Trách nhiệm dân sự - so sánh và phê phán
Trách nhiệm dân sự luôn được các luật gia Việt Nam hiện nay xem là một loại trách nhiệm pháp lý - một vấn đề pháp lý quan trọng được nghiên cứu tổng quát trong môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Trách nhiệm pháp lý được cho là việc một chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm pháp luật (1).
I.
Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm dân sự
Trách
nhiệm dân sự luôn được các luật gia Việt Nam hiện nay xem là một loại trách
nhiệm pháp lý - một vấn đề pháp lý quan trọng được nghiên cứu tổng quát trong
môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật. Trách nhiệm pháp lý được cho là
việc một chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi theo quy định của pháp
luật do có hành vi vi phạm pháp luật (1). Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp
lý giữa trái chủ và người thụ trái xác định, tại đó người thụ trái bị pháp luật
cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ. Việc vi phạm nghĩa vụ được xem như vi phạm pháp
luật. Về điểm này, Bộ luật Dân sự Pháp qui định “hợp đồng giao kết hợp pháp có
giá trị như luật đối với các bên giao kết” (Điều 1134), tức là nghĩa vụ hợp
đồng cũng có giá trị như luật. Vì vậy, người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu
hậu quả bất lợi là trách nhiệm dân sự - một loại trách nhiệm pháp lý mà, theo
nghiên cứu của học giả Lê Văn Cảm, có các đặc điểm: (1) Là hậu quả pháp lý của
hành vi vi phạm; (2) Luôn luôn được thực hiện trong phạm vi quan hệ giữa Nhà
nước và bên vi phạm; (3) Được xác định bằng trình tự đặc biệt do pháp luật quy
định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (4) Được thực hiện trong phạm vi văn
bản đã có hiệu lực pháp luật đối với người vi phạm; (5) Có thể áp dụng đối với
cả pháp nhân đối với vi phạm ngoài luật hình sự (2).
Khác
với quan điểm này và có phần cô đọng hơn, một số học giả khác của Việt Nam cho
rằng, trách nhiệm dân sự cũng có các đặc điểm như trách nhiệm pháp lý, bao gồm:
(1) chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ áp dụng đối với
người có hành vi vi phạm đó; (2) là một hình thức cưỡng chế nhà nước và do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng; và (3) luôn mang đến hậu quả bất lợi cho
người có hành vi vi phạm pháp luật (3).
Có học
giả cho rằng, việc phân biệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm pháp lý
cũng không ít quan điểm khác nhau, tuy nhiên nhiều ý kiến đồng nhất về các đặc
điểm của trách nhiệm dân sự như sau:
Thứ
nhất, trách nhiệm dân sự là quan hệ luật tư giữa hai chủ thể độc lập có địa vị
pháp lý bình đẳng, và bên vi phạm phải gánh chịu trực tiếp trước bên có quyền,
lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chứ không phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước
hoặc người khác, trừ trường hợp chế tài vô hiệu hợp đồng do chống lại trật tự
công cộng và đạo đức xã hội;
Thứ
hai, trách nhiệm dân sự bao giờ cũng là trách nhiệm tài sản;
Thứ ba,
trách nhiệm dân sự được áp dụng đối với bên vi phạm phải tương xứng với hậu quả
của hành vi vi phạm, tức là tương xứng với mức độ tổn thất về vật chất hoặc
tinh thần mà người thiệt hại phải gánh chịu;
Thứ tư,
trách nhiệm dân sự phải được áp dụng thống nhất và như nhau đối với các chủ thể
của quan hệ pháp luật dân sự (4).
Khi
khái quát các ý kiến chung của các luật gia về các đặc điểm của trách nhiệm dân
sự như trên, người khái quát không chỉ rõ đó là ý kiến chung của các luật gia
trên thế giới thuộc các họ pháp luật khác nhau hay chỉ thuộc một họ pháp luật,
hay đó là ý kiến chung của các luật gia Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, bản thân
người khái quát như vậy cũng tự nhận thấy có quá nhiều điểm ngoại lệ với so với
các đặc điểm được khái quát, chẳng hạn liên quan tới phạt vi phạm hợp đồng, tới
vô hiệu hoá các hợp đồng chống lại trật tự công cộng và đạo đức xã hội.
Trước
hết, nói tới đặc điểm thứ ba trong nghiên cứu khái quát trên. Mức độ tổn thất
về tinh thần khó có thể vật chất hoá, do đó, khó có thể xác định được mức độ
tương xứng về bồi thường vật chất. Nên thông thường, trong việc xâm phạm quyền
nhân thân, hầu hết các nền tài phán đều kết hợp nhiều loại chế tài đối với
người vi phạm mà bù đắp tổn thất chỉ là một trong số đó. Điều 611, khoản 2, Bộ
luật Dân sự 2005 có nhắc tới việc bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị vi
phạm, tuy nhiên không hề bày tỏ tinh thần bù đắp tương xứng với thiệt hại về
tinh thần, nên tự đưa ra một giới hạn tối đa cho khoản bù đắp đó là không quá
mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, trong trường hợp các bên không
thể thoả thuận được mức bồi thường.
Khi đưa
ra đặc điểm thứ ba nêu trên, tác giả của nó cũng đã phân vân và lập luận rằng:
(1) pháp luật có thể quy định những trường hợp ngoại lệ mà trách nhiệm dân sự
không nhất thiết phải phù hợp và tương xứng với mức độ tổn thất về vật chất và
/hoặc tổn thất về tinh thần do hành vi vi phạm gây ra; và (2) phạt vi phạm hợp
đồng theo thoả thuận là một minh chứng cho ngoại lệ này; và (3) “tuy nhiên,
điều cần lưu ý là ngay cả đối với một số dạng, loại hợp đồng có thoả thuận phạt
vi phạm, quy tắc “phù hợp và tương xứng” vẫn được áp dụng ở mức độ nào đó”, và
“điển hình là quy định về mức phạt vi phạm tại Điều 301 Luật Thương mại năm
2005” (5). Về các lập luận này, có thể nói ngay, chưa kể đến sự đúng sai, nhưng
khác hẳn với tinh thần của Điều 301, Luật Thương mại 2005, một mức phạt không
giới hạn được Bộ luật Dân sự 2005 cho phép trong Điều 422.
Tại một
hội thảo quốc tế về hợp đồng thương mại quốc tế, trong phần tham luận của mình,
Bernado M. Cremades nhận định: các điều khoản quy định việc bồi thường thiệt
hại trong trường hợp không thực hiện hợp đồng, cũng như các điều khoản phạt vi
phạm là những điều khoản thông dụng trong một số loại hợp đồng quốc tế (thuê,
vay, thực hiện dịch vụ định kỳ…). Ông chỉ rõ điểm khác biệt cơ bản giữa điều
khoản bồi thường và điều khoản phạt ở chỗ: điều khoản phạt nhằm mục đích bảo
đảm thực hiện hợp đồng, còn điều khoản bồi thường thiệt hại nhằm mục đích xác
định khoản bồi thường khi một bên không thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, các nền
tài phán có cách nhìn nhận rất khác nhau về điều khoản phạt. Chẳng hạn toà án
Anh Quốc coi điều khoản phạt là có tính chất trừng phạt, do đó không có hiệu
lực; còn điều khoản bồi thường chỉ hợp lệ khi mức bồi thường thiệt hại được các
bên thoả thuận thực sự thể hiện được mức thiệt hại ước lượng do vi phạm hợp
đồng, với điều kiện phải thoả mãn tiêu chí là khoản bồi thường đã được các bên
đánh giá hoặc dự kiến hợp lý bù trừ công bằng cho việc không thực hiện hợp đồng
hoặc khó có thể xác định được chắc chắn về mức bồi thường. Trong khi đó, một số
hệ thống pháp luật lại cho phép thiết lập các điều khoản phạt vi phạm hợp đồng
như một biện pháp răn đe. Chẳng hạn, luật dân sự Tây Ban Nha thừa nhận chế tài
kép vừa phạt vi phạm, vừa bồi thường thiệt hại (6).
Các
phân tích này cho thấy, đặc điểm thứ ba của trách nhiệm dân sự được khái quát
nêu trên không thoả đáng, bởi không mang tính khái quát cao. Tuy nhiên, nó cũng
phần nào phản ánh được ước vọng thiết lập nên một nguyên tắc công bằng trong
quan hệ hợp đồng hay quan hệ nghĩa vụ.
Phản
ánh quan điểm của hầu hết các luật gia Nga, O. S. Ioffe đưa ra định nghĩa;
“Trách nhiệm dân sự - đó là những chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ mà việc áp
dụng những chế tài đó sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho bên vi phạm dưới
hình thức tước quyền dân sự (như tước quyền sở hữu, tước quyền thừa kế…)
và/hoặc bằng hình thức đặt ra cho họ những nghĩa vụ mới hoặc nghĩa vụ bổ sung
như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nộp phạt vi phạm hoặc trả tiền lãi đối với
khoản nợ chậm trả” (7). Dường như định nghĩa này đã đồng nhất giữa trách nhiệm
dân sự với chế tài dân sự, và cho rằng trách nhiệm dân sự chỉ áp dụng cho vi
phạm nghĩa vụ. Trong khi đó, một số luật gia Nhật Bản phân tích: trách nhiệm
được thể hiện bằng hình thức cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ đối với tài sản của
người mắc nợ; tuy nhiên, có thể có trường hợp trách nhiệm không có nghĩa vụ,
chẳng hạn trách nhiệm áp dụng đối với người bảo lãnh, người thứ ba sở hữu tài
sản thế chấp (8). Vậy không phải bất kể trường hợp nào bị áp dụng chế tài cũng
đều có sự vi phạm nghĩa vụ. Pháp luật dân sự Nhật Bản ấn định gánh nặng tương
đương lên người bảo lãnh như người thụ trái chính trong trong nghĩa vụ bảo đảm.
Khi có một bảo lãnh đối với một nghĩa vụ chuyển giao mà không thay thế, thì nó
được xem như một điều kiện đình chỉ chuyển đổi thành nghĩa vụ chi trả bồi
thường bởi sự không thực hiện nghĩa vụ chính (9).
Dưới
chế độ cũ ở Việt Nam,
có luật gia quan niệm: “Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của nghĩa vụ căn cứ
vào hành vi mà Dân luật coi như là trái luật (illicite). Do đó dân luật đã bắt
buộc người làm ra hành vi trái luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tóm
lại, trách nhiệm dân sự phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đối với người nào đã
làm ra một hành vi gì trái luật mà gây tổn thiệt cho người khác” (10). Quan
niệm này có phản ánh được đầy đủ các khía cạnh của trách nhiệm dân sự hay không
là một câu trả lời không quá khó. Tuy nhiên, đâu là điểm hợp lý của định nghĩa
này và chúng phát xuất từ đâu thì cần phải tìm hiểu.
Luật La
Mã xác định, ngoài các nguyên nhân hợp pháp như hợp đồng và chuẩn hợp đồng,
nghĩa vụ còn phát sinh ra bởi nguyên nhân bất hợp pháp như vi phạm (delictum)
và chuẩn vi phạm (quasi ex delicto). Vi phạm được chia thành hai loại là tội
hình sự và dân sự phạm. Đối với dân sự phạm, nạn nhân có thể kiện ra toà xin
bồi thường. Dân sự phạm (damnum injuria) là sự thiệt hại gây ra một cách bất
chính đáng cho người khác, làm nghèo cho nạn nhân nhưng không làm giàu thêm cho
người vi phạm (11). Vi phạm được quy định bởi luật Aquilia. Tuy nhiên các luật
gia La Mã chưa bao giờ đạt tới nguyên tắc chung rằng mọi người phải chịu trách
nhiệm đối với các thiệt hại mà mình gây ra cho người khác. Mãi tới thế kỷ XVII
và XVIII, nó mới được đưa ra bởi các luật gia thuộc trường phái luật tự nhiên,
tiêu biểu là Grotius và Domat, rồi được ghi nhận trong các bộ luật của Châu Âu
(12). Ngày nay, Bộ luật Dân sự Pháp có qui định nguyên tắc tổng quát: “Bất cứ
hành vi nào của một người mà gây thiệt hại cho người khác, thì người đã gây ra
thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường thiệt hại” (Điều 1382). Tuy nhiên
nhiều hệ thống pháp luật thuộc Họ pháp luật La Mã - Đức ngày nay đã tiếp nhận
các thành tựu của Luật La Mã liên quan tới lỗi Aquilia, tố quyền Paulus, chuẩn
vi phạm… Các vi phạm do luật Aquilia điều chỉnh bao gồm: (1) Giết bất hợp pháp
nô lệ hay gia súc bốn chân; (2) một chủ nợ phụ tha cho con nợ làm thiệt hại cho
chủ nợ chính; và (3) những thiệt hại nhỏ gây ra cho nô lệ hoặc gia súc. Theo
luật Aquilia hành vi gây thiệt hại có hai đặc tính là bất hợp pháp và do chính
người vi phạm gây ra. Chế tài đối với những vi phạm này có cả tính hình sự và dân
sự như tù giam, bồi thường thiệt hại. án lệ La Mã đã chuyển hoá từ quan niệm
việc làm trái pháp luật (injuria) sang lỗi (culpa). Lỗi này được xem là hành
động cố ý gây thiệt hại hoặc bất cẩn đáng chê trách (lỗi Aquilia). Người La Mã
lúc này đã phân biệt giữa lỗi và sự vô tình (casus). Lúc đầu thiệt hại do vi
phạm gây ra được tính theo năm trước khi xảy ra thiệt hại. Lâu dần được tính
toàn bộ thiệt hại, kể cả lợi tức để bồi thường. Luật La Mã tại đây đã phát hiện
ra hai vấn đề pháp lý quan trọng là sự thiệt hại phát sinh và khoản lời bị mất.
Hai vấn đề này được tiếp nhận vào Điều 1149, Bộ luật Dân sự Pháp (13): “Những
thiệt hại phải bồi thường cho người có quyền gồm những khoản mà họ mất và món
lợi mà họ không được hưởng, ngoại trừ những biệt lệ và sửa đổi dưới đây”.
Nguyên lý này cũng được phản ánh trong Điều 307, khoản 2, Bộ luật Dân sự 2005:
“Trách nhiệm bồi thường về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất
thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài
sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực
tế bị mất hoặc bị giảm sút”. Trong các dân sự phạm, theo Luật La Mã, có một vi
phạm đặc biệt làm phát sinh ra tố quyền Paulus (14). Người thụ trái không có
khả năng trả nợ, nếu có hành vi gian trá tẩu tán tài sản làm ảnh hưởng tới khả
năng trả nợ của mình, thì tố quyền Paulus được áp dụng. Về nguyên tắc tất cả
các tài sản của con nợ là bảo đảm chung cho các chủ nợ. Nguyên tắc này đã được
phản ánh vào Điều 2092, Bộ luật Dân sự Pháp rằng: “Người nào bị ràng buộc vào
một nghĩa vụ cá nhân thì phải thực hiện nghĩa vụ bằng tất cả tài sản của mình,
động sản và bất động sản, hiện có và sẽ có”. Do vậy, khi người thụ trái tẩu tán
tài sản của mình gây thiệt hại cho trái chủ, thì tố quyền Paulus là biện pháp
bảo toàn tài sản cho trái chủ bằng cách cho phép trái chủ kiện gián tiếp hành
vi tẩu tán tài sản nhằm buộc người thứ ba trả lại tài sản cho người thụ trái.
Tố quyền này cũng được ghi nhận vào Bộ luật Dân sự Pháp (15): “Người có quyền
cũng có thể, nhân danh cá nhân, khởi kiện chống lại các hành vi mà người có
nghĩa vụ đã thực hiện một cách gian lận, có hại đến quyền của mình” (Điều
1167). Sự tiếp nhận các nguyên lý pháp lý này từ Luật La Mã cũng được tìm thấy
trong các Bộ luật Dân sự Đức, Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Quebéc
(Canada), Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan và dĩ nhiên là các Bộ luật Dân
sự cũ ở Việt Nam.
Ngày
nay, về học thuật người ta bàn tới việc hợp nhất lý thuyết về trách nhiệm hợp
đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng (16). Theo pháp luật dân sự Pháp, các trách
nhiệm này đều có các thành tố giống nhau, tuy nhiên khác nhau về nguồn gốc phát
sinh, nên cũng khác nhau về nghĩa vụ chứng minh.
Ở
Common Law, người ta quan niệm luật hợp đồng liên quan tới các thoả thuận bị
ràng buộc. Vấn đề phát sinh từ đây là ràng buộc là gì. Ràng buộc có nghĩa là
nếu một bên trong quan hệ hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thì toà
án, khi bên bị vi phạm yêu cầu, ấn định các điều kiện đối với bên vi phạm. Và
các điều kiện này có mục đích định ra một chế tài, nhưng không phải là một hình
phạt đối với bên vi phạm. Trong luật hợp đồng các chế tài được thiết kế để bồi
thường, không phải để phạt (17). Trách nhiệm dân sự (civil liability) được các
luật gia thuộc Common Law coi là sự chịu trách nhiệm trước tố quyền dân sự đối
lập với tố quyền hình sự; tìm kiếm các chế tài tư hoặc thi hành các quyền đối
nhân trên cơ sở hợp đồng, vi phạm ngoài hợp đồng (tort)(18).
Vũ Văn
Mẫu khẳng định: Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của nghĩa vụ không căn cứ
vào ý chí của đương sự, tức là nguồn gốc bất hợp pháp; vì vậy trách nhiệm dân
sự làm phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đối với người đã làm một hành vi trái
luật gây tổn thiệt cho một người khác (19).
Từ các
nghiên cứu trên đây về khái niệm trách nhiệm dân sự, có thể rút ra được một số
đặc điểm của trách nhiệm dân sự như sau:
Trước
hết, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, khác với trách nhiệm
đạo đức, mà ở đây trách nhiệm pháp lý có mục đích xác lập các chế tài cụ thể.
Thứ
hai, trách nhiệm dân sự không phải là một sự trừng phạt mà là một biện pháp
buộc người có hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường cho người bị
tổn hại do hành vi đó gây ra. Trách nhiệm dân sự khác với trách nhiệm hình sự ở
chỗ: trách nhiệm hình sự tập trung sự chú ý vào hành vi; còn trách nhiệm dân sự
tập trung sự chú ý vào thiệt hại hay hậu quả của hành vi. Do đó, trong trách
nhiệm dân sự, dù có hành vi vi phạm nhưng không có sự thiệt hại, thì không dẫn
tới nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên, trong trách nhiệm hình sự người ta cũng
quan tâm tới hậu quả ở mức độ nhất định. Và trong trách nhiệm dân sự đôi khi
người ta (ở một số nền tài phán) cũng chỉ chú ý tới hành vi trong một dạng
trách nhiệm nhất định nào đó. Trách nhiệm hình sự thể hiện sự phản ứng của xã
hội đối với kẻ phạm tội trên cơ sở suy diễn hành vi bị trừng phạt đó chống lại
sự bình ổn chung của cộng đồng. Ngược lại, trách nhiệm dân sự không phải là sự
phản ứng của xã hội đối với người vi phạm mà là sự hỗ trợ của pháp luật đối với
người bị thiệt hại do vi phạm gây ra để khôi phục lại tình trạng tài chính như
khi không có sự vi phạm. Vì vậy các chế tài dân sự mang tính chất tư, chứ không
mang tính chất công như chế tài hình sự. Dù sao cũng có những vi phạm xảy ra
làm phát sinh cả trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm lương
tâm.
Thứ ba,
trách nhiệm dân sự được chia thành trách nhiệm hợp đồng và trách nhiệm ngoài
hợp đồng. Có tác giả chia trách nhiệm ngoài hợp đồng thành trách nhiệm dân sự
phạm và trách nhiệm chuẩn dân sự phạm (20). Trách nhiệm hợp đồng phát sinh khi
hợp đồng không được thực hiện gây thiệt hại cho bên bị vi phạm và bên bị vi
phạm đòi bồi thường. Trách nhiệm ngoài hợp đồng phát sinh khi một người có lỗi
gây thiệt hại cho một người khác và người bị thiệt hại đòi hỏi sự bồi thường.
Trách nhiệm hợp đồng hay trách nhiệm ngoài hợp đồng giống nhau ở chỗ đều phát
sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ, nhưng được phân biệt bởi nghĩa vụ bị vi phạm
phát sinh từ hợp đồng hoặc từ pháp luật. Tuy nhiên sự phân biệt có ý nghĩa
trong việc chứng minh. ở đây, cần phân biệt thêm rằng, trách nhiệm hợp đồng là
một nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ khác với hợp đồng. Nghĩa vụ hợp đồng phát sinh
trên cơ sở sự thống nhất ý chí của các đương sự hay hành vi pháp lý. Còn nghĩa
vụ bồi thường phát sinh ngoài ý chí của đương sự, có nghĩa là do luật định.
Quan niệm này có thể còn phải tranh luận, ví dụ trong hợp đồng có thể qui định
về chế tài vi phạm hợp đồng, và khi hợp đồng bị vi phạm, bên vi phạm tự nguyện
thi hành. Nhưng cũng có ý kiến phân tích: khi hợp đồng bị vi phạm thì người vi
phạm không mong muốn phải gánh chịu chế tài như vậy. Tuy nhiên, cần phải hiểu
rằng nếu các bên đặt ra các giải pháp và tự thi hành trong việc vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng, thì không dẫn tới tranh chấp pháp lý, do đó không cần thiết sự
cưỡng chế thi hành. Nên đặt vấn đề nghĩa vụ trong trường hợp này ít có ý nghĩa.
II.
Đặc điểm của trách nhiệm hợp đồng và ý nghĩa của việc phân biệt nó với trách
nhiệm ngoài hợp đồng
Việc
phân biệt giữa trách nhiệm hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng có một vài ý
nghĩa pháp lý quan trọng, nhất là trong việc xác định nghĩa vụ chứng minh. Đối
với trách nhiệm ngoài hợp đồng, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bị
đơn đã gây thiệt hại cho nguyên đơn. Khác hơn, trong trách nhiệm hợp đồng,
nguyên đơn không phải chứng minh lỗi của bị đơn. Ngược lại, bị đơn phải chứng
minh sự vi phạm hợp đồng không do lỗi của bị đơn nếu bị đơn không muốn gánh
chịu chế tài.
Đối với
trách nhiệm ngoài hợp đồng, pháp luật đã đặt ra nghĩa vụ cẩn trọng tổng quát,
có nghĩa là trong bất kể trường hợp nào mỗi người phải cẩn trọng. Bộ luật Dân
sự 2005 đã đưa ra ý niệm về nguyên tắc này tuy không thật rõ ràng trong các
Điều 9, 10 và 11. Trong đời sống xã hội, khi xác lập, thực hiện quyền, nghĩa
vụ, mỗi người phải tôn trọng và không được xâm phạm tới lợi ích của người khác,
lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước và phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật
tôn trọng và bảo vệ các quyền dân sự của mọi người và mỗi người. Khi các quyền
dân sự bị xâm phạm thì chủ thể có quyền tự bảo vệ hay yêu cầu cơ quan nhà nước
có thẩm quyền bảo vệ. Hệ quả tất yếu của các nguyên tắc này là: “Người nào có
lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín,
tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín,
tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”
(Điều 604, khoản 1, Bộ luật Dân sự 2005). Điều luật này cho thấy yếu tố lỗi là
trọng yếu trong việc xác định trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên theo học thuyết
rủi ro, điều kiện về lỗi bị phủ nhận. Học thuyết này cho rằng, khi một người vì
hoạt động của mình tạo ra một rủi ro gây tai nạn cho một người khác, thì nạn
nhân có thể đòi bồi thường mà không phải chứng minh lỗi của bị đơn (21).
Thế
nhưng đối với trách nhiệm hợp đồng, có sự phức tạp riêng, trước hết bởi tính
chất đa dạng của các quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Phần phân loại
nghĩa vụ đã nói tới một cách phân loại có ý nghĩa rất lớn trong việc chứng minh
sự vi phạm, mà Bộ luật Dân sự 2005 không đề cập tới - chỉ được đề cập tới một
cách không thật sự rõ ràng trong Luật Thương mại 2005 - đó là nghĩa vụ mẫn cán
trung thực và nghĩa vụ thành quả. Trong thực tiễn tư pháp của Pháp, vụ Bác sĩ
Nicolas kháng vợ chồng Mercier là một vụ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác
định những nội dung của cách thức phân loại nghĩa vụ này. Vụ việc này đã ảnh
hưởng sâu sắc tới nền tư pháp của Việt Nam dưới các chế độ cũ mà đã được Trần
Thúc Linh và Nguyễn Văn Thọ trích dịch trong cuốn “Những án - lệ quan - trọng,
Dân - luật, Luật nghĩa - vụ” xuất bản tại Viện Đại học Huế 1962.
Vợ
chồng Mercier kiện đòi bác sĩ Nicolas bồi thường 200.000 franc vì thiệt hại do
bác sĩ gây ra cho bà Mercier khi chữa bệnh cho bà bằng tia X mà không sử dụng
các biện pháp phòng ngừa nguy hiểm (1929). Bác sĩ yêu cầu tòa sơ thẩm Marseille
bác đơn vì cho rằng: kiện về tội bất cẩn gây thương tích, nên tố quyền đã hết
thời hiệu ba năm theo tố tụng hình sự. Tòa Sơ thẩm, rồi đến tòa Thượng thẩm Aix
(1931) đã bác lý lẽ của Nicolas và chấp nhận đơn của vợ chồng Mercier. Bác sĩ
Nicolas chống án với lý do: (1) Tòa ��n đã coi tố quyền này là tố quyền đòi bồi
thường do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, theo đó bác sĩ phải chăm sóc bệnh nhân
“chuyên cần, sáng suốt và thận trọng”; (2) nhưng theo bác sĩ, thực chất sự bất cẩn
của bác sĩ là một vi phạm ngoài hợp đồng bởi bác sĩ chỉ cam đoan với bệnh nhân
chữa bệnh để lấy thù lao, còn không qui định điều gì rõ ràng, không có sự bảo
đảm mọi tai nạn vô ý gây ra, nên tố quyền đã hết thời hiệu. Tòa Phá án đã buộc
bệnh nhân phải chứng minh bác sĩ vi phạm nghĩa vụ chăm sóc bệnh nhân, tức là
chứng minh lỗi của bác sĩ. Tại đây có vấn đề phát sinh l��: một mặt tòa án Pháp
đã công nhận giữa bác sĩ và bệnh nhân có quan hệ hợp đồng, và vi phạm của bác
sĩ là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; mặt khác bệnh nhân (trái chủ) lại có nghĩa vụ
chứng minh lỗi của bác sĩ (người thụ trái) giống như trong trách nhiệm dân sự
ngoài hợp đồng (22).
Xung
quanh việc phân loại nghĩa vụ này, theo Vũ Văn Mẫu, khi nguyên đơn yêu cầu bồi
thường vì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, vấn đề cần xem xét trước tiên là
bị đơn có thật vi phạm vào nghĩa vụ mà bị đơn phải thi hành không. Và để giải
quyết được vấn đề này thì cần phải biết rõ nghĩa vụ ấy thuộc loại nào. Nếu
nghĩa vụ đó là nghĩa vụ mẫn cán trung thực thì nguyên đơn có nghĩa vụ chứng
minh như đối với trách nhiệm ngoài hợp đồng là bị đơn đã phạm lỗi (23). Dĩ
nhiên đối với nghĩa vụ thành quả hay nghĩa vụ xác định, thì nguyên đơn không
cần phải chứng minh lỗi của bị đơn, bởi việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
đã được xem là có lỗi - “lỗi hợp đồng”. Nghĩa vụ mẫn cán trung thực mà người
Pháp gọi là nghĩa vụ cấp phương tiện được giải thích trên căn bản: người thụ
trái cam kết sử dụng mọi phương tiện để mang lại kết quả, chứ không cam kết
mang lại một kết quả cụ thể, do đó, người ta không xem đến kết quả ra sao mà
chỉ xem xét tới người thụ trái đã sử dụng mọi phương tiện cần thiết hay chưa để
thực hiện nghĩa vụ, và từ đó xác định có hay không sự vi phạm của người thụ
trái (24).
Giải
thích về sự khác biệt đối với nghĩa vụ chứng minh trong trách nhiệm hợp đồng và
trách nhiệm ngoài hợp đồng (trách nhiệm vi phạm và chuẩn vi phạm), có ý kiến
cho rằng: nguyên đơn trong trách nhiệm ngoài hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh,
còn trong trách nhiệm hợp đồng được miễn nghĩa vụ này là do chính tính chất của
nghĩa vụ. Các nghĩa vụ hợp đồng phần lớn là các nghĩa vụ thành quả hay nghĩa vụ
xác định. Vì vậy, kết quả mong đợi không đạt được do sự không thực hiện nghĩa
vụ của người thụ trái, thì trái chủ có quyền yêu cầu bồi thường mà không cần
phải chứng minh lỗi của người thụ trái. Ngược lại, trong vi phạm và chuẩn vi
phạm, pháp luật đã dự liệu nghĩa vụ cẩn trọng tổng quát. Nên nguyên đơn muốn
đòi bồi thường thì phải chứng minh lỗi của bị đơn (25). Lý giải này gợi ý cho
việc hiểu sâu sắc hơn trong nghĩa vụ cần mẫn trung thực hay nghĩa vụ cấp phương
tiện phát sinh do hợp đồng, nếu nguyên đơn muốn yêu cầu bồi thường cũng phải
chứng minh lỗi của bị đơn.
Khác
hơn các vấn đề được nghiên cứu ở đây, Luật Thương mại 2005 đã buộc bị đơn (bên
vi phạm hợp đồng) phải chứng minh mình không có lỗi để được hưởng chế độ miễn
trách nhiệm trong bất kể sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nào kể cả nghĩa vụ mẫn
cán trung thực, mặc dù trong đạo luật này có đề cập tới việc phân loại nghĩa vụ
thành nghĩa vụ thành quả và nghĩa vụ mẫn cán trung thực như đã trình bày ở
trên. Điều 294, khoản 2 của đạo luật này qui định “bên vi phạm hợp đồng có
nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm”. Vì vậy, việc phân biệt
giữa nghĩa vụ thành quả và nghĩa vụ mẫn cán trung thực theo pháp luật Việt Nam hiện nay
không có ý nghĩa thực tế.
Trách
nhiệm hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng về lý thuyết còn có sự khác biệt
về một số phương diện như thẩm quyền của toà án giải quyết vụ việc, thời hiệu,
phạm vi đòi bồi thường và mức độ bồi thường. Bên cạnh việc quy định về thẩm
quyền khác nhau của toà án đối với các vụ việc liên quan đến trách nhiệm hợp
đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng, và quy định thời hiệu khác nhau đối với
chúng, pháp luật trước kia còn quy định trách nhiệm vi phạm và chuẩn vi phạm là
những loại trách nhiệm có tính cách toàn ngạch, có nghĩa là giống như trách
nhiệm liên đới, có lợi cho nạn nhân bởi họ không phải kiện tất cả các người
đồng phạm để bắt mỗi người bồi thường thiệt hại theo từng phần (26). Pháp luật
Việt Nam
hiện nay có điểm phân biệt như trên, nhưng cũng có sự xoá nhoà ranh giới giữa
trách nhiệm hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng ở một vài điểm. Có thể lấy
các ví dụ sau:
Bộ luật
Tố tụng Dân sự 2004 quy định về nguyên tắc, toà án có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp về dân sự và thương mại là toà án nơi nơi bị đơn cư trú, làm việc
(nếu bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ
chức) (Điều 35, khoản 1, điểm a). Tuy nhiên, Bộ luật này còn đưa ra các qui tắc
khác biệt theo sự lựa chọn của các đương sự hoặc nguyên đơn. Trong khi đó, pháp
luật của các chế độ cũ ở Việt Nam có khuynh hướng qui định toà án có thẩm quyền
đối với trách nhiệm dân sự phạm là toà án nơi xảy ra sự thiệt hại hoặc nơi cư
sở của bị đơn, còn đối với hợp đồng thương mại là toà án nơi đã thiết lập hợp
đồng hoặc nơi giao đồ vật hay nơi trả tiền (27).
Bộ luật
Dân sự 2005 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm
(Điều 607) và thời hiệu khởi kiện để yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng dân
sự cũng là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm
phạm (Điều 427). Thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng thương mại cũng là hai
năm theo Điều 319, Luật Thương mại 2005. Riêng đối với kinh doanh dịch vụ
logistics, Luật Thương mại 2005 quy định thời hiệu chín tháng kể từ ngày giao
hàng (Điều 237). Thời hiệu đối với trách nhiệm hợp đồng theo Bộ luật Dân sự Bắc
Kỳ là 20 năm (Điều thứ 857) và theo Bộ luật Dân sự Trung Kỳ là 10 năm (Điều thứ
935). Pháp luật của các chế độ cũ của Việt Nam xây dựng theo mô hình của Pháp
còn đưa ra nguyên tắc thời hiệu khởi kiện đối với trách nhiệm dân sự bị phụ
thuộc vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nếu sự kiện gây ra sự tổn thất
vừa có tính cách hình sự, vừa có tính cách dân sự. Bộ luật Dân sự 2005 có
nguyên tắc “thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời” (Điều 605), và
tiếp sau quy định cụ thể: “Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì
những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi
thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi
của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt
hại theo phần bằng nhau” (Điều 616). Khác hơn, trong trách nhiệm hợp đồng, sự
bồi thường được phân bổ đều cho những người thụ trái, trừ khi những người này
cam kết rõ ràng trong hợp đồng chịu trách nhiệm liên đới (28).
Trách
nhiệm dân sự là một chế định lớn, vô cùng quan trọng, và chứa đựng nhiều kỹ
thuật pháp lý phức tạp, cũng như có nhiều quan điểm khác nhau về nhiều vấn đề
trong đó. Nên chăng, cần có một sự nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa để sửa đổi thích
hợp các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và các đạo luật khác liên quan tới trách
nhiệm dân sự?
Tài
liệu tham khảo:
(1)
Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước
và pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 307.
(2) Đại
học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp
luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr. 551- 552.
(3)
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam - Tập 2, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 45.
(4)
Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2007, tr.347- 350.
(5)
Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2007, tr.349- 350.
(6)
Bernado M. Cremades, “Bồi thường thiệt hại theo thoả thuận trong trường hợp
không thực hiện hợp đồng, điều khoản phạt vi phạm và cơ chế bồi thường thiệt
hại mang tính chất răn đe trong các hợp đồng quốc tế”, Hội thảo hợp đồng thương
mại quốc tế - Tham luận, Hội thảo do Nhà pháp luật Việt - Pháp tổ chức tại Hà
Nội từ ngày 13- 14 /12/ 2004, tr. 166- 167.
(7)
Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2007, tr. 346- 347.
(8)
Xaca Vacaxum, Tori Aridumi, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nguyễn
Đức Giao và Lưu Tiến Dũng dịch ra tiếng Việt, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1995, tr. 367- 368.
(9)
Japan International Cooperation Agency (JICA), Japanese Laws (Volume 2: 1997-
1998)- Luật Nhật Bản (Tập II: 1997- 1998), Youth Publishing House- Nhà xuất bản
thanh niên, Song ngữ Anh - Việt, tr. 174.
(10)
Trần Thúc Linh, Danh- từ pháp - luật lược - giải, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn,
tr. 997.
(11) Vũ
Tam Tư, Luật Rôma: Khế ước & Nghĩa vụ, Trường đại học tổng hợp TP. Hồ Chí
Minh, Lưu hành nội bộ, tr. 143.
(12)
Konrad Zweigert and Hein Koetz, An Introduction to Comparative Law, Clarendon
Press, Oxford,
1998, p. 597.
(13) Vũ
Tam Tư, Luật Rôma: Khế ước & Nghĩa vụ, Trường đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí
Minh, Lưu hành nội bộ, tr. 144- 148.
(14)
Các luật gia cũ gọi là tố quyền truất bãi.
(15) Vũ
Tam Tư, Luật Rôma: Khế ước & Nghĩa vụ, Trường đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí
Minh, Lưu hành nội bộ, tr. 149- 152.
(16)
Jean- Louis Baudouin, La Responsabilité Civile, 4e édition, Les éditions Yvon
Blais Inc., Quebéc (Canada), 1994, p. 16.
(17)
Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead, Business Law, Made Simple Books, London, 1985, p. 156.
(18)
Steven H. Gifis, Law Dictionary, Third edition, Barron’s Educational Series,
INC, USA,
1991, p. 73.
(19) Vũ
Văn Mẫu, Việt Nam
dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ quốc
gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 431.
(20) Vũ
Văn Mẫu, Việt Nam
dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc
gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 433.
(21)
Trần Thúc Linh, Danh- từ pháp - luật lược - giải, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn,
tr. 998.
(22)
Trần Thúc Linh, Nguyễn Văn Thọ, Những án - lệ quan - trọng, Dân - luật, Luật
nghĩa - vụ, Viện Đại - học Huế, 1962, tr. 44- 49.
(23) Vũ
Văn Mẫu, Việt Nam
dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc
gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 435.
(24)
Corinne Renault- Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb Văn hoá- Thông
tin, Hà Nội, 2002, tr. 106.
(25) Vũ
Văn Mẫu, Việt Nam
dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia
giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 457- 458.
(26) Vũ
Văn Mẫu, Việt Nam
dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ quốc
gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 459.
(27) Vũ
Văn Mẫu, Việt Nam
dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ quốc
gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 458.
(28) Vũ
Văn Mẫu, Việt Nam
dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quèc gia gi¸o dôc xuÊt b¶n, Sµi Gßn, 1963, tr.
459.
(Nghiên
cứu lập pháp số 5 (142) tháng 3/2009)
TS. Ngô Huy Cương, Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội.
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LĨNH VỰC TRANH TỤNG:
1. Luật sư tư vấn pháp luật dân sự;
2. Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự;
3. Dịch vụ tư vấn thu nợ hồi nợ hợp pháp;
4. Tư vấn Pháp Luật Dân Sự;
5. Tư vấn thẩm định giá;
6. Tư vấn lập di chúc, phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật;
7. Tư vấn pháp luật thừa kế
8. Tư vấn Hợp đồng, hồ sơ pháp lý
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------