Tranh chấp tài sản và giao dịch: Đất thuê đã lâu phải trả lại
Cuối năm 1973, bà H. ký giấy bán một căn nhà tại huyện Hóc Môn (nay thuộc quận 12, TP.HCM) cho cha của bà N. Trong giấy, các bên thỏa thuận giá bán căn nhà là 80 ngàn đồng. Về tiền đất thì mỗi năm cha của bà N. phải trả cho chủ đất 500 đồng. Sau khi cha mẹ qua đời, bà N. tiếp tục sử dụng nhà, đất.
Gần 35 năm ở ổn định trên đất, giờ bị đơn bị cấp sơ thẩm buộc trả hơn 700
triệu đồng tiền đất cho nguyên đơn.
Lúc đòi hoa lợi…
Bán nhà được hơn 20 năm, bà H. tranh chấp với bà N. về hoa lợi trên đất.
Theo Luật Đất đai năm 1993 (có hiệu lực vào thời điểm giải quyết tranh chấp),
loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND. Thế nhưng vào năm 1996,
UBND huyện Hóc Môn lại ban hành quyết định giải quyết tranh chấp theo hướng
công nhận hiện trạng sử dụng đất cho bên mua nhà.
Sau khi quận 12 được thành lập, chị ruột của bà H. lại nộp đơn yêu cầu UBND
quận 12 giải quyết tranh chấp đòi bồi hoàn hoa lợi trên đất. Lại lần nữa, UBND
quận 12 làm sai thẩm quyền giải quyết khi ban hành quyết định bác đơn của chị
bà H. vào năm 2002. Chị bà H. đã khởi kiện UBND quận 12 ra tòa.
Tháng 9-2004, TAND quận 12 mở phiên xử sơ thẩm vụ án hành chính và bác đơn
khởi kiện của chị bà H. Đến phiên xử phúc thẩm hồi tháng 3-2005, TAND TP.HCM
tuyên hủy quyết định giải quyết tranh chấp của UBND quận 12. Cấp phúc thẩm
khẳng định tranh chấp đòi hoa lợi trên đất là loại việc dân sự nên UBND các cấp
không được thụ lý, giải quyết.
… Lúc đòi đất
Chị bà H. quay về TAND quận 12 để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự đòi hủy hợp
đồng mua bán nhà. Tháng 3-2006, TAND quận 12 xử sơ thẩm vụ án và công nhận phần
nền nhà đã thuộc quyền sử dụng của bên mua. Theo cấp sơ thẩm, tại thời điểm các
bên giao dịch thì đất cho thuê do nhà nước quản lý nên không có chuyện bồi
hoàn. Gia đình bà N. đã mua nhà và ở trên đất từ năm 1973, có kê khai đăng ký
nhà đất, đóng thuế đầy đủ.
Phúc thẩm vụ án hồi tháng 5-2006, TAND TP.HCM đã tuyên hủy án sơ thẩm. Cấp
phúc thẩm xác định căn nhà là tài sản chung của hai chị em bà H. Anh rể bà H.
có góp tiền xây dựng căn nhà. Khi ông mất thì phát sinh thừa kế. Do chồng bà H.
– người đứng tên bán nhà chung với vợ – đã chết nên cũng phát sinh thừa kế. Cấp
sơ thẩm đã có thiếu sót khi không đưa các đồng thừa kế của hai người chồng vào
tham gia tố tụng.
Hồ sơ vụ án được chuyển về TAND quận 12 xét xử lại. Sau đó, do xác định có
đương sự thường trú ở nước ngoài nên TAND quận 12 chuyển hồ sơ vụ án lên TAND
TP.HCM.
Có đòi được không?
Tháng 7-2009, TAND TP.HCM xử sơ thẩm lại vụ án và cho rằng việc đòi đất của
nguyên đơn là có cơ sở. Bởi lẽ căn nhà thuộc sở hữu chung của hai chị em. Bà H.
tự ý định đoạt mà chưa có sự đồng ý của chị ruột là không đúng. Trong tờ bán
đất, các bên thể hiện ý chí chỉ mua bán nhà, còn tiền đất thì bên mua phải trả
cho chủ đất 500 đồng mỗi năm. Như vậy, tại thời điểm mua bán và cả về sau, đất
nền nhà vẫn thuộc quyền sử dụng của chị em bà H.
Định giá phần đất khoảng 45 m2, hội đồng xét xử tuyên buộc bà N.
thanh toán cho nguyên đơn hơn 700 triệu đồng. Phản đối nhận định này, bà N. cho
rằng vào thời điểm năm 1973, số tiền 80 ngàn đồng là rất cao. Giá đó phải bao
gồm cả nhà và đất.
Cùng hoàn cảnh tương tự bà N. còn có bốn hộ khác. Các hộ này cũng được bà H.
ký giấy bán nhà vào các năm 1960, 1975, 1976 và đều giao kết tiền đất trả hằng
năm. Giờ họ phải đi hầu tòa do chị ruột của bà H. phát sinh tranh chấp. Gia
đình bà N. cho biết họ đang hy vọng vào một kết quả ngược lại tại phiên xử phúc
thẩm. Vì lẽ mới đây, một trong bốn hộ bị chị ruột bà H. khởi kiện với nội dung
tranh chấp giống trường hợp của bà N. đã thắng kiện tại phiên xử sơ thẩm.
Cách xử lý có khác nhau qua từng thời kỳ
Trước đây, theo Quyết định 111-CP ngày 14-4-1977 của Hội đồng Chính phủ (về
việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo XHCN đối với nhà, đất cho thuê ở
các đô thị của các tỉnh phía Nam), nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ đất cho
thuê, không phân biệt diện tích nhiều hay ít và nói chung không bồi hoàn, trừ
trường hợp đặc biệt. Điều này đồng nghĩa với việc chủ đất không được quyền đòi
lại đất cho thuê dưới bất kỳ hình thức nào. Nay theo Nghị định 181 ngày
29-10-2004 của Chính phủ, hộ gia đình, cá nhân có quyền đòi lại đất ở đã cho
thuê (mà nay trên đất đó còn nhà ở hoặc không còn nhà ở) khi có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy
định; có văn bản thỏa thuận về việc thuê đất.
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM - HOÀNG LAM
Trích dẫn từ:
http://www.phapluattp.vn/news/ban-doc/view.aspx?news_id=270880