm độc lập và là sở hữu của một
tác giả cụ thể.
Và như vậy, lịch sử văn học viết
Việt Nam được xác định bắt đầu từ thế kỷ X, và tác phẩm mở đầu của lịch sử văn
học viết Việt Nam là bài thơ Quốc tộ của sư Pháp Thuận. Lịch sử văn học
được bắt đầu từ đây, và nó sẽ tiếp tục phát triển đến ngày nay, trải qua các
không gian và thời gian văn học của nước Việt Nam các thời kỳ Đại Việt, Đại
Nam, Việt Nam…
2. Đến vấn đề “văn học của người Việt Nam trước thế
kỷ X”
Tuy nhiên, việc xác định thời điểm khởi đầu của lịch sử văn học, việc
xác định những tác giả và tác phẩm khởi đầu của lịch sử văn học như vậy, theo
chúng tôi, vẫn có phần chưa thật sự thuyết phục. Bởi lẽ, chúng ta đã không đề
cập đến những tác phẩm văn học của người Việt Nam trước thế kỷ X chỉ vì khi đó
đất nước chưa được độc lập, dân tộc chưa được tự do, cương giới chưa được xác
định, văn hoá chưa có bản sắc? Đội ngũ trí thức chưa trưởng thành, nhu
cầu sáng tạo và tiếp nhận của người Việt chưa thật sự xuất hiện?… Theo chúng
tôi, nên coi đây chỉ là việc xác định điểm khởi đầu của lịch sử văn học Việt
Nam thời kỳ tự chủ chứ
chưa hẳn là điểm khởi đầu của toàn bộ lịch sử văn học Việt Nam.
Phải chăng khi đất nước chưa được tự chủ thì Việt Nam không có
văn học? Trên thực tế, quá trình tiếp xúc với văn hoá và ngôn ngữ Trung Hoa,
với Hán học, do cưỡng bức hay tự nguyện, được bắt đầu từ thế kỷ II trước công
nguyên. Cho đến cuối thế kỷ II sau công nguyên, tức là sau khoảng 400 năm, Hán
học ở nước ta đã khá phát triển, thậm chí có người cho rằng nó đã “trở nên rực
rỡ”,[13]
bắt đầu có người Việt Nam thi đỗ và làm quan cho nhà Hán như Lý Tiến, Trương
Trọng, Lý Cầm..., và bắt đầu có người Việt Nam sáng tác văn học bằng chữ Hán.
Đến thế kỷ III, Khương Tăng Hội người gốc nước Khương Cư nhưng sinh ra ở Giao
Chỉ, theo Nguyễn Lang, “ông giỏi cả Phạn ngữ lẫn Hán tự. Trong các tác phẩm của
ông ta có Nê hoàn phạm bối là một tập thi ca về đề tài Niết Bàn tuyển
dịch từ những bài thi tụng Phạn ngữ, Lục độ tập kinh của ông văn từ điển
nhã, chứng tỏ Hán văn của ông không thua gì người Trung Hoa thời ấy. Cố nhiên
là sinh trưởng tại Giao Chỉ ông phải nói rất thạo tiếng nước ta... Ông đã ở
Trung Hoa 33 năm. Nhiều người cho rằng ông đã trước tác và dịch thuật tại đây,
nhưng kỳ thực, một phần quan trọng của công việc này đã được ông làm tại Giao
Chỉ”.[14]
Thế kỷ V, các Thiền sư nổi tiếng người gốc Giao Chỉ cũng có trước tác kinh điển
Phật giáo như Huệ Thắng, Đạo Thiền..., hay có làm thơ, như “chùm thơ trao đổi
giữa hai cao tăng Thích Đạo Cao, Thích Pháp Minh ở Giao Châu và sứ quân Lý Diệu
của Bắc triều”.[15]
Đặc biệt đáng chú ý là bài phú chữ Hán Bạch vân chiếu xuân hải của
Khương Công Phụ làm quan dưới thời nhà Đường, thế kỷ VIII, từng được giới thiệu
trong một số nghiên cứu về văn học sử của Việt Nam.[16]
Tất cả các tác phẩm văn học của
người Việt Nam trước thế kỷ X, cho đến nay, không được chúng ta công nhận là
văn học Việt Nam, không được chúng ta đề cập đến trong lịch sử văn học viết
Việt Nam, chỉ vì chúng được sáng tác khi nước ta bị ngoại bang đô hộ. Điều đó
có hợp lý hay không, có khách quan và khoa học hay không? Nếu như chúng ta đặt
văn học của người Việt Nam trước thế kỷ X trong bối cảnh chung của văn hoá Việt
Nam trước thế kỷ X thì câu trả lời là, điều nêu trên đây dứt khoát không
hợp lý, không khách quan và khoa học. Bởi vì, chúng ta sẽ phải đối mặt với hàng
loạt vấn đề đang đòi hỏi trả lời một cách nghiêm túc: Tại sao văn học viết của
người Việt Nam trước thế kỷ X (với tư cách là một thành tố văn hoá) lại
không được công nhận là văn học của Việt Nam, trong khi các lĩnh vực văn hoá
khác khác như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục,
kiến trúc, điêu khắc, mĩ thuật…, thậm chí ngay cả ngôn ngữ, “yếu tố thứ nhất
của văn học”, hay “văn học dân gian” – người “anh em” của văn học viết, lại
được công nhận là thuộc về văn hoá của Việt Nam, là những bộ phận không chia
cắt về lịch sử trong quá trình phát triển của văn hoá Việt Nam từ cổ xưa
đến bây giờ?
Theo chúng tôi, cần phải khôi
phục lại toàn bộ văn học của người Việt Nam trước thế kỷ X và cần phải xem
đây là bộ phận văn học thuộc về lịch sử văn học dân tộc, dù đó chỉ là những
mầm mống ban đầu.
Nhưng ở đây có vấn đề “người Việt Nam trước thế kỷ X”. Vấn đề này đã
có nhiều cách hiểu rất khác nhau, vì ngoài những người Việt “chính gốc” còn có
một bộ phận đông đảo người Việt Nam thuộc nhiều dân tộc khác được hình thành
trong một quá trình lâu dài tới cả nghìn năm hỗn dung nhân chủng và văn hoá với
phương Bắc hay phương Nam. Nhưng thế nào là người Việt “chính gốc” của thời kỳ
hỗn dung nhân chủng và văn hoá này, một điều không dễ xác định ngay cả đối với
người Việt của thời kỳ tự chủ? Truyền thuyết, tình cảm người Việt và
nhiều nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã coi Thục Phán, người gốc vùng Ba Thục
ở tây nam Trung Quốc, năm 257 tr. CN, đã “kiêm tính nước Văn Lang [của Hùng
Vương], đổi quốc hiệu làm Âu Lạc”,[18]
là người Việt Nam. Nước Âu Lạc và kinh đô Cổ Loa của Thục An Dương Vương đã trở
thành huyền thoại trong lịch sử Việt Nam. Nhiều sử gia như Lê Văn Hưu,
Ngô Sĩ Liên… cũng đã coi Triệu Đà là ông vua của Việt Nam…
Cho đến nay chúng ta chưa tìm
thấy tác phẩm văn học viết của của người Việt Nam thời Văn Lang, Âu Lạc, mà chỉ
thấy tác phẩm của thời Nam Việt. Nếu như Triệu Đà (và con cái cùng các cận
thần, quan lại của ông ta) sau khi “giết trưởng lại nhà Tần, giữ lấy đất Lĩnh
Nam, xưng đế, đối địch với nhà Hán, hưởng nước giữ ngôi 100 năm mới mất, cũng
là bậc vua anh hùng”[19]
của nước Việt, như đánh giá của sử gia Ngô Sĩ Liên, hay “tự làm đế trong nước,
đối ngang hàng với nhà Hán,…, là người mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt
ta”,[20]
như đánh giá của sử gia Lê Văn Hưu, rồi lấy vợ Việt, sống theo phong tục tập
quán Việt (búi tó tóc, ngồi xổm…), trải qua năm đời ở đất Việt, sau bị nhà Hán
tiêu diệt và “nước Việt ta đã thuộc về nhà Hán”[21]
từ đấy, là người Việt Nam,[22]
thì phải chăng lịch sử văn học viết của Việt Nam được bắt đầu từ đây? Hay nó
chỉ có thể xuất hiện muộn hơn với những sáng tác của người Việt Nam “chính gốc”
trong thời Bắc thuộc? Hay nó chỉ bắt đầu từ thời kỳ nước Việt Nam được độc
lập, tự chủ, như cách hiểu phổ biến hiện nay? Theo chúng tôi, những vấn đề này
cần được làm rõ, ngõ hầu mới có thể xác định được chính xác diện mạo cũng như
thời điểm khởi đầu của lịch sử văn học dân tộc.
3. Và cơ sở để hình dung về diện mạo lịch sử văn học
Việc xác
định thời điểm bắt đầu của lịch sử văn học, cũng như diện mạo của lịch sử văn
học Việt Nam, đến nay, theo chúng tôi là không thật sự thuyết phục, bởi mấy
nguyên nhân chính sau đây:
- Thứ nhất, chúng ta đã dùng
những tiêu chí “ngoài văn học” để xác định văn học, như đã nêu trên: Đất nước
độc lập, dân tộc tự do, cương giới xác định, văn hoá có bản sắc riêng, đội ngũ
trí thức trưởng thành, nhu cầu sáng tạo và tiếp nhận của người Việt xuất hiện…
Các yếu tố ngoài văn học đó là rất cần thiết giúp cho việc nhìn nhận rõ hơn văn
học, nhưng chúng không thể thay thế được văn học. Trong trường hợp này, các yếu
tố ngoài văn học có thể còn làm lệch lạc cách nhìn đối với diện mạo lịch sử văn
học. Sự hình thành và phát triển của lịch sử văn học phải do tự thân các yếu tố
của văn học quy định.
- Thứ hai, và điều này là quan trọng hơn, như đã nêu, chúng ta đã tách rời văn
học Việt Nam ra khỏi chỉnh thể văn hoá Việt Nam, tách rời văn học Việt Nam ra
khỏi không gian và thời gian văn hoá Việt Nam, tách rời lịch sử văn học Việt
Nam ra khỏi lịch sử văn hoá Việt Nam.
Không gian văn học (cũng như văn
hoá) Việt Nam cổ xưa không
phải là không gian văn học Việt Nam
hiện đại. Nó không phải là không gian văn học “tĩnh” của nước Việt Nam độc lập
và thống nhất hiện đại “liền một dải, từ Mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái” như
hiện nay. Mà nó phải là một tổng hội của các không gian văn học khác nhau của
của các vương quốc và lãnh thổ khác nhau trong quá trình hình thành một nước
Việt Nam
thống nhất như hiện nay. Vậy không gian của văn học Việt Nam cổ xưa là
gì? Như đã nói, nó không phải là một không gian “tĩnh” mà là một không gian
“động”. Nó biến động liên tục từ không gian Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt (các
vùng Giao Chỉ, Cửu Chân), Bắc thuộc (các vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam),
Phù Nam, Thuỷ Chân Lạp (các vùng thuộc nền văn hoá Óc Eo), Champa, Đại Việt,
Đại Nam, đến Việt Nam (đây chỉ là một sự liệt kê không có thứ tự chặt chẽ).[23]
Nếu chúng ta có quan điểm nhìn nhận và đánh giá khách quan, khoa học và thống
nhất về vấn đề này, thì chúng ta mới có thể xác định được chính xác khởi điểm
của lịch sử văn học viết Việt Nam, mới có thể xác định được các tác giả và tác
phẩm mở đầu nền văn học viết, mới có thể xây dựng được một bộ lịch sử văn học
thống nhất và toàn vẹn, điều mà chưa có một bộ lịch sử văn học nào trước đây
cũng như hiện nay làm được.
Không gian văn học của
nước Việt Nam
không phải là một không gian văn học chỉ của người Việt và chỉ của nước Đại
Việt được kéo dài hay mở rộng như một số cách hiểu hiện nay. Nó phải là một
không gian văn học gồm nhiều không gian văn học khác
nhau của nhiều dân tộc khác nhau và nhiều vùng miền, lãnh thổ khác nhau thời xa
xưa trước khi cùng hội nhập làm một thể thống nhất như hiện nay. Đó là không
gian văn học của người Việt (của nước Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt,
Bắc thuộc, Đại Việt, Đại Nam trước đây đến Việt Nam ngày nay), không gian văn
học của người Chăm (của nước Champa cổ xưa), không gian văn học của người Môn,
Khơme (của quốc gia Phù Nam, một phần của Thuỷ Chân Lạp cổ xưa – luôn với ý
nghĩa như là một bộ phận của nền văn hoá Óc Eo), không gian văn học cổ xưa của
các dân tộc ít người có chữ viết khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam…
Điều này chắc chắn sẽ gây ra rất
nhiều tranh cãi học thuật, cũng như rất nhiều khó khăn cho quá trình trù hoạch
một lịch sử văn học đầy đủ, toàn diện và thống nhất, vì rất nhiều lý do, nhưng
trước hết là lý do về sự thiếu vắng các nguồn tư liệu và sự thiếu hụt các chuyên
gia nghiên cứu, nhất là đối với văn học Phù Nam, Thuỷ Chân Lạp vốn sử dụng ngôn
ngữ Môn, Sanskrit, Brahmi hay Khơme.... Nhưng không vì thế mà chúng ta
không giải quyết nó, mà ngược lại, càng phải giải quyết nó một cách khẩn trương
trước khi những tư liệu và những chuyên gia ít ỏi không còn nữa.
Thời gian của văn học Việt Nam cổ xưa cũng
là vấn đề nổi cộm chưa được nghiên cứu đầy đủ. Chúng ta cần phải có quan điểm
khách quan, khoa học và thống nhất về thời gian lịch sử của văn học Việt Nam thời cổ
xưa. Điều này chi phối mạnh mẽ diện mạo của nền văn học dân tộc. Thời gian văn
học không tách rời khỏi không gian văn học. Có nghĩa là chúng ta sẽ phải đề cập
đến và giải quyết những vấn đề về thời gian của văn học Việt Nam thời Văn Lang,
Âu Lạc, Nam Việt, Bắc thuộc, Phù Nam, Thuỷ Chân Lạp, Champa, Đại Việt, Đại Nam
tới Việt Nam… Đó tuyệt nhiên không phải chỉ là thời gian lịch sử của văn học
người Việt được kéo dài hay mở rộng. Đó còn là thời gian lịch sử của văn học
Champa cổ xưa,[24]
của văn học Phù Nam, Thuỷ
Chân Lạp cổ xưa, hay của văn học các dân tộc có chữ viết khác nữa trong thời cổ
xưa đang cùng tồn tại trên mảnh đất Việt Nam hiện nay.[25]
Văn học là một thành tố (lĩnh
vực) của văn hoá. Các thành tố văn hoá khác nhau tạo nên chỉnh thể văn hoá Việt
Nam.
Trong quá trình nghiên cứu các lĩnh vực văn hoá khác nhau của người Việt Nam từ
thời tiền sử cho đến nay, các nhà nghiên cứu lịch sử và văn hoá luôn đặt chúng
trong những không gian và thời gian đầy biến động nhưng liên tục của chúng. Tất
cả những biến động ấy đều góp phần tạo nên bản sắc và dòng chảy liên tục của lịch
sử văn hoá Việt Nam.
Chúng ta đã có những kết quả nghiên cứu khả quan trên nhiều lĩnh vực văn hoá
như khảo cổ học, lịch sử tư tưởng, lịch sử tôn giáo, ngôn ngữ học, phong tục,
tập quán, lễ hội, trang phục, kiến trúc, điêu khắc, mĩ thuật... Những kết quả
đó đã góp phần lý giải một cách thuyết phục về đặc điểm lịch sử phát triển liên
tục của nền văn hoá đa dạng và phong phú của Việt Nam. Đây không phải chỉ là lịch sử
văn hoá của người Việt với những nét đứt đoạn và phiến diện, mà là lịch sử văn
hoá của các dân tộc Việt Nam liền mạch, toàn diện, đa dạng nhưng thống nhất về
thời gian và không gian từ cổ xưa đến ngày nay. Văn hoá Việt Nam đã hiện hình
lịch sử qua các thời gian văn hoá thời kỳ tiền sử, sơ sử, thời kỳ Bắc thuộc,
thời kỳ phong kiến tự chủ hay thời cận hiện đại… Văn hoá Việt Nam cũng đã hiện
hình lịch sử qua các không gian văn hoá từ thời cổ xưa nhất đến Văn Lang, Âu
Lạc, Nam Việt, Bắc thuộc, Đại Việt, Champa, Phù Nam, Thuỷ Chân Lạp, Đại Nam,
Việt Nam…
Không có sự vật hiện tượng nào
trong thế giới vật chất (và cả tinh thần nữa) nằm ngoài thời gian và không gian
của nó, nên việc đặt văn học Việt Nam trong không gian và thời gian văn hoá
Việt Nam là điều không thể phủ nhận. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể lý
giải đầy đủ các diễn biến và quy luật phát triển của nó. Chỉ có như vậy, chúng
ta mới có thể xác định được vị trí của nó trong tiến trình phát triển của lịch
sử văn hoá dân tộc, cũng như vị trí của nó trong “chỉnh thể Việt văn hoá”.
Lịch sử văn học Việt Nam phải là một bộ phận hữu cơ trong lịch sử văn
hoá Việt Nam
đó. Điều này có liên quan trực tiếp đến việc xác định khởi điểm của lịch sử văn
học viết của Việt Nam, cũng
như đến việc nhận diện toàn bộ nền văn học Việt Nam. Căn cứ vào những dấu tích xưa
cũ, khi hình dung về một lịch sử văn học thống nhất của một nước Việt Nam thống
nhất, chúng ta không thể không nói tới các nền văn học có chữ viết cổ xưa nhất
của Việt Nam như văn học viết của người Việt, văn học viết của người Chăm, văn
học viết của người Môn, Khơme, hay văn học viết của một số dân tộc ít người
khác. Diện mạo của nền văn học Việt Nam, ngoài dòng “chủ lưu” là văn học (cùng
các ngôn ngữ văn học, các thể loại văn học, các khuynh hướng tư tưởng và nghệ
thuật của văn học…) người Việt, tất yếu phải bao gồm nhiều “chi lưu” văn học (cùng
các ngôn ngữ văn học, các thể loại văn học, các khuynh hướng tư tưởng và nghệ
thuật của văn học…) khác nữa, như văn học Champa, Phù Nam, Thuỷ Chân Lạp, hay
văn học của những dân tộc ít người có chữ viết khác.
Một bộ tùng thư đầy đủ về lịch sử
văn học viết của Việt Nam phải là tập hợp đầy đủ các bộ phận văn học viết được
sáng tạo dựa trên các loại ngôn ngữ tồn tại hiện thực trong đời sống các dân
tộc Việt Nam, bao gồm cả văn học của người Việt, văn học của người Tày, văn học
của người Thái, văn học của người Chăm, văn học của người Khơme, và văn học của
người Hoa.
Vậy thì thời điểm bắt đầu của
lịch sử văn học viết Việt Nam,
với ý nghĩa là lịch sử văn học của nước Việt Nam thống nhất và toàn vẹn ấy, bắt
đầu từ đâu? Bắt đầu từ văn học của người Việt, từ văn học của người Chăm, từ
văn học của người Môn, Khơme, hay từ văn học của một dân tộc nào khác? Theo
chúng tôi, câu trả lời chỉ có thể có được sau khi chúng ta xác định và công
nhận tính toàn vẹn tất yếu của lịch sử văn học dân tộc. Lịch sử văn học Việt Nam không phải
chỉ là lịch sử văn học của người Việt. Nó là lịch sử văn học của tất cả các dân
tộc Việt Nam.
Quan điểm cho rằng lịch sử văn học Việt Nam như là lịch sử văn học của
người Việt được kéo dài hay mở rộng trong không gian và thời gian là điều đến
nay không còn thuyết phục nữa.
Chúng ta cần phải đặt toàn bộ
lịch sử văn học dân tộc trong những không gian và thời gian của nó, phải đặt nó
trong “chỉnh thể Việt văn hoá” của nó. Lịch sử văn học, tự bản thân nó là một
“tồn tại khách quan”. Về bản chất, nó không chấp nhận việc loại bỏ những tác
gia, những tác phẩm, những bộ phận, những khu vực, những giai đoạn, hay những
khuynh hướng văn học nào đó chỉ bởi những yếu tố “ngoài văn học”, hay bởi những
quan điểm phiến diện, cục bộ của “chủ nghĩa công lợi” trong nghiên cứu văn học.
Chúng ta không những phải khôi phục lại diện mạo đầy đủ của các nền văn học, mà
còn cần phải lý giải nó một cách khách quan và khoa học, phải chỉ ra được những
quy luật vận động tất yếu và biện chứng của nó. Chỉ có như thế, chúng ta mới có
thể có được một lịch sử văn học liên tục, thống nhất và toàn vẹn của một nước
Việt Nam
thống nhất ■
TS.
Nguyễn Phạm Hùng. Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc
gia Hà Nội
Địa
chỉ: Số 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. E-mail: hungnp@vnu.edu.vn
[1]
Xem, chẳng hạn, Bùi Văn Nguyên: Lịch sử văn học Việt Nam, T. II, Nxb
Giáo dục, Hà Nội 1978; Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương: Văn học
Việt Nam - Thế kỷ X nửa ��ầu thế kỷ XVIII, Nxb ĐHVTHCN, Hà Nội 1978; Nhiều
tác giả: Văn học 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1994; Nhiều tác giả: Phân
tích - bình giảng tác phẩm văn học 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1999; Bùi Duy
Tân: Khảo và luận một số tác gia, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam,
Nxb Giáo dục, Hà Nội 1999; Nhiều tác giả: Ngữ văn 10 (Sách thí điểm),
Nxb Giáo dục, Hà Nội 2003, v.v.
[3]
Viện Văn học: Thơ văn Lý Trần, T. I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1977.
[6]
Nhiều tác giả: Giảng văn, T. I, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp,
Hà Nội 1982
[8]
Xem thêm Trần Nghĩa: "Thử xác lập văn bản bài thơ Nam quốc sơn hà," Tạp chí Hán Nôm,
số 1-1986; Hà Văn Tấn: "Lịch sử, sự thật và sử học," Báo Tổ quốc,
số 401 - 1988; Bùi Duy Tân: Nên chọn tác phẩm nào là sớm nhất của văn học trung
đại Việt Nam.
Tạp chí Hán Nôm, số 2 - 1993; Bàn thêm về văn bản và tác giả bài thơ Nam quốc sơn
hà. Tạp chí văn học, số 10 - 1996..
[11]
Bùi Duy Tân: "Nên chọn tác phẩm nào là sớm nhất của văn học trung đại Việt
Nam," Tạp chí Hán Nôm, số 2, 1993; Nhiều tác giả: Ngữ văn 10
(Sách thí điểm), Nxb Giáo dục, Hà Nội 2003; Nguyễn Phạm Hùng: "Thiền
sư Đỗ Pháp Thuận, người mở đầu lịch sử văn học Việt Nam thời tự chủ," Tạp
chí Nghiên cứu Phật học, số 2, 2006.
[12]
Xem Nguyễn Lang, Việt Nam
Phật giáo sử luận, T. I, Nxb Văn học, Hà Nội 1994; Bùi Duy Tân, Khảo và
luận một số tác gia-tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà
Nội 1999, tr. 12; Nhiều tác giả: Ngữ văn 10, Sách giáo viên, Bộ 1, Nxb
Giáo dục, Hà Nội 2003, tr. 188.
[14]
Nguyễn Lang: Việt Nam
Phật giáo sử luận. T.I, Sđd, tr. 86.
[15]
Bùi Duy Tân, Khảo và luận một số tác gia-tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội 1999, tr. 8.
[16]
Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam
cổ văn học sử, Nxb Hàn Thuyên, Hà Nội 1942.
[17]
Trần Nghĩa: Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam trước thế
kỷ X, Nxb Thế giới, Hà Nội 2000, tr. 13.
[21]
Quốc sử quán triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, T. I, Sđd, tr. 89.
[22]
Quan điểm này đã bị Ngô Thì Sĩ phê phán trong Việt sử tiêu án. Các truyền
thuyết về Thục An Dương Vương, về Mỵ Châu, Trọng Thủy đều bênh vực An Dương
Vương mà phê phán Triệu Đà. Các bộ lịch sử Việt Nam hiện nay cũng không công nhận
nhà Triệu. Tuy nhiên, vấn đề này hiện vẫn còn những ý kiến trái ngược nhau, vì
các cứ liệu lịch sử và huyền sử được sử dụng chưa thật đầy đủ và thuyết phục.
[23]
Văn Lang là tên gọi đầu tiên của nước Việt Nam trong các
thời kỳ Hồng Bàng, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương, có thể tồn
tại từ 2879 tr. CN đến 258 tr. CN. Kinh đổ là Phong Châu (Phú Thọ), địa dư chủ
yếu là khu vực Bắc Bộ cho đến Thanh Hoá, Nghệ An ngày nay.
Âu
Lạc: Năm 257 tr. CN, Thục Phán người gốc đất Ba Thục ở phía tây nam Trung
Quốc tiến vào Văn Lang, tiêu diệt Hùng Vương, lập nên nước Âu Lạc, xưng làm An
Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa, tồn tại 50 năm, đến 208 tr. CN thì bị Triệu Đà,
người nước Nam Việt tiêu diệt. Quốc gia Âu Lạc là sự kết hợp của cộng đồng
người Tây Âu (hay Âu Việt) có thể ở vùng phía nam Vân Nam và Quảng Tây, với
cộng đồng người Lạc Việt của nước Văn Lang, tạo nên nước Âu Lạc, địa dư bao gồm
một phần phía nam Vân Nam, Quảng Tây, Bắc Bộ cho tới Thanh Hoá, Nghệ An ngày
nay.
Nam Việt: Năm 207 Tr. CN, sau khi
Tần Thuỷ Hoàng mất (năm 210 tr. CN), Triệu Đà cai quản đất Nam Hải, miền đông
nam Trung Quốc, đã giết các viên trưởng lại do nhà Tần đặt, rồi tiến vào Âu Lạc
tiêu diệt Thục An Dương Vương, lập nên nước Nam Việt rộng lớn bao gồm cả vùng
Lưỡng Quảng và Âu Lạc, xưng làm Triệu Vũ Đế, đóng đô ở Phiên Ngung (gần Quảng
Châu), làm vua trải 5 đời, tồn tại 97 năm, sau bị nhà Tây Hán tiêu diệt. Địa dư
Nam Việt, phía bắc tới Ngũ Lĩnh, phía nam tới Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Vấn đề
Triệu Đà thôn tính Âu Lạc khi nào hiện nay còn có những ý kiến khác nhau. Theo
Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, Kỷ nhà Thục, Âu Lạc bị sáp nhập vào Nam Việt
ngay từ khi Triệu Đà lập nước Nam Việt, năm 207 tr. CN. Nhưng cũng theo sách
này, phần Ngoại kỷ, Kỷ nhà Triệu, lại ghi: “Canh thân, năm thứ 27 [181 tr. CN]…
Vua [Triệu Đà] nhân thế dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân Việt và Âu Lạc
ở phía tây, họ đều theo về” (Đại Việt sử ký toàn thư, T. I, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội 1972, tr. 73). Có nghĩa là Triệu Đà thôn tính và sáp nhập Âu Lạc
vào Nam Việt vào năm 181 tr. CN, và Âu Lạc do Triệu Đà cai trị trong thời gian
68 năm chứ không phải 97 năm. Tuy nhiên, sử liệu này không cho biết gì về nước
Âu Lạc trong khoảng thời gian 29 năm từ 207 tr. CN đến 181 tr. CN. Còn nếu đó
vẫn là thời kỳ của Thục Phán thì phải chăng Thục Phán đã làm vua Âu Lạc không
phải 50 năm như Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi, mà tới 79 năm?!
Bắc thuộc: Theo Đại Việt sử ký
toàn thư, chỉ thời kỳ nước Việt Nam bị “nội thuộc” vào Trung Quốc dưới các
triều đại Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Nguỵ, Tấn, Lưu Tống, Tề, Lương, Tuỳ, Đường,
Hậu Tấn, từ năm 111 tr. CN đến 938 (trong đó có một số thời kỳ đấu tranh khôi
phục chủ quyền của người Việt như Trưng Vương (40 – 43), Bà Triệu (248), Lý Nam
Đế và Triệu Việt Vương (544 - 603), Khúc Thừa Dụ (905 - 937). Địa dư bao gồm
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam
(một phần phía nam Vân Nam,
Quảng Tây, qua Bắc Bộ cho đến Quảng Ngãi ngày nay)
Champa:
Một quốc gia hình thành và phát triển từ thế kỷ II đến thế kỷ XVIII, trên cơ sở
nền văn hoá Sa Huỳnh trải dài từ nam đèo Hải Vân cho tới miền đông Nam Bộ, có
địa giới vương quốc từ Quảng Bình cho tới Đồng Nai. Trung tâm quốc gia Champa là
vùng Quảng Nam,
Quảng Ngãi. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, Champa suy yếu dần và từng bước bị
nhà Lê rồi nhà Nguyễn thôn tính và sáp nhập vào Việt Nam. Tên nước Champa xuất hiện lần
đầu tiên trong văn bia của vua Sambhuvarman Chumnik (595 – 629). Champa
là tên một loài hoa ngọc lan đẹp (champaca linace).
Phù Nam: Các nhà khoa học đoán
định đây là một quốc gia cổ hình thành và phát triển thành một đế quốc hùng
mạnh, từ thế kỷ II đến thế kỷ VII, bao gồm nhiều tiểu quốc, trải dài từ Ấn Độ,
Miến Điện, Philippin, Indonesia, Malaisia, Nam Việt Nam, Campuchia, Thái Lan.
Quốc gia Phù Nam trên đất
Nam Việt Nam
được tạo dựng trên cơ sở của nền văn hoá Óc Eo, điạ giới bao gồm toàn bộ miền
đồng bằng Nam Bộ kéo dài qua Sài Gòn, tới Nam Tây Nguyên. Đến thế kỷ VII, Phù
Nam bị Chân Lạp của người Khơme, vốn là một thuộc quốc của Phù Nam, nổi lên
thôn tínHà Nội Tên nước Phù Nam trong các thư tịch cổ của Trung Quốc và Việt
Nam có thể là phiên âm của chữ Môn cổ Bnam, Vnam, Bnơm, Pnong… chỉ một bộ tộc
người Môn cổ, có nghĩa là bộ tộc Người Núi ở vùng núi Nam Đông Dương, Nam
Trường Sơn, đã tiến xuống vùng biển kết hợp với các bộ tộc khác để lập nên
vương quốc Phù Nam.
Chân Lạp (Bhavapura): Là một thuộc
quốc của Phù Nam, đến thế kỷ VII, nhân khi Phù Nam suy yếu đã nổi lên thôn tính,
lập nên nước Chân Lạp của người Khơme, gồm Lục Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp. Chân
Lạp dần suy yếu, đến thế kỷ XVII – XVIII, một phần của quốc gia Phù Nam bị Chân
Lạp thôn tính trước đây hoặc là những vùng đất hoang hoá, vô chủ thuộc nền văn
hoá Óc Eo kéo dài từ “lục tỉnh Nam Kỳ” đến Nam Tây Nguyên được sáp nhập vào
Việt Nam.
Phần chú thích trên dựa vào các bộ
sử đã xuất bản, có tham khảo thêm các tài liệu:
- Thuỷ kinh chú sớ. Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội
Trinh sớ, Đoàn Hy Trọng điểm hiệu, Trần Kiều Dịch phúc hiệu, Nguyễn Bá Mão
phiên dịch, Nxb Thuận Hoá - Trung tâm Ngôn ngữ Văn hoá Đông Tây xuất bản, 2005.
- Lĩnh Nam văn hoá dữ Bách Việt dân phong. Quảng Tây Giáo dục
xuất bản xã, 1992.
- Lịch sử Việt Nam, Bản thảo Đề tài độc lập cấp Nhà nước, 2005,
Nguyễn Quang Ngọc làm Chủ nhiệm, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì;
- Ngô Văn Doanh: Văn hoá cổ Chămpa. Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội
2002;
- Lương Ninh: Vương quốc Phù Nam. Lịch sử và văn hoá.
Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2005;
- Lãnh thổ Việt Nam
qua các thời kỳ. http://vi.wikipedia.org/wiki;
- Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam,
http://vietnamgiapha.com/faq/mnu;
- Nguyễn Đức Hiệp: Lâm ấp, Champa và di sản.
http://vietsciences.net/lichsucacnuoc/champavadisan.htm;
- Thông tin Hội thảo khoa học “Văn hoá óc Eo và vương quốc Phù Nam”,
http:// bulletin.vnu.edu.vn/Vietnamese;
- Phù Nam trong lịch sử. http://lamdong.gov.vn/cdrom/lichsu/cattien/phunam.htm;
-Văn hoá Sa Huỳnh, óc Eo và sự ra đời của nước Chămpa, Phù Nam.
http://datviet.com/forums/showthread.php
-
Tìm về dấu tích Phù Nam
xưa. http://vneconomy.com.vn/vie/article ;…
[24]
Các nghiên cứu về văn học Champa gần đây có những bước tiến đáng kể, trong đó
đáng chú ý nhất là các nghiên cứu của Inrasara: Văn học Chăm I – Khái luận,
Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1994; Văn học Chăm II, Nxb Văn hoá dân tộc,
Hà Nội 1996, Văn hoá - xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại, Nxb Văn học,
Hà Nội 2003…, hay bộ sách Văn học Chăm cũng do Inrasara chủ biên đang
được soạn thảo, 10 tập, khoảng 6000 trang, dự định xuất bản từ 2005 đến 2010,
bao gồm: Hành trình 17 thế kỷ văn học Chăm thời cổ xưa, Sử thi Chăm, Trường ca
trữ tình Chăm, Trường ca thế sự Chăm, Gia huấn và triết lý Chăm, Đamnưy, Tục
ngữ - Ca dao Chăm, Truyện cổ Chăm, Thơ ca Chăn hiện đại, Văn xuôi Chăm hiện
đại.
© Thời Đại Mới - Số 8 - Tháng 7/2006
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai8/200608_NguyenPhamHung.htm