Triết lý chính trị - xã hội và pháp luật
Có thể nói quá trình phát triển của loại hình triết học chính trị, xã hội và pháp lý theo truyền thống văn minh phương Tây đã bặt nguồn từ thời Plato(1). Ngay từ thời đại ấy, các triết gia đã tìm cách xác định bản chất và ý nghĩa của những gì được gọi là xã hội tốt đẹp, nhà nước và xã hội mẫu mực phải có những đặc điểm gì.
1. Giới thiệu
Có thể nói quá trình phát triển của loại hình triết học chính trị, xã hội và
pháp lý theo truyền thống văn minh phương Tây đã bặt nguồn từ thời Plato(1).
Ngay từ thời đại ấy, các triết gia đã tìm cách xác định bản chất và ý nghĩa của
những gì được gọi là xã hội tốt đẹp, nhà nước và xã hội mẫu mực phải có những
đặc điểm gì. Tư tưởng và cách lý giải của họ đã được đúc kết lại thành những hệ
thống quan điểm khác nhau về một nhà nước lý tưởng, một “điều không tưởng”utopia – tiếng Hy Lạp có nghĩa là không ở đâu cả). Ngày nay, cũng như
trong quá khứ, các triết gia “không tưởng” có ảnh hưởng đáng kể đối với các vấn
đề chính trị, đặc biệt tại Hoa Kỳ.
(
2. Quan điểm cộng hòa của Plato
Plato chú tâm giải quyết một vấn đề được gọi là “sự bất công” (injustice)
và cuối cùng tìm đến giải pháp cho vấn đề: “công lý” (justice). Phần
thảo luận dưới đây tóm lược một số ý kiến cơ bản của ông về nguồn gốc, bản chất
và giải pháp loại trừ bất công cũng như định nghĩa, bản chất và thể chất của
công lý.
Mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân
Học thuyết chính trị của Plato dựa trên nguyên tắc cơ bản do ông đề ra rằng
con người quan trọng hơn xã hội, rằng cần phải nghiên cứu bản chất của con
người để xác định đúng những đặc tính của một xã hội đáng được mong đợi. Một xã
hội tốt đẹp cần đến đức hạnh; đức hạnh lại tuỳ thuộc vào bản chất con người;
bản chất của mỗi công dân trong xã hội. Không chỉ có xã hội mà chính các cư dân
của nó góp phần vào quá trình hình thành các tệ nạn xã hội. Những công dân tốt
tạo nên một nhà nước tốt; những công dân băng hoại tạo nên một nền chính trị
băng hoại.
Các phẩm hạnh cơ bản
Theo quan điểm của Plato, các giá trị đạo đức và hạnh kiểm tuỳ thực vào tính
cách tâm lý của con người, tính cách này lại phụ thuộc vào các đặc điểm sinh
lý. Plato định ra ba khía cạnh sinh lý của con người, mỗi khía cạnh có chức
năng tự nhiên riêng: cái đầu (lý trí), quả tim (tinh thần) và dạ dày (lòng ham
muốn). Mỗi khía cạnh có liên quan với một dạng phẩm hạnh riêng.
Plato định nghĩa phẩm hạnh như “sự ưu việt” (excellence), được thể
hiện qua ba lãnh vực hoạt động chủ yếu của đời sống con người, tương ứng với ba
chức năng tự nhiên; lý trí, tinh thần và ham muốn. Cá nhân nào vượt trội trong
lãnh vực ý chí sở hữu đức “thông thái” (wisdom); cá nhân vượt trội
trong lãnh vực vận dụng năng lực tinh thần sở hữu đức “dũng cảm” (courage);
những ai vượt trội trong lãnh vực kiểm soát lòng ham muốn của mình sở hữu đức
“tiết độ” (moderation). Thực tế, mọi người đều có ba dạng hoạt động như thế,
nhưng chỉ những ai có năng lực vượt trội mới được xem là sở hữu được các phẩm
hạnh cơ bản ấy.
Bản chất và vai trò của công lý
Đối với Plato, công lý là một dạng phẩm hạnh cộng đồng, có tính phối hợp. Nói
cách khác, nó là kết quả của sự đồng tâm hợp tác giữa những cá nhân có đức hạnh
tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng và quốc gia.
Công lý chỉ ưu thắng khi mỗi cá nhân làm tròn bổn phận và trách nhiệm của
mình, cống hiến tài năng và công sức của mình cho lợi ích của cộng đồng và đất
nước. Trong một xã hội công bằng, mỗi người cống hiến tài năng và sức lực vốn
có của mình, đảm nhận phần việc phù hợp với khả năng của mình, không chỉ hoàn
tất phận sự mà còn thực hiện với ý thức trách nhiệm đối với xã hội.
Theo Plato, sự cản trở nỗ lực thi hành bổn phận và trách nhiệm của con người
chính là nguyên nhân dẫn đến bất đồng và xung đột-đó là bản chất của sự bất
công. Bất công và hỗn loạn là kết quả xảy ra khi các thành viên trong xã hội
phải cố gắng thực hiện những gì nằm ngoài khả năng, kiến thức chuyên môn và sức
lực của họ. Vì thế, mỗi nhà nước lý tưởng và một xã hội công bằng chỉ có thể
tồn tại khi mỗi công dân thực hiện phần cống hiến phù hợp với lãnh vực chuyên
môn và năng lực vốn có của họ.
Cơ cấu tổ chức của nhà nước lý tưởng
Trong một nhà nước lý tưởng, cơ cấu tổ chức nhân sự dựa trên cơ sở tài năng và
phẩm hạnh của mỗi thành viên. Theo Plato, nhà nước lý tưởng gồm có 3 tầng lớp
chính:
1. Tầng lớp sư phạm, hay bảo hộ: Bao gồm những cá nhân có đức độ và thông
thái, đảm nhận trách nhiệm quản lý chính quyền và giáo dục quốc dân.
2 Tần lớp chiến binh: Bao gồm những cá nhân có đức dũng cảm, có năng lực ý
chí và tinh thần vượt trội. Giới này đảm nhận trách nhiệm bảo vệ nhà nước, đối
phó với nạn ngoại xâm cũng như nội biến.
3. Tần lớp lao động, hay thợ thủ công: Bao gồm những cá nhân có đức tiết độ
(tự kiềm chế), đảm nhận những phần việc thường được dành cho giới lao động,
nông dân, dịch vụ và thương nhân. Học được đức tuân thủ và kiềm chế bản thân,
họ chính là những người thi hành và biến các chính sách của nhà nước thành hiện
thực.
Giáo dục trong nhà nước lý tưởng
Theo Plato, cần phải chọn lựa và đào tạo các thành viên trong quốc gia, dựa
trên cơ sở tôn trọng tài năng, qua đó tạo điều kiện cho phép họ phát huy những
phẩm hạnh tương ứng với bổn phẩn và trách nhiệm trong tương lai. Điều này có
thể thực hiện được thông qua một nền giáo dục dân chủ.
Vào một độ tuổi nhất định, mọi đứa trẻ phải được đến trường, được giáo dục
và có cơ hội bộc lộ năng lực bản thân như nhau. Bước vào tuổi thanh niên, những
cá nhân có khuynh hướng trở thành người lao động sẽ được chọn ra để tổ chức
hướng nghiệp phù hợp với năng lực bản thân. Vài năm sau, số học sinh còn lại
trải qua đợt tuyển chọn thứ hai, các chiến binh tương lai sẽ ra trường và bắt
đầu phục vụ trong quân đội. Chỉ có những người giám hộ trong tương lai mới tiếp
tục việc học, tiếp nhận khối lượng kiến thức chuyên sâu về biện chứng pháp (dialectics)
và các bộ môn triết học khác, đồng thời tham gia phục vụ tại các cơ quan nhà
nước, tập sự công việc quản lý chính quyền. Sau khi được đào tạo hoàn chỉnh,
các giám hộ có cơ hội trở thành những người lãnh đạo quốc gia, xét theo tính
cách đạo đức, học thuật và trí tuệ vượt trội của họ.
Chính thể quý tộc
Phần thảo luận trên nêu bật đặc điểm của sự phân tầng trong xã hội. Mặc dù mỗi
người đều được hưởng cơ hội vươn đến những vị trí cao nhất trong nhà nước, dù
nền tảng giáo dục được thiết lập trên nguyên tắc dân chủ, chỉ có những cá nhân
ưu việt nhất, trách nhiệm giáo dục và quản lý cộng đồng.
Theo Plato, bất cứ một nhà lãnh đạo nào có tài năng và đức độ vượt trội hơn
hẳn các viên chức nhà nước khác cũng có thể trở thành vị “quân chủ” (monarch).
Tuy nhiên, nếu như không có ai thông thái và đức độ sánh ngang Socrates, tốt
hơn nên đặt quyền lãnh đạo tối cao vào một nhóm người có phẩm chất ưu việt
nhất- một hội đồng như viện nguyên lão(2), một hình thức của chế độ
quý tộc (aristocracy). Các thành viên trong hội đồng nhà nước tối cao
này phải sống như những người cộng sản (communists), không sở hữu bất
kỳ một tài sản riêng nào trong suốt thời gian phục vụ, nhằm loại trừ khả năng
phát sinh tệ tham nhũng và các hình thức lợi dụng chức quyền khác.
Plato đánh giá thể chế quý tộc, xét về mặt tổng quát, là chính thể tốt đẹp
nhất (quân chủ là thể chế hoàn mỹ nếu có được một đấng minh quân xuất chúng).
Ông cũng phân tích bốn dạng chính thể bất toàn khác, có xu hướng thoái hoá dần
như sau:
1. Timocracy(3): Dạng chính quyền do những người tài
giỏi và danh tiếng (các chiến binh và anh hùng dân tộc) điều hành.
2. Chính thể đầu sỏ (Oligarchy): Dạng chính quyền do một
nhóm người, nổi tiếng nhờ thế lực tiền tài, điều hành và thao túng. Khi dân
chúng trong một đất nước quá tôn trọng sự phồn vinh vật chất, các nhà tài phiệt
được trọng vọng, có cơ hội nắm quyền lực và thực hiện những mục đích mưu lợi cá
nhân.
3. Chính thể dân chủ (Democracy): Dạng chính quyền được
điều hành bởi nhân dân, được xây dựng trên nền tảng bình đẳng (equaility).
Bởi vì một chế độ dân chủ đơn thuần thiếu cơ sở hiến pháp, không thể hạn chế
những quyết định “bốc đồng và nông nổi” của quần chúng; nó có khuynh hướng bị
điều khiển bởi các tay đầu cơ chính trị, bị lôi kéo vào các mục tiêu cục bộ,
nhất thời và dẫn đến sai lầm. Trong trường hợp ấy, nó thực sự là một chính
quyền kém hiệu quả, được điều hành bởi những cá nhân không đủ phẩm chất và năng
lực cần thiết.
4. Chính thể độc tài (Tyranny): Dạng chính quyền nằm trong
tầm khống chế và thao túng của một cá nhân, người được gọi là “nhà độc tài”.
Theo Plato, hình thức chính quyền khả dĩ lành mạnh nhất là chế độ cộng hoà (Republic),
được điều hành bởi một nghị viện quý tộc bao gồm những cá nhân vô sản phẩm chất
ưu việt nhất (về mặt đạo đức lẫn năng lực trí tuệ). Mặc dù thế, ông vẫn chọn
chính quyền quân chủ nếu như tìm được một nhà lãnh đạo kiệt xuất-một đấng minh
quân triết gia – người có thể trị vì đất nước với đức công chính và sự thông tuệ
toàn hảo. “Trừ phi các bậc đế vương trở thành triết gia, hoặc các triết gia
trở thành đế vương, nhà nước lý tưởng là điều không tưởng.”
3. Học thuyết chính trị của Aristole
Aristotle(4), giống như Plato, xây dựng học thuyết nhà nước lý
tưởng trên nền tảng bản chất con người. Tuy nhiên, khác với Plato, ông đặt ra
vai trò và lợi ích của nhà nước lên trên quyền lợi và tầm quan trọng của cá
nhân. Aristotle cho rằng con người, về bản chất, là một tạo vật có tính xã hội
và chính trị, rằng cá nhân không thể có đời sống ẩn dật chỉ kéo dài một sự tồn
tại khác thương, một đời sống dẫn đến sự biến dạng tính cách của anh ta. Đời
sống cô độc đi ngược lại bản chất và lợi ích của con người. Thực tế, Aristotle
nhận định, mục đích trong đời của mỗi cá nhân là thực hiện toàn mãn bản chất
của mình để trưởng thành, thăng hoa và hưởng thụ hạnh phúc. Trong chuyến hành
trình cuộc đời ấy, điều tốt đẹp nhất (hạnh phúc) chỉ có thể đạt được ở môi
trường xã hội.
Với cái nhìn như thế, xã hội không được tạo ra vì con người, vì thiên hướng
và lợi ích của con người. Trên tất cả, nó là một thực tại có ý nghĩa sống còn
đối với nhân loại, là một nhu cầu không thể thiếu của cuộc sống con người.
Chính vì lẽ đó, đạo đức xã hội (thể hiện qua đời sống chính trị) phải được đặt
trên một đạo đức cá nhân. Khi cần thiết, mỗi cá nhân phải tự nguyện hy sinh cho
lợi ích quốc gia. Thực chất, không phải xã hội cần đến con người mà ngược lại,
con người phải cần đến xã hội; bởi lẽ xã hội là một thực tại có giá trị đạo
đức, phát sinh từ những nhu cầu thiết yếu của nhân loại.
Mục đích của nhà nước
Để phát triển một cách lành mạnh, thoả mãn mọi nhu cầu như: sinh lý, giao tiếp,
trí tuệ, văn hóa v.v…, con người phải sống cuộc đời của mình bên trong khuôn
khổ xã hội (social matrix). Hơn nữa, do được hình thành từ một ý tưởng
tốt lành, hướng đến mục đích đạo đức và xã hội nền tảng luân lý, nhà nước chính
là chỗ dựa cần thiết cho mỗi cá nhân trong quá trình hoàn thiện bản thân và
thành tựu hạnh phúc trong đời. Mục tiêu cơ bản của nhà nước là tạo điều kiện
cho mỗi công dân được hưởng một cuộc sống thư nhàn, có cơ hội nhận thức được
giá trị tối thượng của con người. Đó là cuộc sống hướng đến các giá trị văn
hóa, nghệ thuật, tôn giáo, chính trị, khoa học và trên tất cả, triết học .
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong xã hội của Aristotle, quyền công dân chỉ
được dành cho các tầng lớp thượng đẳng (upper classes); tầng lớp nô lệ
và nông dân, do đời sống nghèo khổ, bị buộc phải lao động. Bởi vì chỉ có các
tầng lớp thượng đẳng hưởng được cuộc sống thư nhàn và đắm mình trong các hoạt
động nghiên cứu chính trị, khoa học, triết học, v.v…, chỉ riêng họ mới có cơ
hội đạt được hạnh phúc, điều tốt đẹp nhất của cuộc sống và là sản phẩm có giá
trị nhất được tạo ra từ hoạt động trí tuệ ưu việt của con người.
Nhà nước lý tưởng
Theo Aristotle, chính thể lý tưởng là vấn đề mang tính tương đối; không thể
có thể chế tối hảo cho mọi dân tộc, cho mọi thời đại. Một chính thể được xem là
“tốt đẹp” khi giới cai trị quan tâm đến vấn đề an sinh của dân chúng; trong khi
một chính thể bị xem là “thối nát” khi giới cai trị quan tâm chủ yếu đến mục
đích tư lợi. Do vậy, một chỉnh thể “tốt đẹp” có thể bị tha hoá và rơi vào tình
trạng “thối nát” nếu giới cai trị bắt đầu mưu cầu tư lợi, lơ là trách nhiệm đối
với vấn đề an sinh cộng đồng. Xét từ cái nhìn đó, mỗi chính thể tốt đẹp đều có
một hình thức thối nát tương ứng với nó.
|
Chính thể tốt đẹp
|
Chính thể thối nát
|
|
Quân chủ (Monarchy)
Quý tộc (Aristocracy)
Hợp tiến (Polity)
|
Độc tài (Tyranny)
Đầu sỏ (Oligarchy)
Dân chủ (Democracy)
|
Như đã đề cập, trong chính thể quân chủ, quyền điều hành tối thượng thuộc về
một nhà lãnh đạo đức độ và thông tuệ, người quan tâm đến phúc lợi cộng đồng.
Chỉ khi nào người đảm nhận cương vị ấy không nghĩ đến lợi ích của dân chúng,
bắt đầu thâu tóm quyền lực và tiền của, chính thể ấy mới rời vào tình trạng độc
tài.
Tương tự, trong chế độ quý tộc, quyền điều hành thuộc về nhóm quý tộc (công
dân) có phẩm chất và năng lực ưu việt. Khi quyền hành ấy rơi vào tay của một
nhóm người chỉ quan tâm đến việc lạm dụng chức quyền để mưu cầu tư lợi, chế độ
quý tộc bị thao túng bởi các nhà tài phiệt, trở nên thối nát và thoái hoá thành
chính thể đầu sỏ.
Cuối cùng, chính thể hợp hiến, được điều hành bởi một số người dân có phẩm
chất xứng đáng, chỉ thoái hoá thành chế độ dân chủ khi đa số giới cầm quyền phớt
lờ lợi ích của Nhà nước và quần chúng, lạm dụng chức quyền để mưu cầu tư lợi.
Trong chính thể dân chủ, quần chúng quyết định các chính sách quốc gia vì lợi
ích cục bộ hơn là vì lợi ích của đất nước.
Điều tiết cơ cấu hành chính
Aristotle áp dụng nguyên tắc “tiết độ trong mọi sự” vào vấn đề thẩm định cơ
cấu của một quốc gia. Thí dụ: Liệu bộ máy chính quyền hiện tại có quá nhỏ, hay
quá cồng kềnh so với dân số, điện tích của đất nước, hoặc so với dân trí?
Ông đi đến kết luận rằng một nhà nước lý tưởng phải có đa số dân thuộc tầng
lớp trung lưu. Tầng lớp nghèo khổ chiếm đa số sẽ là một gánh nặng đối với vấn
đề an ninh quốc gia; đồng thời, sự vượt trội về số lượng người giàu thuộc tầng
lớp thượng lưu cùng tạo ra tình trạng mất cân đối về mặt phân phối phúc lợi và
quyền lực trong đất nước. Giới trung lưu chiếm đa số và quyền điều hành thuộc
về giới trung lưu là điều kiện “lành mạnh nhất” đối với sự phát triển của một
quốc gia.
“Mọi hình thức thái quá đều phải được loại trừ”. Dành quá nhiều
nhân lực cho một chức nghiệp nào đó sẽ phá vỡ sự cân bằng và ổn định của một
đất nước. Ngoại trừ giới trung lưu, quá nhiều phục vụ cho một lãnh vực nào đó,
sẽ gây phương hại thậm chí huỷ hoại cả một quốc gia. Aristotle dẫn chứng: “Người
Sparta mải đầu tư cho chiến tranh, không chuẩn bị cho hoà bình. Vào thời bình,
họ rỉ sét như thanh gươm nằm trong vỏ”.
4. Triết lý luật pháp của Thánh Thomas Aquinas
Theo Thánh Thomas Aquinas(5), Thượng Đế là nhà lập pháp tối
thượng (the superme lawgiver), đấng sáng tạo mọi quy luật, siêu nhiên
lẫn tự nhiên – bắt nguồn từ những quy luật gốc ấy, luật pháp của con người được
hình hành. Thánh Thomas nhận định rằng trật tự xã hội và những quy tắc công
bằng của nó tuân theo khuôn mẫu mà Thượng Đế đã định sẵn trong thế giới tự
nhiên. Những điều luật bất công, vốn không tuân theo khuôn mẫu ấy, không thể
được xem là luật pháp đích thực. Mặc dù, nói một cách nghiêm chỉnh, con người
không có bổn phận phải tuân theo những điều luật bất công, nhưng vẫn có những
lý do đạo đức đòi hỏi sự vâng mệnh trước quyền lực, bởi lẽ “mọi quyền lực
đều xuất phát từ Ý chúa”. Con người phải tu��n theo giới cầm quyền, bởi vì
không có quyền lực nào nằm ngoài quyền năng của Thượng đế.
Nắm quyền thống trị là sở hữu quyền lực, là bước lên cương vị và đảm nhận
trách nhiệm cao hơn người khác. Đối khán với quyền lực là đối kháng với thiên
mệnh, với “trật tự” mà Thượng đế đã định ra. Không chỉ quyết định thang bậc tôn
ti ở chốn thiên đường (celestial hierarchy), trật tự ấy cũng quyết
định hệ thống thang bậc trong giáo hội (ecclesiastical hierarchy) và cơ cấu xã
hội (social order). Trong xã hội trần tục, người lãnh đạo tối cao của
nhà nước thọ lãnh thiên mệnh, thực hiện trật tự của Thượng đế; mọi thần dân và
thuộc cấp đều phải tuân theo. Thánh Thomas quan niệm rằng ngay cả hành động sai
trái của kẻ cai trị tàn ác nhất cũng là hành động gián tiếp của Thượng đế.
Bạo lực và bất tuân luật pháp
Thánh Thomas còn nhận định rằng mối quan hệ đúng mực giữa năng lực người dân
và luật phát là cơ sở xác lập trị an mà không cần sử dụng đến bạo lực. Bạo lực là
điều đáng ghê tởm,chỉ nên sử dụng như biện pháp cuối cùng để tranh đấu với cái
xấu, và phải được giới hạn ở mức cần thiết. Xét cho cùng, bạo lực đối nghịch
với bản chất của tự nhiên, rất hiếm khi nó hợp với thiên ý. Chính vì lý do đó,
khi đối mặt trước bạo lực, con người luôn có khuynh hướng nhân nhượng và hoà
hoãn. Tuy nhiên, người ta cũng cần nhận thức rõ hiểm hoạ và khi cần thiết, bước
vào cuộc chiến chống lại Cái Ác.
Thánh Thomas cho rằng có sự khác biệt giữa những điều luận “bất công”(vô đạo
hay nghịch thiên) và những điều luật “bất lợi” (trái ý hoặc gây phương hại cho
lợi ích của một số cá nhân). Đối với các điều luật vô đạo, chúng ta không bao
giờ nên chấp nhận và tuân thủ. Tuy nhiên, đối với các điều luật bất lợi (một
trong những dạng biến động thăng trầm của đời người), cách phản ứng của mỗi cá
nhân (tuân thủ hoặc phủ nhận chí kình chống) chính là thước đo lương tâm và đạo
đức của bản thân. Một người vô tội bị kết án tử hình có đủ lý do đạo đức khi
tìm cách trốn tránh thụ hình, nhưng một tội phạm thực sự thì không. Thực tế,
lịch sử nhân loại ghi nhận không ít gương trung thần, danh sĩ khí tiết hơn
người – họ chấp nhận hình phạt bất công để bảo vệ những giá trị và nguyên tắc
đạo đức cao đẹp. Trong giới triết gia, Socrates là một tấm gương điển hình như
vậy. Ông đã đón nhận án tử, sử dụng thái độ của mình như một phương cách tôn
vinh công lý: tôn trọng tính uy nghiêm của luật pháp, vận dụng lý lẽ để phản
kháng. Cái ác thay vì bài xích và hạ thấp giá trị công lý thiêng liêng của một
phán quyết.
Quy luật tự nhiên
Suy luận lôgic, theo quan niệm của Thánh Thomas, là cơ sở thích hợp để đánh giá
phẩm hạnh của con người, nhưng chính quy luật tự nhiên không chỉ quyết định
hình nên khuôn mẫu suy luận ấy. Cũng cần lưu ý rằng quy luật tự nhiên không chỉ
quyết định sự vận hành của các cơ quan của con người, nó còn bao hàm những phẩm
chất luân lý – vì thế, nó cũng là quy luật đạo đức. Đối với quy luật tự nhiên,
con người có quyền chọn lựa thái độ tuân thủ, theo đuổi hay xuyên tạc nó. Tuy
nhiên, mọi hành vi trái luật tự nhiên đều trái với đạo đức.
Thánh Thomas tin tưởng rằng con người không nhận thức về quy luật tự nhiên
thông qua con đường suy luận, mà thông qua sự trực nhận, một thiên hướng cho
phép con người nắm bắt được lẽ tốt đẹp phù hợp với bản chất của chính mình.
Thông qua quá trình suy luận, chúng ta có thể nhìn nhận rằng thiên hướng ấy là
tốt đẹp, rằng những điều sai lệch so với quy luật tự nhiên “bất thành văn” chỉ
trở thành tri thức và phản ứng tự nhiên của chúng ta thông qua sự trực nhận,
không đòi hỏi sự hỗ trợ của quá trình suy lý.
Thiên hướng trực nhận lẽ đúng sai không đơn giản chỉ là bản năng động vật;
nó bao gồm cả hoạt động ý thức. Hơn nữa, bản thể (ontological life)
hoà hợp với hoạt động ý thức. Hơn nữa, thiên hướng này bám rễ sâu trong các
hành vi lý trí, hoạt động dưới tiếng gọi, mệnh lệnh hay nguyên tắc của lương
tâm, đòi hỏi chúng ta hành thiện, động viên chúng ta chống lại cái ác. Thực tế
tri thức của nhân loại về những đạo lý trong đời đều được phát hiện dựa trên
thiên hướng trực nhận, một thiên hướng thuộc về bản chất của con người. Thời xa
xưa, thiên hướng trực nhận ấy là con đường duy nhất dẫn đến tri thức luân lý.
Về sau, con đường ấy bị che khuất dần giữa đám rừng ngôn từ và ý tưởng trí xảo;
con người bắt đầu làm quen với các khuynh hướng suy luận, len lỏi theo những
lối mòn để tìm đến cánh cửa tri thức.
Quy luật vĩnh hằng
Theo Thánh Thomas, mặc dù quy luật vĩnh hằng xuất phát từ Thượng Đế, ý nghĩa
của nó cần được nhận thức theo quan điểm triết học hơn là dựa trên quan điểm
thần học. Thượng đế bất diệt – Đấng sáng tạo, khởi động và vận hành muôn vật –
hiện hữu và hành động với ý nguyện và tuệ giác của ngài. Do vậy, bộ máy vũ trụ
vận hành theo lẽ trời – nói cách khác, quy luật tự nhiên là lẽ hành sự của
Thượng đế. Lý lẽ của ngài, Tuệ giác bất diệt của Ngài, Bản chất siêu phàm của
Ngài, hợp nhất với quy luật vĩnh hằng, thể hiện “sự minh tuệ thần thánh” bao
trùm mọi chuyển động và hành trạng của muôn vật.
Do xuất phát từ sự minh tuệ thần thánh ấy, quy luật tự nhiên tất phải bao
hàm đạo lý (hay lẽ phải) và luân lý (hay cơ chế vận hành mang tính áp đặt) –
nói cách khác, nó phải có bản chất của một quy luật đích thực. Khả năng áp chế
của quy luật tự nhiên, hình thành nên các nguyên tắc luân lý, hoàn toàn gắn
liên với sự tồn tại của Thượng đế – không có Thượng đế, tất không có đạo đức.
Thể hiện sự minh tuệ thần thánh (divine wisdom), quy luật vĩnh hằng
vốn vô ngôn, bất khả thuyết, bất khả tư lượng – chỉ có bản thân Thượng đế, hoặc
những ai thực chứng được bản thể của Ngài, mới có thể nắm bắt được quy luật ấy.
Luật pháp
Theo triết lý của Thánh Thomas, luật pháp là luật được định hình dưới dạng
văn bản, thể chế hoá lẽ phải bằng lý luận thực tế. Do quan niệm về lẽ phải được
cụ thể hoá dưới dạng quy định pháp lý, áp đặt nên mỗi cá nhân và được xã hội
thực thi, nó trở thành một nghĩa vụ luật pháp mà nếu như phớt lờ, người ta có
thể bị trừng phạt. Trong khi hiệu lực của luật pháp dựa trên cơ sở sự cưỡng chế
của xã hội (pháp chế ), quy luật tự nhiên “bất thành văn”, thông qua mệnh lệnh
của lương tâm, đòi hỏi chúng ta tuân theo các nguyên tắc luân lý. Vì thế, quy
luật tự nhiên có liên quan đến nghĩa vụ đạo đức hơn là nghĩa vụ luật pháp.
Quyền tự nhiên
“Tự bảo toàn sinh mạng” là một thí dụ điển hình cho quyền tự nhiên (natural
right), khái niệm thường đi kèm theo quy luật tự nhiên. Quyền tự nhiên tồn
tại như tiền đề cơ sở cho sự hình thành các quyền hạn cụ thể trong khuôn khổ
pháp lý. Nó tiềm ẩn trong quy luật tự nhiên.
Luật quốc tế
Công pháp hay luật quốc tế (the jus gentium ) là luật được áp dụng ở
các quốc gia có cùng một nền văn minh. Khác với quy luật tự nhiên, nó chỉ được
nhận thức thông qua lý lẽ và các khái niệm tư duy, không thông qua khuynh hướng
trực nhận. Mặc dù có thể không được thể chế hoá thành những quy định rõ ràng,
công pháp vẫn mang tính pháp chế, dựa vào hoạt động lý trí và nhận thức của con
người. Tương tự như luật lệ xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân trong cộng đồng phải
tuân thủ, luật quốc tế có giá trị pháp lý lẫn luân lý, bởi lẽ nó đòi hỏi chúng
ta phải có nghĩa vụ luật pháp lẫn đạo đức.
5. Triết lý chính trị của Niccolo Machiavelli
Niccolo Machiavelli(6)đề xuất một học thuyết biện minh cho giới cai
trị trong việc sử dụng mọi phương tiện cần thiết, công chính lẫn ám muội, để
duy trì một chính phủ vững mạnh và ổn định trật tự xã hội “mục đích biện minh
cho phương tiện,” dẫu rằng mục đích ấy chỉ mang đến lợi ích cho chế độ cai trị
độc tài.
Để có được quyền lực chính trị, người ta cần phải được sinh ra trong một gia
đình thế gia vọng tộc, hoặc phải chiếm đoạt quyền lực bằng ý trí, tài năng thậm
chí bằng thủ đoạn. khi đã thâu tóm quyền hành đạt được từ thủ đoạn, với sự hỗ
trợ của một số kẻ đồng mưu (những có đủ tham vọng và tính gian hùng cần thiết
để tham gia thực hiện những mưu đồ xấu xa), người ta cần phải loại trừ họ. Hơn
nữa, trong quá trình tiêu diệt các kẻ thù trong nước, người cầm quyền phải kiên
quyết, nhẫn tâm và không được phép xót thương – nếu không, ” sau một vài
cơn mưa, cỏ dại lại mọc đầy.”
Lòng cảm thông của kẻ cai trị dành cho thần dân phải được giới hạn ở mức cần
thiết để có thể duy trì trọn vẹn quyền lực của bản thân. trung tín, tôn giáo,
v.v…. với mục đích xây dựng một hình ảnh tốt đẹp trước công chúng, nhưng ông ta
thường xuyên phải luôn hành động ngược lại với ý tưởng ấy. Trên tất cả, ông ta
cần phải hình thành nên một tính cách đạo đức giả và mềm dẻo. Chỉ có một vài
người gần gũi và nhạy cảm mới phát hiện ra tính cách thực của ông ta, nhưng
thông thường họ không dám phản kháng hay vạch trần bộ mặt giả dối của kẻ cai
trị đầy quyền lực. Nhờ đó, những kẻ cai trị mới duy trì được địa vị tôn quý của
họ.
Thuật làm vua
Tác phẩm kinh điển của Machiavelli, “Thuật làm vua” (The Prince),
phân tích đến phép cai trị của các bậc vua chúa, đặt vấn đề liệu rằng họ nên
tin tưởng vào thần dân đến mức độ nào, liệu rằng họ nên sử dụng đến những
phương cách gì để điều phục dân chúng. Machiavelli kết luận rằng các bậc vua
chúa phải sử dụng đến luật pháp lẫn vũ lực. Do luật pháp thường tỏ ra kém hiệu
quả, vũ lực luôn được cần đến – mặc dù xét theo một góc nhìn nào đó, vũ lực chỉ
được sử dụng để đối phó và trấn áp thú dữ.
Tóm lại, các bậc vua chúa nên thể hiện một tính cách hai mặt: thèm khát
quyền lực như một mãnh sư, đồng thời phải ranh ma và xảo quyệt như một con cáo.
Làm vua chúa, phải luôn cảnh giác, phải luôn nhớ rằng “mãnh sư bị sập bẫy, cũng
như một chú cáo ở giữa bầy sói, không có khả năng tự vệ” hai mặt tính cách nói
trên hỗ trợ cho nhau. Như con cáo, vua chúa phải che giấu bản chất thực sự của
mình, tỏ vẻ đức độ ngay cả khi hành xử xấu xa. Như con mãnh sư, ông ta cần phải
biết tàn nhẫn. Chỉ có những vị vua quá xuẩn ngốc mới có lòng nhân từ và đức độ
thực sự – họ sẽ đánh mất vương quốc của mình vào tay kẻ thù. Tuy nhiên, để giữ
được quyền lực, vua chúa buộc phải tạo dựng cho mình một hình ảnh của người cai
trị đức độ.
Các thể chế Chính quyền
Machiavelli nhận định rằng trong suốt lịch sử nhân loại, chỉ có hai chính
thể cơ bản: quân chủ và cộng hoà, trong đó cộng hoà là thể chế tốt đẹp hơn. Tuy
nhiên, chế độ cộng hoà chẳng thể hoạt động hiệu quả nếu không có những công dân
có phẩm chất và đức độ. Trong trường hợp nhân tâm đã loạn, chỉ có chế độ quân
chủ là khả thi. Theo ông, mục đích “trấn áp lòng người “có thể biện minh cho
cung cách cai trị cứng rắn kết hợp với các hình thức mị dân. Nói cho cùng, “mục
đích biện minh cho phương tiện.”
6. Triết lý chính trị của Thomas Hobbes
Triết lý chính trị của Thomas Hobbes(7) đặt trên nền tảng học
thuyết khế ước xã hội (Social Contract theory), học thuyết nền tảng
của các thể chế dân chủ hiện đại. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng các quyền bất
khả tước đoạt của con người, theo niềm tin của Hobbes, là các quyền tự nhiên (natural
rights); trong khi khái niệm nhân quyền (human rights) thời hiện đại được
xem là các quyền được một thực thể thần thánh (divine Being) ban cho.
Hobbes tuyên bố rằng con người, về cơ bản, là một tạo vật sa đoạ và không
đáng tin cậy, rằng họ luôn phải tự bảo vệ bản thân giữa các đồng loại chẳng
khác gì những con thú trong rừng vậy! Mỗi cá nhân luôn cảm thấy cần thiết phải
đóng kín cửa đề phòng kẻ trộm đột nhập, thậm chí phải luồn ví tiền dưới gối đề phòng
kẻ trộm trong chính gia đình mình. Con người không chỉ sa đoạ mà còn thích gây
gổ và hiếu chiến đến độ, ngoại trừ những khoảnh khắc nghỉ ngơi giữa các cuộc
khẩu chiến, họ liên tục xung đột, cạnh khoé và chống phá lẫn nhau.
Có ba lý do lý giải tính hiếu chiến của con người: cạnh tranh (để giành
quyền sống cho mình), thiếu tin cậy vào người khác (nhu cầu tự bảo toàn) và
thèm khát vinh quang (nhu cầu được kính trọng). Cạnh tranh đưa con người đến
bạo lực, thiếu lòng tin làm nảy sinh khuynh hướng tự vệ, và hãnh tiến đòi con
người xây dựng các hình thức ngoại giao tinh tế.
Quyền tự nhiên
Theo Hobbes, quy luật thống trị cung cách ứng xử của mọi tạo vật là luật
rừng, “luật nanh vuốt ” (the law of tooth and claw). Với quy luật khốc
liệt ấy, sức mạnh tạo nên lẽ phải. Trong rừng, mãnh sư ưu tiên giành lấy những
gì nằm trong khả năng của nó; sau đó các loài thú khác lần lượt dành lấy phần
của chúng. Con người cũng hành động như thế và nếu cần thiết, thậm chí họ còn
tàn sát lẫn nhau hoặc biến đồng loại thành nô lệ. “Mỗi người có quyền làm
mọi sự trong khả năng, ngay cả khi làm chủ thân thể của kẻ khác.”
Quyền bình đẳng giữa con người
Như đề cập ở trên, quy luật tự nhiên cho phép mỗi người, trong khả năng của
mình, làm mọi việc theo ý muốn – bởi lẽ trong thế giới dã thú, “chẳng có gì xem
là bất chính cả”. Mặt khác, để tránh bị kháng cự và phản công, con người phải
xảo trá hơn cả dã thú. Một người yếu đuối, nếu được trang bị vũ khí lợi hại và
có chiến thuật hiệu quả, hoàn toàn có thể hạ gục một người khoẻ mạnh. Hobbes
chỉ ra rằng, do con người có năng lực thể chất không đồng đều, các cá nhân yếu
đuối thường có xu hướng tập hợp thành nhóm để tự vệ hoặc để chống lại kẻ thù
hùng mạnh. “Xét về mặt thể lực, kẻ yếu vẫn có đủ khả năng tiêu diệt kẻ mạnh
bằng thủ đoạn hiểm độc, hoặc bằng cách liên kết với những ai có cùng mục tiêu
như họ.” Về phương diện này, Hobbes đồng tình với phương châm cổ: “
Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” (United we stand, divided we fall).
Luật tự nhiên
Hobbes tin tưởng rằng, xét theo luật cơ bản của tự nhiên, cá nhân phải bảo
vệ cuộc sống của chính mình bằng mọi cách và với mọi giá, rằng không có gì quý
hơn mạng sống và đáng phải hy sinh mạng sống cả. “Tự bảo toàn sinh mạng” là quy
luật tự nhiên đầu tiên, thúc giục con người “tìm kiếm và theo đuổi hoà bình.”
Nỗi sợ chết hay sợ tổn thương, kết hợp với bản năng bảo toàn sinh mạng, ngăn
không cho con người làm hại bản thân và người khác. Quy luật đầu tiên ấy (luật
tự bảo toàn sinh mạng) thúc đẩy con người tuân phục quy luật thứ hai, liên quan
đến khế ước xã hội – bởi lẽ sinh mạng chỉ được bảo toàn tốt nhất trong một xã
hội, nơi mà sự an bình lâu dài được xác lập trên nền tảng của một khế ước cộng
đồng.
Khế ước xã hội
Đối với Hobbes, khế ước xã hội là phương tiện thiết yếu để xác lập các quyền
công dân trên cơ sở của quy tắc vàng trong phép xử thế (“Hãy dành cho người
khác những gì mà bạn muốn nhận được từ họ”), thay cho quy luật tự nhiên “mạnh
được yếu thua“. Các cá nhân có được quyền công dân bằng cách chấp nhận một
thoả ước cộng đồng được xây dựng trên nguyên tắc “cá nhân sẵn sàng, vì mục
đích hoà bình, vì quyền tự nhiên của mình, bằng lòng giới hạn sự tự do của mình
đến một mức độ mà, trong tình huống tương tự, những người khác cũng sẵn lòng
kiềm chế như vậy.” Nguyên tắc này cấu thành nên quy luật thứ hai về khế
ước xã hội. Ý nghĩa và tầm quan trọng của quy luật ấy chỉ có giá trị nếu nó
thoả mãn được quy luật tự nhiên đầu tiên – luật tự bảo toàn sinh mạng.
Các luật phát sinh từ khế ước xã hội
Qua phần thảo luận, rõ ràng quy luật thứ hai được phát triển từ quy luật đầu
tiên; bởi lẽ con người chỉ chấp nhận tham gia khế ước xã hội với mục đích bảo
đảm quyền sống của bản thân. Hobbes nhận định rằng có một số quy luật khác phát
sinh từ 2 quy luật đầu tiên ấy. Ông tổng kết các quy luật như sau:
1. Con người không được làm điều gì có khả năng huỷ hoại cuộc sống bản thân
( luật tự bảo toàn sinh mạng ).
2. Cá nhân sẵn sàng, khi những người khác cũng thế, đặt mục đích hoà bình và
tự bảo vệ bản thân nên trên hết; cá nhân bằng lòng với quyền tự do trong khuôn
khổ mà anh ta có thể chấp nhận dành cho người khác trong tình huống tương tự
(luật khế ước xã hội ).
3. Mỗi người đều thực thi các nghĩa vụ theo thoả ước ( luật công lý ).
4. Với một người thọ nhận lợi ích, từ lòng hảo tâm hay sự biết ơn của người
khác, không có lý do gì khiến anh ta phải ân hận về thiện ý của mình (luật hàm
ơn).
5. Mỗi người tranh đấu để tự thích ứng với cộng đồng (luật thích nghi).
6. Sau khi cảnh cáo, “cá nhân nên tha thứ cho những kẻ xúc phạm đã biết hối
lỗi và mong được dung thứ” (luật vị tha).
7. Về vấn đề báo thù (lấy oán trả oán), người ta không nên xem nặng tội lỗi
quá khứ, hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp ở tương lai ( luật báo thù).
8. Không ai được phép tuyên bố sự ghét bỏ hay kinh miệt người khác thông qua
hành động, lời nói, dáng vẻ hay ra dấu hiệu (luật khinh miệt).
9. Mọi cá nhân thừa nhận rằng mỗi người đều bình đẳng về mặt bản chất (luật
tự tôn).
10. Hội nhập vào “điều kiện chung sống hoà bình, không ai được phép giành
riêng bất kỳ quyền lợi nào mà cá nhân không sẵn lòng chia sẻ cho cả cộng đồng”
(luật ngã mạn và khiêm tốn).
11. Đối với những gì không phân chia được; “nếu có thể, hãy cùng thụ hưởng
chung; và nếu như có thể phân chia được về mặt số lượng, hãy chia đều cho số
người được quyền thụ hưởng” (luật công bằng).
12.Quyền chiếm hữu đều quyết định bằng cách rút thăm, hoặc xác định tình
trạng sở hữu đầu tiên (hệ luật của công bằng)
13. “Mọi sứ giả hoà bình đều được hưởng quy chế bảo đảm an toàn” ( luật quy
chế an toàn).
14. “Những cá nhân dính líu đến sự kiện tranh chấp đều phải đặt mình dưới
quyền phán xử của một vị trọng tài” (luật phân xử).
Cần lưu ý rằng các điều luật nói trên, theo quan niệm của Hobbes, đều được
chi tiết hoá hoặc suy luận từ quy tắc vàng trong thuật ứng xử.
Vị Quốc chủ (Levithan)
Các điều luật nói trên, quy định phận sự của các công dân tham gia khế ước
xã hội, thực sự có giá trị tham khảo rất cao. Tuy nhiên, vẫn có một câu hỏi
quan trọng cần được đặt ra: điều gì sẽ xảy đến nếu như một cá nhân tham gia khế
ước ,vô tình hay cố ý, không thực hiện bổn phận của mình? Để trả lời, Hobbes
gọi đó là vị Quốc chủ ( Levithan), một “vị thần” trong loài người. Bản
thân đứng trên luật lệ, người ấy nắm quyền hành pháp tối cao trên thế giới (hay
chí ít là trên một đất nước).Theo giả định, quyền lực ấy thuộc về một đấng đế
vương. Tuy nhiên, nếu có một người nắm quyền lực cao hơn xuất hiện và khuất
phục được bậc đế vương ấy, nhân vật ấy sẽ trở thành Vị Quốc chủ mới.
Ở quốc gia không có một vị vua nắm quyền lực tối cao, khế ước được điều hành
bởi một hội đồng và quốc gia ấy được gọi là khối quy chế cộng đồng (Commonwealth
by Institution). Nếu được xác lập bởi nhà vua, người nắm quyền lực tối
thượng (bằng biện pháp vũ lực hoặc thông qua thoả ước giữa các đảng phái có
liên quan ), nó được gọi là khối hiệp ước cộng đồng (Commonwealth by
Acquisition ).
7. Triết lý dân chủ của Jean Jacques Rousseau
Triết lý dân chủ của Jean Jacques Rousseau nhấn mạnh nguyên tắc cho rằng
quyền tối thượng thuộc về người dân, rằng tất cả quyền lực khác đều phụ thuộc
vào quyền tối thượng ấy. Nhà nước được hình thành trên nền tảng của một khế ước
xã hội có mục tiêu đảm bảo an sinh cho công dân, do vậy chủ quyền tồn tại nhằm
mục đích bảo vệ cho mỗi cá nhân trong quốc gia. Khi chấp nhận tuân thủ luật
pháp, các cá nhân chỉ đơn thuần uỷ thác quyền của họ vì mục đích đó. Chính phủ
chỉ sở hữu quyền uỷ nhiệm, không phải là quyền lực tối thượng, xuất phát từ ý
nguyện của tập hợp quần chúng thống nhất. Chính ý nguyện của khối quần chúng,
một ý nguyện chung, là điều mà các viên chức nhà nước phải thực thi. Ý nguyện chung
là ý nguyện hướng đến lợi ích của mọi người. Hơn nữa, bộ máy nhà nước không nên
quá cồng kềnh, quốc gia cũng không nên quá lớn, gây khó khăn cho khả năng thích
ứng của các công dân. Hình thức chính quyền lý tưởng nhất chỉ bao gồm một nhóm
nhỏ các công chức do dân bầu ra.
Tự do và bình đẳng
Thời nguyên sơ, xã hội được tổ chức dựa theo trật tự gia đình, hình thức xã hội
chân thật và gần gũi vời tự nhiên hơn cả. Theo đó, đúng ra các hình thức xã hội
chính trị đương thời nên được xây dựng theo khuôn mẫu gia đình. Trong một gia
đình, mỗi đứa trẻ được sinh ra với quyền tự do và bình đẳng; nguyên tắc tương
tự cũng nên được sử dụng và phát huy trong những vấn đề chính trị xã hội của
thời đại.
Chế độ nô lệ là ý tưởng đáng ghê tởm trong một xã hội tự do, bởi vì “sức
mạnh không làm nên lẽ phải”, và về mặt tự nhiên, “không ai thống trị đồng loại
của mình.” Vì thế, không thể tổ chức và thể chế hoá xã hội bằng vũ lực mà phải
thông qua hình thức thoả ước, thông qua một khế ước xã hội.
Quyền tối thượng bất khả chuyển nhượng
Quyền tối thượng thuộc về công dân, hay nói đúng ra, thuộc về chính kiến của
tập hợp quần chúng thống nhất; bởi lẽ chỉ có một tập hợp như thế mới sở hữu một
ý nguyện bất khả chuyển nhượng. Ý nguyện của mỗi cá nhân chia sẻ với nhau trong
ý nguyện chung, hướng đến ích lợi chung của cả cộng đồng. Mặc dù quyền hành có
thể được ủy nhiệm, ý nguyện thì không. “Chủ quyền không là gì ngoài việc thể
hiện ý nguyện chung, một ý nguyện chẳng thể nào chuyển nhượng được. “Chính
vì lý do đó, chủ quyền là bất khả phân cấp, bất khả chuyển nhượng.”
Ý nguyện chung
Ý nguyện chung không đơn thuần là bản liệt kê ý nguyện riêng rẽ của mỗi cá
nhân. Thực chất, nó được thể hiện trong hoạt động chính trị của mỗi công dân
khi anh ta thành tâm và tự nguyện, không chịu bất kỳ một áp lực nào, đưa ra
quyết định độc lập của mình bằng một lá phiếu.
Quá trình tổng hợp những lá phiếu có thể chỉ cho thấy khát vọng riêng của
mỗi công dân; nhưng ý nguyện chung được phản ánh qua thái độ tự nguyện và thành
tâm của mỗi cá nhân, tham gia bỏ phiếu vì những điều tốt đẹp cho mọi công dân. “Thông
thường, có điều khác biệt rất lớn giữa ý nguyện toàn thể và ý nguyện chung. Ý
nguyện chung chỉ liên quan đến lợi ích chung. Ý nguyện toàn thể có liên quan
đến những lợi ích riêng, chỉ là một bản tổng kết những ý nguyện riêng rẽ…ý
nguyện chung lúc nào cũng đúng cả “nếu được hướng dẫn chu đáo, tránh những xu
hướng bè phái và các thủ đoạn thao túng chính trị, một cộng đồng dân cư sẽ thể
hiện rõ ràng ý nguyện chung của họ.”
Khế ước xã hội
Rousseau nhận định rằng với xã hội được xây dựng trên cơ sở khế ước, vận
dụng sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng để chăm lo vấn đề an sinh bảo vệ tài
sản của mỗi cá nhân, mọi công dân đều có quyền tự do và độc lập, chẳng phải
tuân theo mệnh lệnh của ai khác ngoài chính mình.Bởi lẽ khế ước xã hội tồn tại
vì vấn đề an sinh của mỗi cá nhân trong cộng đồng, nếu một thành viên vi phạm
các thoả ước, anh ta đã vi phạm luật lệ của chính mình . Cá nhân ấy sẽ phải
nhận lãnh hình phạt, không phải chỉ vì mục đích duy trì sự ổn định của xã hội,
mà còn vì lợi ích của chính anh ta.
Khế ước xã hội được xác lập trên nguyên tắc cơ bản là: Quyền tối thượng
thuộc về dân chúng (sở hữu chủ của ý nguyện bất khả quyền nhượng); quyền hành
có thể chuyển giao nhưng ý nguyện thì không. Do vậy, chính phủ chỉ là người đại
diện của quần chúng, hoạt động và thực thi ý nguyện chung. Chính phủ chẳng bao
giờ đạt được quyền thống trị tối thượng và tối hậu.
Về nhà nước lý tưởng, Rousseau chọn chính thể cộng hoà cai trị bằng luật
pháp, viên chức chính phủ do dân bầu chọn và thi hành ý nguyện chung. Tin rằng
cho cấu chính trị đặc thù chỉ có vai trò thứ yếu, ông đưa ra nhận sét chung như
sau: chế độ dân chủ phù hợp với nước nhỏ; chế độ quý tộc với các nước cỡ trung
bình; và chế độ quân chủ với các nước lớn. Ông kêt luận rằng “nếu có sự tồn tại
của nòi giống thần thánh, hẳn là họ cũng tự trị theo thể chế dân chủ.”
|
8. Triết lý pháp quyền của Hegel
Triết lý chính trị và pháp lý của Georg W.F.Hegel(8) được ông
phác hoạ trong tác phẩm “Triết lý pháp quyền” (Die
philosophiedes Rechts). Từ Recht, trong tiếng Đức, có thể được
hiểu theo 1 trong 3 nghĩa như sau: “lẽ phải” (moral principle),
“luật pháp” (law), hay “quyền công dân”(civil). Thực tế,
Hegel và nhiều triết gia Đức khác sử dụng thuật ngữ ấy để diễn đạt cả ba
nghĩa trên.
Quốc gia – Một ý tưởng đạo đức và thần thánh
Giống như Aristotle, Hegel nhận định rằng con người là một tạo vật có tính xã
hội, chỉ có thể tìm thấy sự thực hữu của chính mình trong khuôn khổ quốc gia.
Theo ông, nhận thức về sự thực hữu của con người gắn liền với môi trường xã
hội. Do vậy, quốc gia có vai trò rất quan trọng đối với vấn đề có ý thức luân
lý và đạo đức. Quốc gia là một thực thể bao quát, là môi trường tổng hợp nên
toàn bộ tính cách, nếp sống và xu hướng nhận thức của con người. Vì thế con
người phải nhất thiết phụ thuộc vào thực thể bao quát ấy. Trên tất cả, quốc
gia không thể được lý giả như một khế ước xã hội, bởi lẽ quốc gia không phải
đựơc tạo ra từ quyết định của các cá nhân trong một đất nước. Không có quốc
gia, chẳng có chân lý nào hay, xét về mặt thực hữu, không có sự nhận thức
trọn vẹn nào được tìm thấy nơi một cá nhân hoặc đoàn thể nào đó. Quốc gia là
một thực thể chân xác, không chỉ đơn giản là một nhóm người tập hợp lại. Chỉ
ở trong quốc gia, cá nhân mới có thể hoàn tất quá trình tự nhận thức của
mình.
Hegel đồng nhất quốc gia với quyền năng của Thượng Đế, dàn trải và xuyên
suốt lịch sử thế giới. Quốc gia là một ý tưởng Thần Thánh, là sự hiển lộ của
Thượng Đế ở chốn trần thế, là thực thể đáng được tôn thờ. Là một hình thức
thể hiện tính hợp lý hoàn hảo, quốc gia chỉ yêu cầu các công dân những gì hợp
lẽ. Mặc dù quốc gia được hình thành chủ yếu bằng vũ lực, chính cảm giác an
sinh trong trật tự đã giữ cho nó đứng vững.
Quốc gia – Một tổng thể hữu cơ
Đối với Hegel, quốc gia là một tổng thể hữu cơ, không ngừng phát triển để tự
khẳng định chính mình. Một quốc gia băng hoại giống như cơ thể người bệnh,
mặc dù có thể vẫn tồn tại nhưng không thể hoạt động như một thực tại sống
động – như một bàn tay bị thương tật, tuy vẫn giữ nguyên hình thể nhưng vô
cảm và không thể cử động theo ý muốn. Quốc gia theo đuổi sự nghiệp tự nhận
thức và tự khẳng định, một sự nghiệp mà tinh thần thế giới (the world
Spirit) đã tạo ra cho nó.
Hiến pháp
Quốc gia là tinh thần của đất nước. Luật pháp thâm nhập và nuôi dưỡng toàn
bộ đời sống của nó, thể hiện các quy tắc và ý thức đạo đức của người dân
trong một đất nước. Dạng hiến pháp mà một quốc gia chấp nhận tương xứng với
mức độ hiểu biết, hay mức độ hoàn tất quá trình tự nhận thức của nó. Hiến
pháp (consitution) không hoàn toàn được tạo ra bởi con người, nó
xuất phát từ mức độ thức ngộ, khả năng thành tựu quá trình tự khẳng định của
một quốc gia. Hiến pháp thể hiện sự phát triển xuyên suốt dòng lịch sử của
một quốc gia. Hiến pháp co tính hợp lý và có giá trị bất diệt, là một công cụ
có tính thần thánh – không phải là một tác phẩm của con người, mà là tác phẩm
của cả ngàn năm lịch sử, nó bộc lộ những gì hợp lý, là ý thức về những gì hợp
lý. Nó là đặc tính thiêng liêng của lý lẽ, là “toà kiến trúc uy nghiêm và
hùng vĩ”
Vị Quân Chủ
Hegel cho rằng chính thể quân chủ lập hiến (constitutional Monnarchy)
là hình thức nhà nước tối cao – không có tính dân chủ theo ý tưởng cho rằng
quyền tối thượng thuộc về dân chúng. Nó xuất phát từ ý tưởng cho rằng người
trị vì đất nước là nhân vật đứng đầu một quốc gia tổng thể hữu cơ, thể hiện
tinh thần Thế Giới. Ông nhận định rằng “quyền lực tối thượng thuộc về
nhân vị mang tính tổng thể, được đại diện bởi nhà quân chủ”. Quyết định
tối hậu thuộc về nhà nước, thể hiện ý chí tự quyết tối thượng, và vị quân chủ
là người phát ngôn chính thức của toàn quốc gia. tuy vậy, vị quân chủ không
phải là bản thân nhà nước, mặc dù nhà nước hoạt động thông qua ông ta. Thực
tế, hầu như vi quân chủ chỉ “ký tên mình” để xác lập tinh thần quốc gia. Bởi
vì nhà nước tồn tại độc lập với quyền trị vì, phẩm chất và tài năng của vị
quân chủ chỉ chiếm vai trò thứ yếu, vai trò của “người vâng mệnh quốc gia” để
thực hiện công việc đặt nét bút cuối cùng. Nói cách khác, bất chấp sự kiện
rằng các quyết định tối thượng trực tiếp gắn liền với ông ta, vị quân chủ chỉ
đặt dấu ấn cuối cùng để tuyên cáo rằng những quyết định ấy phù hợp với ý
nguyện tối thượng của quốc gia.
Vị quân chủ là người trị vì một quốc gia chuyên chế, trong đó quyền hành
pháp và lập pháp vận hành theo hình thức tư vấn. Trong lãnh vực lập pháp,
quyền lợi của quần chúng, cũng như quan điểm và khát vọng của họ, có cơ hội
thể hiện. Bất chấp sự kiện rằng thực tế quần chúng không nắm quyền lực nào,
chính phủ không nên có thái độ chống đối họ.
Quần chúng tìm thấy sự hợp nhất, tổ chức và chân giá trị của họ trong quốc
gia. Nếu tách rời khỏi quốc gia, cá nhân đánh mất vai trò và ý nghĩa của
minh.
Triết lý chiến tranh của Hegel
Hegel nhận định rằng chiến tranh có một khía cạnh đạo đức riêng, góp phần
tôn vinh giá trị cao quý của hoạt động sống của con người. Nó khơi dậy những
phẩm chất cao đẹp nhất của con người, tạo cơ hội cho con người hành xử như
những vị anh hùng, thậm chí khi nó đòi hỏi họ hy sinh mạng sống cho quốc gia.
Mặc dù cá nhân có thể chết, quốc gia phải sinh tồn và tiếp tục sự nghiệp của
mình – quốc gia vĩ đại và quan trọng hơn bất kỳ một cá nhân nào. Vinh quang
của cá nhân không co ý nghĩa bằng “sự tự nguyện hiến thân cho một sự
nghiệp vũ trụ”, sự nghiệp phục vụ quốc gia. Chiến tranh trắc nghiệm sức
mạnh và khả năng vận hành của một quốc gia, tạo cơ hội gìn giữ đạo lý và tinh
thần tự quyết của một dân tộc. Hegel cho rằng Immanel Kant đã sai lầm khi cổ
xuý cho một nên hoà bình vĩnh cửu, điều kiện thực sự mang đến sự trì trệ,
tình trạng mục rỗng, thối nát và băng hoại. Ngược lại, chiến tranh vận hành
như một chất xúc tác chống lại những điều xấu xa ấy. Trong một nền hoà bình
vĩnh cửu, các cơ cấu tổ chức trở nên thụ động và chết cứng. Thực tế , Hegel
nhận đinh, không có xung đột, không thể có tiến bộ. Chiến tranh là hình thức
xung đột căng thẳng và khốc liệt nhất; vì thế nó là động cơ thúc đẩy sự tiến
bộ mạnh mẽ nhất. Các quốc gia vượt qua khỏi chiến tranh thường vươn lên với
một tinh thần tự chủ kiên cường. Theo Hegel, không có chiến tranh, không thể
có hoà bình; bởi vì hoà bình là hệ quả của chiến tranh.
Các mối quan hệ quốc tế
Quốc gia là cơ cấu tổ chức tối hậu của xã hội con người. Do không có nước
nào đứng trên nước khác. Bất đồng giữa các cá nhân được giải quyết bởi nhà
nước; xung đột giữa các quốc gia được quyết định bởi chiến tranh. Đối với vấn
đề liệu rằng lẽ phải thuộc về quốc gia nào, Hegel cho rằng lịch sử sẽ phán
quyết “Lịch sử thế giới là lời phán xét của thế giới”. Nói cách
khác, điều gì sẽ xảy ra là điều tất đúng – một dạng lập luận có thể biện minh
cho cái lý “sức mạnh tạo nên lẽ phải”.
Tương tự như quan điểm cho rằng cá nhân không thể nhận thức được chính
mình nếu tách rời khỏi quốc gia, một quốc gia không thể tách rời khỏi muối
quan hệ với các quốc gia khác – Tinh Thần Thế Giới vốn vận hành xuyên suốt
dòng lịch sử của nhân loại. Mối quan hệ với các quốc gia riêng lẻ là bằng
chứng tối hậu, biện minh cho sự tồn tại của Tinh Thần Thế Giới vượt lên trên
gianh giới của mọi quốc gia. Tinh thần ấy là lời phán xét của lịch sử nhân
loại dành cho các quốc gia riêng lẻ và hữu hạn, “bởi lịch sử là toà án công
lý tối cao của thế giới”
9. Chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx
Karl Marx(9) là vị triết gia vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản,
người đứng đầu trong bộ ba danh nhân: Marx-Engels-Lenin. Tác phẩm mang tính
đại chúng nhất của ông là Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (The Manifesto
of the Communist Party) trong đó có phần góp của Friedrich Engels. Tác
phẩm bất hủ mang tính kinh viện của ông là bộ Tư bản (Das Kapital).
Hầu hết những nguyên lý chủ yếu của cộng sản được đề cập bên dưới đây đều
thuộc về tư tưởng của Marx (Engels nhìn nhận vai trò chủ đạo của Marx đối với
“những đứa con tinh thần ” chung của hai người)
Chủ nghĩa cộng sản
- Định nghĩa: Trái ngược với những giả định mang thành kiến sai lầm, cho
chủ nghĩa cộng sản, về bản chất, là bộ môn triết học cổ xuý cho “việc công
hữu hoá các phương tiện sản xuất” Không cá nhân nào (hay nhóm người nào) được
độc quyền chiếm hữu tài sản, ngoại trừ những vật dụng thuộc về nhu cầu cá
nhân, bởi lẽ tài sản vốn thuộc về cộng đồng (toàn thể nhân dân ) Một khi tài
sản bị tư hữu, “tình trạng người bóc lột người” tất xảy ra.
Học thuyết giá trị lao động
Giá trị hàng hoá mang tính đặc trưng cho giờ công lao động mà con người đã bỏ
ra trong quá trình tạo ra sản phẩm. Số lượng giờ công nhân càng lớn, giá
thành của sản phẩm càng cao. “Chúng ta thấy rằng yếu tố quyết định quy mô
giá trị của bất kỳ món hàng nào chính là lượng công sức cần thiết mà xã hội
đã bỏ ra…. Vì thế, giá trị của một món hàng hoá sẽ không đổi nếu thời gian
lao động dành cho quá trình sản xuất nó ra cũng giữ nguyên không đổi”(9)
Tuy nhiên, một món hàng vô dụng, bất kể thời gian lao động mà người ta dành
ra để tạo ra nó, sẽ không đáng một giá nào cả; bởi lẽ nếu không có giá trị sử
dụng, một món hàng sẽ trở thành vô giá trị.
Xã hội không giai cấp
Theo Engels, học thuyết có giá trị bậc nhất của Marx là đấu tranh giai cấp
(Inherent Class War), vạch ra sự xung đột tất yếu giữa hai tầng lớp xã hội có
mâu thuẫn không thể dung hoà: giới chủ tư bản (giới tư sản – the
Bourgeoisie) và giới lao động (giới vô sản – the Proletariat).
Do lợi ích của hai giai cấp này đối kháng hoàn toàn và mâu thuẫn trực tiếp
với nhau, giải pháp duy nhất là loại trừ đi giai cấp tư sản – Tầng lớp không
cống hiến sức lao động cho xã hội, và vì thế họ là những kẻ ăn bám xã hội.
Trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, mọi người phải lao động và cống hiến sức lao
động của mình. “Mỗi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu” (From
each according to his abilities, to each accoding to his needs.)
Mặt khác, giới tư sản chịu trách nhiệm đối với một số tệ nạn trong xã hội
như: Họ đã bóc lột nhân công bằng cách trả lương ít hơn những gì mà công nhân
có quyền được hưởng. Họ đã đối xử với công nhân như một loại hàng hoá trên
thị trường, thu nhập của công nhân phụ thuộc vào sự trồi sụt thất thường của
thị trường, không được xét theo công sức lao động đã bỏ ra. Hơn nữa, họ còn
góp phần thương mại hoá hầu hết mọi nghề nghiệp, thậm chí cả một số giá trị
đạo đức (chẳng hạn như nạn gả bán trong hôn nhân).
Bằng cách loại trừ tầng lớp tư bản, xã hội sẽ an bình với sự tồn tại của
một giai cấp duy nhất. Đó là một xã hội không còn giai cấp, được cấu thành
bởi những người cống hiến sức lao động chân tay và hoạt động sáng tạo trí óc
của họ.
Chuyên chính vô sản
Trong một xã hội như thế, giới vô sản (công nhân), giai cấp duy nhất còn
lại, sẽ đảm nhận mọi trách nhiệm trong xã hội, không chỉ giới hạn trong lãnh
vực lao động và quản lý lao động, mà cả trong lãnh vực tổ chức và quản lý
chính quyền. Xét đến phần đóng góp của giai cấp vô sản cho quốc gia, chỉ có
họ mới được quyền thống trị. Vì thế, chính thể của họ phải là chế độ chuyên
chính vô sản (Dictatoship of the Proletariat). Họ, những người vô
sản, sẽ tự làm chủ vận mệnh đời mình. Và khi thời điểm chín muồi, khi quốc
gia không còn cần thiết trong một thế giới chỉ bao gồm những người vô sản,
con người sẽ có được một xã hội đại đồng, không còn ranh giới giữa các quốc
gia. (Quan điểm về một thế giới đại đồng đã từng là đề tài tranh luận của
nhiều nhà tư tưởng Mác- xit quốc tế)
Thuyết bạo lực cách mạng
Trong quá trình đấu tranh giai cấp, tầng lớp thống trị không dễ dàng tự
nguyện rời bỏ sự giàu có, vốn tư bản và quyền lực của họ. Vì thế giai cấp vô
sản sẽ phải dùng đến vũ lực, thậm chí là bạo lực cách mạng khi cần thiết. Bởi
lẽ tài sản và quyền lực ấy thuộc về quyền lợi chính đáng của giai cấp lao
động, giới vô sản có đủ lý lẽ để giành lại bằng vũ lực “Những người cộng
sản… công khai tuyên bố rằng các mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng
cách dùng vũ lực lật đổ mọi ách thống trị hiện hành. Hãy để các tầng lớp
thống trị run rẩy trước một cuộc cách mạng của những người cộng sản…Hỡi những
người lao động trên toàn thế giới, hãy đoàn kết lại!” Bản tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản kết thúc với những lời lẽ hùng hồn như thế.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Mọi hàng hoá đều là vật chất, và hàng hoá vật chất là nguồn gốc của quyền
lực. Kiểm soát được vốn sản suất là kiểm soát được tất cả. Vì thế, nhất thiết
nhà nước phải tập trung kiểm soát mọi phương tiện sản xuất. “Lịch sử tư
tưởng của nhân loại chứng minh điều gì khác hơn là khả năng tạo ra các thành
quả trí tuệ thay đổi theo tỷ lệ so với sự thay đổi về khả năng sản xuất ra
các thành quả vật chất? Ý tưởng thống trị của mỗi thời đại mãi là ý tưởng của
giai cấp thống trị.”
Kinh tế quyết định luận
Kinh tế quyết định luận ( Economic Determinism) là học thuyết cho
rằng dòng lịch sử nhân loại được quyết định bởi các thời kỳ phát triển kinh
tế, cuối cùng hướng mọi quốc gia tiến đến chủ nghĩa xã hội của những người
cộng sản (Communitic Socialism). Đó là hệ quả tất yếu. Cho dù các
quốc gia có định hướng đi đến mục đích ấy hay không, chủ nghĩa cộng sản vẫn
sẽ phát triển từ tất cả mọi hệ thống xã hội hiện hành, bởi lẽ mỗi xã hội đều
mang trong mình “những mầm mống băng hoại của chính nó”. Theo những người
cộng sản, một cuộc cách mạng chưa dẫn đến thành công bởi vì “thời cơ của nó
chưa chín muồi”.
Các biện pháp cải cách xã hội
Bản tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nêu ra 10 biện pháp cải cách xã hội, được
tóm tắt dưới đây như sau:
1. Xoá bỏ mọi hình thức tư hữu đất đai. Sử dụng đất đai cho mục đích công
cộng.
2. Áp dụng mức thuế thu nhập có tính luỹ tiến.
3. Xoá bỏ mọi quyền thừa kế.
4. Tịch thu tài sản của tất cả bọn phản cách mạng và những kẻ đào tẩu khỏi
đất nước.
5. Tập trung quản lý tiền tệ bằng bộ máy Ngân hàng nhà nước, hoạt động với
vốn nhà nước và cơ chế độc quyền.
6. Tập trung quyền quản lý các phương tiện thông tin và giao thông trong tay
nhà nước.
7. Phát huy quyền làm chủ của nhà nước đối với cá xí nghiệp và cơ xưởng sản
xuất; tập trung quản lý việc khai thác đất hoang, cải tạo đất trồng theo quy
hoạch chung.
8. Xác lập quyền bình đẳng của mọi người đối với nghĩa vụ lao động. Đầu tư
phát triển công nghiệp, đặc biệt dành cho sản xuất nông nghiệp.
9. Kết hợp phát triển nông nghiệp với các nghành công nghiệp chế biến; dần
dần tiến đến xoá bỏ sự cách biệt giữa thành thị và thôn quê bằng các biện
pháp điều phối dân cư.
10. Thực hiện giáo dục miễn phí cho mọi trẻ em tại các trường học công lập.
Xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em hiện hành. Kết hợp giáo dục với trình độ
sản xuất công nghiệp.
Ghi chú:
(1) Plato (429-347 trước CN ): Nhà triết học Duy tâm cổ Hy Lạp,
học trò của Socrates và là thầy của Aristotle. Ông là người sáng lập ra Chủ
nghĩa duy tâm khách quan, xem “ý niệm ” và vĩnh cửu và không phụ thuộc vào
không gian cũng như thời gian. Theo “Sổ tay danh nhân thế giới” của
Nhà xuất bản Thanh Niên; năm 1999 – khoảng 387 trước CN, Plato lập Viện hàn
lâm tại Athens (có thể được xem là trường đại học tổng hợp đầu tiên của châu
Âu) và lãnh đạo học viện ấy cho đến khi qua đời. Tác phẩm của ông gồm 65 tập,
phần lớn là các bài đối thoại triết học, trong số đó, có Symposium
(về Tình yêu), Phaedo (ghi lại những lời giảng của Socrates về linh
hồn bất diệt), Chế độ cộng hoà (về nhà nước lý tưởng), Không
tưởng, Theaetetus (về bản chất tri thức) và Timaeus (
về bản chất của thế giới vật chất). (ND)
(2) Senate: Thượng viện của quốc hội lập pháp ở một quốc gia như
Pháp, Mỹ và Úc. Vào thời La Mã cổ đại, Senate là hội đồng nhà nước tối cao,
được gọi là viện nguyên lão.
(3) Người dịch không tìm được thuật ngữ Việt Nam tương ứng với
thuật ngữ này. Căn cứ vào khái niệm được trình bày ở trên, người dịch xin đề
xuất được sử dụng cụm từ “Chính thể hùng bá.” (ND)
(4)Aristotle (384-322 trước CN ): Nhà triết học cổ đại Hy Lạp,
học giả bách khoa, học trò của Plato và gia sư của Alexander Đại đế. Karl
Marx gọi ông là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại. Ông là nhà duy tâm
khách quan, tiến sát đến chủ nghĩa duy vật. Năm 335 trước Công Nguyên, ông mở
trường và thư viện (the Lyceum) tựa Athens. Các tác phẩm còn sót lại
của ông, dưới dạng các bài thuyết giảng, tập hợp thành một hệ thống phân tích
luận bao gồm nhiều lãnh vực: sinh học, vật lý, tâm lý, luận lý, chính trị,
đạo đức, siêu hình, thi ca và hùng biện. Vào thời Trung Cổ, các tác phẩm ấy
đã trở thành cơ sở nền tảng của ngành triết học kinh viện. (ND)
(5) Saint Thomas Aquinas (1225-1274): Triết gia và nhà thần học
người Ý thời Trung Cổ. Năm 1243, ngài gia nhập dòng tu Thánh Đa Minh, Ngài có
công luận giải các công trình Aristotle, Thánh Kinh và các công trình triết
học, thần học khác. Nhờ công sức của ngài , tư tưởng của Aristotle đã được
chấp nhận trong công đồng Thiên Chúa Giáo Tây Âu. Ngài phân định sự khác biệt
giữa đối tượng nằm trong phạm vi khai phá bới lý trí của con người và những
gì chỉ có thể phát lộ nhờ thiên khải. Những lập luận của ngài về vấn đề sự
tồn tại của Thượng đế vẫn có ảnh hưởng cho đến ngày này. Ngài được liệt vào
hàng Thánh năm 1323, được phong làm Tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1567 và được
chính thức công nhận là vị thánh bảo hộ của các trường công giáo vào năm
1880. (ND)
(6) Niccolo Machiavelli (1469-1527): văn sĩ, chính trị gia Ý thời
Phục Hưng. Năm 29 tuổi, ông giữ chức thủ tướng, nắm trọn quyền điều khiển bộ
máy nhà nước cộng hoà Florence (thời kỳ nước Ý bị chia sẻ vì sự tranh giành
của các nước láng giềng). Năm 1952, dòng họ Médicis tái chiếm quyền lực, cách
chức và giam cầm ông. Sau khi tự do, ông chuyên tâm nghiên cứu và sáng tác,
để lại một số truyện ngắn, hài kịch và nhiều chuyên luận chính trị, quân sự,
lịch sử. Về quan niệm, ông không chấp nhận mọi yếu tố siêu nhiên, định mệnh
và may rủi; tất cả điều đó ý chí, tâm hồn và hành động của con người quyết
định. Đó là tính cách nhất quán của chính trị gia Machiavelli và nghệ sĩ
Machiavelli, con người mang đầy khát vọng xây dựng một nước Ý thống nhất, tự
do, bình đẳng và một chính quyền vững mạnh và trật tự xã hội ổn định. (Theo Sổ
tay danh nhân thế giới, Nhà xuất bản hanh niên, 1999) (ND)
(7) Thomas Hobbes (1588 – 1679): Triết gia Anh, người phát triển
một hệ thống học thuyết có liên quan đến bản chất của con người và xã hội.
Ông tin rằng về cơ bản, mọi động cơ của con người là ích kỷ; vì thế phương
cách duy nhất để duy trì sự ổn định của xã hội là xây dựng một thể chế xã hội
vững mạnh đặt dưới sự điều hành của một nhà cai trị toàn quyền. Tác phẩm
“Levithan thực hiện” của ông thể hiện rõ quan điểm nói trên. (ND)
(8) Georg Wihelm Friedrich Hegel ( 1770 – 1831 ): Nhà triết học
duy tâm khách quan, đại diện cho nền triết học cổ điển Đức, cha đẻ của phép
biện chứng. Các tác phẩm của ông bao gồm: Hiện tượng luận tinh thần
(1807), Cơ sở triết học (1811), Khoa học logíc (3 tập, 1812 – 1816 ), Khoa
học triết học (1817), Triết học pháp quyền (1821 ). Sau khi ông mất, môn
đệ của ông cho xuất bản những bài giảng của ông về lịch sử triết học (1833
– 36), Mỹ học (1836 ) và Triết học lịch sử (1837), Triết học duy tâm khách
quan ( tuyệt đối ) của ông có ảnh hưởng lớn đến nhiều nhà tư tưởng về
sau (Theo Sổ tay danh nhân thế giới, Nhà xuất bản Thanh Niên ). (ND)
(9)Karl Henrich Marx (1818 – 1883 )
: Triết gia chính trị và kinh tế Đức (nước Phổ). Ông phát hiện ra những
quy luật chi phối sự phát triển của xã hội với lý thuyết được xem là “sự giải
thích lịch sử theo khía cạnh kinh tế”. Là người sáng lập và là linh hồn của
Quốc tế thứ nhất, ông cùng với Engels sáng lập phong trào xã hội chủ nghĩa
hiện đại, đoàn kết tập hợp quần chúng lao động đấu tranh vì quyền lợi chung.
Ông cùng Engels biên soạn các tác phẩm: Gia đình thần thánh (1845), Hệ tư
tưởng Đức (1845 – 46), Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản (1848). Ngoài ra ông còn
viết các tác phẩm lớn như: Ngày 18 Tháng Sương Mù của Louis Bonaparte
(1851 – 52 ), Phê phán kinh tế chính trị học (1859), Nội chiến pháp (1871 ),
Phê phán cương lĩnh Gotha (1857) và đặc biệt là bộ Tư Bản qồm 3
quyển (867, 1885, 1894 do Engels hoàn chỉnh quyển II và III).
|