Tranh chấp hương hỏa tính sao ?
Năm 2007, bà A. huyện (Châu Thành, Long An) mất không để lại di chúc. Sáu người con của bà đã khởi kiện đòi phân chia di sản của mẹ để lại. Số di sản này gồm có gần 10.000 m2 đất lúa, đất vườn, đất thổ, trên đó có một căn nhà thờ và nhiều mồ mả của ông bà, dòng họ.
Có ý kiến cho rằng với loại đất của
chung họ tộc thì không nên chia thừa kế.
Giành đất để cúng giỗ
Theo người con trưởng, mặc dù đất đai do mẹ đứng tên nhưng đó là đất của
thân tộc. Ông giành quyền quản lý, sử dụng số tài sản trên để làm nơi thờ cúng
tổ tiên, đồng thời yêu cầu người em út kiếm nơi khác ở.
Người em gái út không đồng ý, viện lẽ có nhu cầu canh tác phần ruộng của mẹ
để lại để lo việc cúng giỗ.
Sau đó, năm người em thống nhất đòi chia thừa kế di sản. Đối với nhà làm nhà
thờ và các tài sản bên trong, họ xin được hưởng và giao lại phần của mình cho
người em út để có nơi thờ cúng ông bà.
TAND huyện Châu Thành đã xử bác yêu cầu của người con trưởng. Theo tòa,
không có cơ sở cho đó là đất của gia tộc (ngay cả khi trên đất có mồ mả). Bởi
lẽ mảnh đất trên được cha mẹ ông trực tiếp quản lý, sử dụng từ trước đến nay.
Khi mẹ ông được cấp chủ quyền mảnh đất trên cho đến khi bà mất, bản thân ông và
thân tộc không khiếu nại.
Tòa này quyết định chia tài sản thành sáu phần đều nhau và cho phép năm
người em hưởng phần đất có ngôi nhà thờ để người em út tiếp tục việc thờ cúng.
Bỏ ngỏ đất hương hỏa
Nhân vụ án này có thể đặt ra vấn đề: Phải xác định thế nào là đất của thân
tộc, đất hương hỏa; nên chia hay không chia và chia ra sao?
Trước đây, ở Cà Mau và Long An… cũng đã có những tranh chấp tương tự như
trên. Có tòa xác định đó là đất chung của thân tộc giao cho một người quản lý,
sử dụng nên tuyên không chia. Có tòa lại cho rằng đất đó được cá nhân đăng ký
sử dụng đúng theo quy định nên là di sản thừa kế.
Nhiều ý kiến cho rằng pháp luật đang có lỗ hổng về đất hương hỏa, thân tộc.
Tuy giấy đỏ không đề cập nhưng trên thực tế có loại đất này đã tồn tại. Từ Nam chí Bắc,
nhiều dòng họ đã dành ra một mảnh đất chung xây nhà thờ, trồng hoa màu để lấy
chi phí thờ cúng… nên mới có tên gọi như vậy. Chính vì không được chính thức
thừa nhận nên các tòa mới có cách xử lý bất nhất như trên.
Nên chăng để hạn chế những tranh chấp liên quan, cần có quy định về đất
hương hỏa, người quản lý, cách quản lý… Với loại đất của chung họ tộc thì không
chia thừa kế. Người quản lý chỉ được quyền sử dụng vào mục đích chung của họ
tộc mà không được quyền định đoạt.
Hiểu sao về đất hương hỏa?
Theo pháp luật trước đây, đất hương hỏa là một phần tài sản dùng để thờ cúng
ông bà, tổ tiên. Người thừa hưởng không phải là chủ đất mà phải giữ gìn và khi
mãn phần thì giao lại cho người thừa tự. Đất hương hỏa có đặc điểm không được
chuyển dịch, không bị tiêu diệt thời hiệu…
Sau giải phóng, khái niệm đất hương hỏa được nhắc đến trong Thông tư 81 ngày
24-7-1982 của TAND tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Theo
đó, đất đai (kể cả đất canh tác, đất ở, đất hương hỏa) không thuộc quyền sở hữu
riêng của công dân nên không thể là di sản thừa kế…
Bộ luật Dân sự hiện hành chỉ quy định nếu người lập di chúc có để lại một
phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế
và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM - KHẢI HÀ
Trích dẫn từ:
http://www.phapluattp.vn/news/ban-doc/view.aspx?news_id=266515