Từ ngữ và Luật pháp
Bài viết này bàn về một số thuật ngữ trong pháp luật kinh doanh dựa vào ý kiến của một số chuyên gia, luật sư tại các hội thảo liên quan do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện.
Về thuật ngữ “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”
Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành
lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do
nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”.
Theo đó, có thể hiểu chỉ cần có 1% vốn nước ngoài cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Cách hiểu như vậy có lẽ chỉ gây rắc rối với những
doanh nghiệp kinh doanh có ngành nghề trong danh mục hạn chế nhà đầu tư
nước ngoài (NĐTNN) như trường hợp Mekophar (vốn nước ngoài chiếm gần
5%). Tuy nhiên, nó lại là một cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước
khác khi Nhà nước đã bảo hộ họ khỏi những đối thủ nước ngoài.
Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển cho
rằng: “Doanh nghiệp tham gia phân phối dược phẩm lẽ ra không được niêm
yết. Nếu cho niêm yết, phải có chính sách riêng về room ngoại”. Như vậy,
không chỉ doanh nghiệp niêm yết mà cả doanh nghiệp chưa niêm yết cũng
phải cân nhắc khi cho NĐTNN góp vốn, mua cổ phần. Giải pháp đưa ra là
Nhà nước có thể mở room cho NĐTNN vào những doanh nghiệp này nhưng mức
tỷ lệ chắc chắn phải thấp hơn rất nhiều mức 49% như một số ý kiến đề
xuất, vì thực tế với tỷ lệ này NĐTNN hoàn toàn có thể thông qua nhiều
cách thức khác nhau để chi phối doanh nghiệp, chi phối thị trường.
Một vấn đề khác liên quan đến vốn đầu tư nước ngoài
là quy định về đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Trong Luật Đầu tư
thì hình thức góp vốn, mua cổ phần có thể là đầu tư trực tiếp hay gián
tiếp tùy thuộc vào việc nhà đầu tư có tham gia quản lý doanh nghiệp hay
không. Trong khi đó, NĐTNN đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng
khoán (Luật Chứng khoán điều chỉnh) hoàn toàn có quyền tham gia quản lý
doanh nghiệp, việc có tham gia quản lý hay không phụ thuộc vào tỷ lệ góp
vốn. Do đó, phân biệt đầu tư trực tiếp và gián tiếp thông qua quyền
tham gia quản lý là không chính xác và luật cũng không giải thích rõ thế
nào là tham gia quản lý?
Vì sự lẫn lộn này nên có ý kiến yêu cầu áp dụng
luật ưu tiên là Luật Chứng khoán thay vì áp dụng Luật Doanh nghiệp và
Luật Đầu tư cho trường hợp của Mekophar với lý do Mekophar đã lên sàn
nên NĐTNN được nắm giữ đến 49% vốn điều lệ. Như vậy nên bỏ quy định hình
thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp như khuyến nghị của ban soạn thảo.
Thuật ngữ “người đại diện theo ủy quyền”
Điều 4.14 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Người
đại diện theo ủy quyền là cá nhân được thành viên, cổ đông là tổ chức
của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ủy quyền bằng văn bản
thực hiện các quyền của mình tại công ty theo quy định của luật này”.
Quy định như vậy có nghĩa “cổ đông là cá nhân trong công ty cổ phần
không được phép ủy quyền cho người khác”.
Để tham gia quản lý doanh nghiệp có vốn góp thì tổ
chức phải thông qua cá nhân cụ thể đại diện cho phần vốn góp đó, việc ủy
quyền đó phải thông qua những tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể nhằm đảm
bảo minh bạch. Tuy nhiên, trong phần quy định về công ty cổ phần thì
không quy định cụ thể về người đại diện theo ủy quyền. Vì việc cử người
đại diện của công ty cổ phần sẽ rắc rối hơn do phải tham gia vào quá
trình bầu, miễn nhiệm thành viên hội đồng quản trị thông qua đại hội
đồng cổ đông, do đó, tổ chức có bị hạn chế quyền thay thế, rút người đại
diện của mình trong hội đồng quản trị hay không thì Luật Doanh nghiệp
2005 không đề cập.
Thuật ngữ “doanh nghiệp nhà nước”
Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Doanh nghiệp nhà
nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Xác
định như vậy là chưa hợp lý. Như vậy doanh nghiệp mà Nhà nước nắm 49%
vốn thì gọi là doanh nghiệp gì? Hơn nữa, dù là doanh nghiệp nhà nước
nhưng Nhà nước cũng không thể thông qua các quyết định quan trọng nếu
không nắm giữ trên 75% vốn điều lệ, và nếu kết hợp giữa Luật Doanh
nghiệp và Luật Đầu tư thì chúng ta sẽ có thêm khái niệm mới là “doanh
nghiệp nhà nước có vốn đầu tư nước ngoài”!? Mặt khác, quy định này cũng
bất công với nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài khi góp vốn cùng Nhà nước
nhưng lại bị hiểu là “doanh nghiệp của nhà nước”!?
Để hiểu đúng về hai khái niệm “doanh nghiệp nhà nước”
và “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” cần nhận thức trên cơ sở các
thành phần kinh tế trong nền kinh tế nước ta. “Doanh nghiệp nhà nước”
không phải là một loại hình doanh nghiệp mà là khái niệm liên quan hình
thức sở hữu, doanh nghiệp nhà nước thuộc thành phần kinh tế nhà nước,
tức Nhà nước nắm 100% vốn. Các hình thức sở hữu hỗn hợp có thể là thành
phần kinh tế tư bản tư nhân (vốn hỗn hợp giữa nước ngoài và tư nhân)
hoặc là thành phần kinh tế tư bản nhà nước (vốn hỗn hợp giữa nước ngoài
và nhà nước). Thực tế, hai khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” và “doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” được quy định rất mờ nhạt trong Luật
Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.
Thuật ngữ hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn
Luật Thương mại 2005 quy định hợp đồng qua sở giao
dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn. Nhưng
thông lệ quốc tế phân biệt cụ thể hơn: hợp đồng tương lai (Futures
Contract), hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) và hợp đồng quyền chọn
(Option Contract). Hợp đồng tương lai được thỏa thuận và mua bán thông
qua người môi giới, được mua bán trên thị trường tập trung và được tính
hàng ngày theo giá thị trường. Hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận trực tiếp
giữa hai bên giao dịch, trên thị trường phi tập trung và được thanh
toán vào ngày đáo hạn.
Thống kê của thế giới chỉ 1-5% số hợp đồng tương lai
trên thị trường thực sự được giao dịch (diễn ra việc giao hàng giữa các
bên), còn lại hầu như chỉ diễn ra sự thanh toán lãi lỗ giữa các bên.
Ngược lại, hầu hết mọi hợp đồng kỳ hạn đều diễn ra việc giao hàng thực
sự giữa các bên.
Theo giải thích của Luật Thương mại 2005 thì hợp đồng
kỳ hạn là thỏa thuận giữa bên mua và bên bán nhưng lại được thực hiện
qua sở giao dịch hàng hóa, khái niệm này là sự kết hợp lẫn lộn giữa hai
hợp đồng phổ biến theo thông lệ quốc tế. Luật Thương mại 2005 không có
quy định về hợp đồng tương lai, chỉ có hợp đồng quyền chọn nhưng quy
định về hợp đồng quyền chọn còn rất thiếu và chưa nêu rõ bản chất của
loại hợp đồng này. Mục đích của hợp đồng quyền chọn là ngăn ngừa rủi ro
và kinh doanh chênh lệch giá, do vậy, nó hoặc là một phần của hợp đồng
tương lai hoặc là một công cụ tài chính phái sinh, cần bổ sung quy định
chặt chẽ và đúng bản chất của loại hợp đồng này.
Thực tế, quy định Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam
(VNX) về các loại hợp đồng (quy chế giao dịch hàng hóa theo phương thức
báo giá, ban hành kèm theo Quyết định số 53/2011/QĐ-VNX ngày 28-10-2011)
đã bổ sung thêm định nghĩa hợp đồng tương lai, một loại hợp đồng không
có trong Luật Thương mại 2005!
Thị trường giao dịch hàng hóa thông qua các sở giao
dịch sẽ ngày càng phát triển ở nước ta, những quy định chặt chẽ sẽ đảm
bảo hạn chế những rắc rối phát sinh trong quá trình vận hành thị trường
này. Vì vậy, người viết thống nhất với ý kiến của ban soạn thảo đề nghị
sửa khái niệm hợp đồng kỳ hạn thành hợp đồng tương lai để phù hợp với
thông lệ quốc tế và bổ sung các quy định về hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng
quyền chọn.
SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN - CHU MẠNH QUÂN
Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/67956/Tu-ngu-va-luat-phap.html
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật: