Tư vấn thủ tục đăng ký khai tử ?
Thông báo với chính quyền địa phương khi có người thân qua đời là một thủ tục hành chính pháp lý, gọi là “đăng ký khai tử”. Việc đăng ký (giấy) khai sinh, (giấy) chứng tử, ...vv - gọi chung là “đăng ký hộ tịch”. Nghị định 158/2005 qui định về việc đăng ký và quản lý hộ tịch.
Luật sư TRẦN HỒNG PHONG giới thiệu
Các vấn đề cơ bản về Hộ tịch và đăng ký hộ tịch
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người
từ khi sinh ra đến khi chết.
Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm những công
việc/thủ tục sau:
a) Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận
cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại
giới tính; xác định lại dân tộc;
b) Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ
tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết
hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.
Riêng việc đăng ký kết hôn; nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng
7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn
nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Mọi công dân đều có quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch.
Về nguyên tắc, mọi sự kiện hộ tịch (nói trên) đều phải được đăng ký đầy đủ,
kịp thời, chính xác.
Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một nơi theo đúng thẩm quyền của
pháp luật. Ví dụ minh họa: một người không thể đăng ký làm Giấy khai sinh ở hai
nơi.
Giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch
Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy
định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá
nhân đó.
Ví dụ: Giấy chứng tử là căn cứ pháp lý (bằng chứng) để xác định một người đã
chết.
Giấy tờ hộ tịch do cơ quan đại điện Ngoại giao, cơ quan Lãnh sự của Việt Nam
ở nước ngoài cấp có giá trị như giấy tờ hộ tịch được cấp ở trong nước.
Nơi có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký hộ tịch
Thông thường, thẩm quyền đăng ký hộ tịch được xác định theo nơi cư trú. Cụ
thể như sau:
- Đối với công dân Việt Nam ở trong nước: việc đăng ký hộ tịch được thực
hiện tại nơi người đó có hộ khẩu thường trú; nếu không có nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký
tạm trú. Cụ thể là UBND xã/phường thực hiện.
- Đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, việc đăng ký hộ tịch được
thực hiện tại nơi người đó đăng ký thường trú; nếu không có nơi đăng ký thường
trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú.
Việc đăng ký hộ tịch (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký việc nuôi con
nuôi, đăng ký giám hộ, đăng ký việc nhận cha, mẹ, con) có thể ủy quyền cho
người khác làm thay. Việc ủy quyền phải lập thành văn bản và phải được công
chứng hoặc chứng thực hợp lệ. Nếu người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con,
vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền, thì không cần phải có văn bản
ủy quyền.
---------------------------------------------------
ĐĂNG KÝ KHAI TỬ
Phải khai tử trong vòng 15 ngày kể từ ngày chết
Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện
việc đăng ký khai tử.
Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết,
thì UBND cấp xã, nơi người đó chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
Thời hạn đi khai tử là 15 ngày, kể từ ngày chết: Theo đó, trong vòng 15 ngày
sau khi có người chết, thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu
người chết không có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ
quan, đơn vị tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai
tử.
Giấy báo tử
Giấy báo tử là một văn bản pháp lý được ban hành theo qui định như sau:
- Giấy báo tử phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người chết; giờ, ngày, tháng,
năm chết; địa điểm chết và nguyên nhân chết.
- Thẩm quyền cấp Giấy báo tử:
a) Đối với người chết tại bệnh viện hoặc tại cơ sở y tế, thì Giám đốc bệnh
viện hoặc người phụ trách cơ sở y tế đó cấp Giấy báo tử;
b) Đối với người cư trú ở một nơi, nhưng chết ở một nơi khác, ngoài cơ sở y
tế, thì UBND cấp xã, nơi người đó chết cấp Giấy báo tử;
c) Đối với người chết là quân nhân tại ngũ, công chức quốc phòng, quân nhân
dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng
chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được tập trung làm nhiệm vụ quân sự
do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý, thì thủ trưởng đơn vị đó cấp Giấy báo
tử.
d) Đối với người chết trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giam hoặc tại
nơi tạm giữ, thì Thủ trưởng cơ quan nơi giam, giữ người đó cấp Giấy báo tử
đ) Đối với người chết tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục do ngành Công an
quản lý, thì Thủ trưởng các cơ quan đó cấp Giấy báo tử;
e) Đối với người chết do thi hành án tử hình, thì Chủ tịch Hội đồng thi hành
án tử hình cấp Giấy báo tử.
g) Trường hợp một người bị Toà án tuyên bố là đã chết, thì quyết định của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật thay cho Gìấy báo tử;
h) Trường hợp người chết có nghi vấn, thì văn bản xác định nguyên nhân chết
của cơ quan công an hoặc của cơ quan y tế cấp huyện trở lên thay cho Giấy báo
tử;
i) Đối với người chết trên phương tiện giao thông, thì người chỉ huy hoặc
điều khiển phương tiện giao thông phải lập biên bản xác nhận việc chết, có chữ
ký của ít nhất hai người cùng đi trên phương tiện giao thông đó. Biên bản xác
nhận việc chết thay cho Giấy báo tử;
k) Đối với người chết tại nhà ở nơi cư trú, thì văn bản xác nhận việc chết
của người làm chứng thay cho Giấy báo tử.
Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay cho Giấy báo tử quy định như trên được cấp cho
thân nhân người chết để đi khai tử. Trong trường hợp người chết không có thân
nhân, thì Giấy báo tử được gửi cho UBND cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai
tử để nơi đây đăng ký khai tử.
Thủ tục đăng ký khai tử
Người đi khai tử phải nộp giấy báo tử hoặc giấy tờ thay cho Giấy báo tử.
Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng
ký khai tử và Giấy chứng tử, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho
người đi khai tử một bản chính Giấy chứng tử. Bản sao Giấy chứng tử được cấp
theo yêu cầu của người đi khai tử.
Đăng ký khai sinh và khai tử cho trẻ chết sơ sinh
Trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký
khai sinh và đăng ký khai tử. Nếu cha, mẹ không đi khai sinh và khai tử, thì
cán bộ tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và
Sổ đăng ký khai tử. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký
khai tử phải ghi rõ “Trẻ chết sơ sinh”.
Đăng ký khai tử cho người bị Toà án tuyên bố là đã chết
Việc đăng ký khai tử cho người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được thực hiện
khi quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Người yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải thực hiện việc đăng
ký khai tử.
Trong trường hợp một người bị Toà án tuyên bố là đã chết, đã đăng ký khai
tử, nhưng sau đó còn sống trở về, được Toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố chết,
thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai tử căn cứ vào quyết định của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật, xoá tên người đó trong Sổ đăng ký khai tử và
thu hồi lại Giấy chứng tử đã cấp.
Đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn
Việc sinh, tử chưa đăng ký trong thời hạn quy định tại Nghị định 158/2005
thì phải đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn.
UBND cấp xã nơi có thẩm quyền đăng ký khai tử như trên thực hiện việc đăng ký
khai tử quá hạn.
Về Thủ tục đăng ký khai tử quá hạn, xin vui lòng xem trong Danh mục cẩm nang
Ecolaw.
(Nguồn: Ecolaw.vn)