Vai trò của liên hiệp quốc trong việc duy trì hòa bình – An ninh thế giới
Ngày 12/06/1941 các nước đồng minh chống phát xít ký tại London bản tuyên bố khẳng định họ sẽ “cùng hợp tác với nhau và các dân tộc tự do khác, kể cả trong chiến tranh cũng như hòa bình”. Đây là bước đầu tiên trong hàng loạt nỗ lực nhằm dẫn đến việc thành lập Liên hợp quốc.
I. LƯỢC SỬ THÀNH LẬP LIÊN HỢP QUỐC
1. Về quá trình thành lập:
Quá trình thành lập tổ chức Liên hợp quốc trải
qua các giai đoạn chính sau:
Ngày 12/06/1941 các nước đồng minh chống phát xít
ký tại London
bản tuyên bố khẳng định họ sẽ “cùng hợp tác với nhau và các dân tộc tự do khác,
kể cả trong chiến tranh cũng như hòa bình”. Đây là bước đầu tiên trong hàng
loạt nỗ lực nhằm dẫn đến việc thành lập Liên hợp quốc.
Ngày 14/08/1941, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt
và thủ tướng Anh Winston Churchill đã ký văn kiện nêu ra các nguyên tắc hợp tác
quốc tế nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Văn kiện này về sau có tên
gọi là Hiến chương Đại Tây dương.
Ngày 1/1/1942 tại Washington, đại diện 26 nước đã
ký bản tuyên bố cam kết sử dụng mọi nguồn lực có thể có của mình để chống lại
khối trục Đức – Ý – Nhật và cam kết không ký thỏa ước riêng với các nước thuộc
khối này. Bản tuyên bố này lần đầu tiên sử dụng nhóm từ “các quốc gia liên hợp”
(United Nations) tức Liên hợp quốc do Tổng thống F. Roosevelt đề xướng.
Ngày 30/10/1943, Chính phủ Liên xô, Anh, Mỹ,
Trung Hoa dân quốc ký tại Moscow bản tuyên bố kêu gọi sớm thành lập một tổ chức
quốc tế với chức năng duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Quyết định này đã
được khẳng định một lần nữa tại hội nghị cấp cao giữa nguyên thủ quốc gia ba
nước Liên Xô, Anh và Mỹ tại Teheran ngày 1/12/1943.
Hội nghị các đại diện của Liên Xô, Anh và Mỹ họp
tại lâu đài Dumbarton Oaks ở Washington D.C từ ngày 21/09/1944 đến ngày
07/10/1944 đã soạn thảo những đề xuất sơ bộ về việc thành lập một tổ chức quốc
tế chung nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Về cơ bản đây là nền móng
của Hiến chương sau này. Tuy nhiên hội nghị chưa quyết định được một loạt vần
đề như thủ tục bỏ phiếu tại Hội đồng bảo an, quy chế của lãnh thổ quản thác,
quy chế của Tòa án quốc tế,…
Ngày 11/02/1945, tại hội nghị Yalta (Liên xô cũ)
giữa các nhà lãnh đạo các nước đồng minh, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt, thủ
tướng Anh Winston Churchill và nguyên soái Liên xô Stalin ra tuyên bố khẳng
định quyết tâm thành lập “một tổ chức quốc tế chung nhằm duy trì hòa bình và an
ninh thế giới”.
Ngày 25/04/1945, tại San Fransisco, đại biểu của
50 nước đã tham dự cuộc họp quan trọng có tên là Hội nghị các quốc gia liên
hiệp về các tổ chức quốc tế (United Nations Conference on International
Organizations). Các nước đã soạn thảo một văn bản Hiến chương gồm 111 điều
khoản và được ký ngày 26/6/1945. Hiến chương bắt đầu có hiệu lực từ ngày
24/10/1945 và từ đó cả thế giới lấy ngày này kỷ niệm ngày thành lập Liên hợp
quốc.
2. Về trụ sở của Liên hợp quốc:
Trụ sở Liên hợp quốc cao 39 tầng phía đông hòn
đảo Manhattan, NewYork, Mỹ trên một thửa đất rộng 18 mẫu Anh. Tại phiên họp đầu
tiên của Đại hội đồng tại London ngày 14/02/1946, các thành viên Liên hợp quốc
đã chấp thuận chọn New York làm trụ sở trong số các thành phố New York,
Philadelphia, Boston và San Fransisco do lời cam kết của tỷ phú Mỹ Rockefeller
tặng 8,5 triệu USD để mua mảnh đất nói trên. Ngày 21/11/1947 Đại hội đồng Liên
hợp quốc thông qua kế hoạch xây trụ sở với kinh phí 65 triệu USD và đến ngày
21/08/1950 những nhân viên đầu tiên của Ban thư ký đã đến làm việc tại trụ sở
mới. Khóa họp đầu tiên (khóa VII) c��a Đại hội đồng Liên hợp quốc tại trụ sở mới
vào ngày 14/10/1952. Phòng lớn nhất của trụ sở là phòng họp của Đại hội đồng
chiếm 3 tầng 2, 3 và 4 với chiều dài 50m, rộng 35m có 1092 chỗ ngồi chính thức,
476 chỗ dành cho các đại biểu dự khuyết, đại diện các cơ quan chuyên môn, 187
chỗ dành cho đại diện các đoàn thể quần chúng tham gia một số phiên họp đặc
biệt của Đại hội đồng. Hiện nay, Liên hợp quốc có khoảng 17.000 nhân viên,
trong đó 7.075 người làm việc tại trụ sở Liên hợp quốc.
II.
MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ THÀNH VIÊN CỦA LIÊN HỢP QUỐC
1.
Mục đích hoạt động của Liên hợp quốc:
Liên hợp quốc được thành lập nhằm mục đích:
- Duy trì hòa bình và an ninh thế giới và để đạt
được mục đích đó, thi hành các biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và
loại trừ mối đe dọa hòa bình, cấm mọi hành vi xâm lược hoặc phá hoại hòa bình
khác, điều chỉnh hoặc giải quyết bằng phương pháp hòa bình các tranh chấp quốc
tế theo đúng các nguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế.
Phát triển những quan hệ hữu nghị giữa các nước
trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, các dân tộc tự quyết và dùng tất cả
những biện pháp thích hợp khác để củng cố hòa bình thế giới.
- Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải
quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và nhân đạo
trong việc khuyến khích phát triển và sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự
do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ
hoặc tôn giáo.
- Trở thành trung tâm phối hợp mọi hành động của
các dân tộc nhằm đạt được những mục đích nêu trên.1
2.
Nguyên tắc hoạt động của Liên hợp quốc:
Liên hợp quốc hoạt động theo những nguyên tắc
sau:
- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của tất cả
các nước thành viên.
- Nguyên tắc các nước thành viên Liên hợp quốc
phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ đã cam kết theo Hiến chương.
- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế
bằng biện pháp hòa bình, sao cho không tổn hại đến hòa bình, an ninh và công
lý.
- Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay sử dụng
vũ lực trong quan hệ quốc tế.
- Nguyên tắc các nước thành viên Liên hợp quốc
phải giúp đỡ đầy đủ Liên hợp quốc trong mọi hành động của Liên hợp quốc theo
đúng các điều quy định của Hiến chương này và không được giúp đỡ bất kỳ một
nước nào bị Liên hợp quốc áp dụng một hành động phòng ngừa hoặc cưỡng chế.
- Nguyên tắc đảm bảo để các nước không phải là
thành viên Liên hợp quốc cũng hành động theo các nguyên tắc này vì nó cần thiết
để duy trì hòa bình và an ninh thế giới.
- Nguyên tắc không cho phép Liên hợp quốc can
thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào.2
3.
Thành viên của Liên hợp quốc
Hiến chương Liên hợp quốc quy định muốn trở thành
thành viên của Liên hợp quốc thì các quốc gia phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
thứ nhất phải là quốc gia yêu chuộng hòa bình (peace-loving states) và thừa
nhận những nghĩa vụ ghi trong Hiến chương; thứ hai, phải được Liên hợp quốc xét
có đủ khả năng và tự nguyện làm tròn những nghĩa vụ đó.3
Hiến chương còn quy định việc kết nạp bất kỳ một
quốc gia nào vào Liên hợp quốc sẽ được tiến hành bằng nghị quyết của Đại hội
đồng, theo đề nghị của Hội đồng bảo an.4
III. CÁC CƠ QUAN CỦA LIÊN HỢP QUỐC
1.
Các cơ quan chủ yếu của Liên hợp quốc (Primary organs of United Nations):
Liên hợp quốc có 6 cơ quan chủ yếu là: Đại hội
đồng, bao gồm tất cả các quốc gia thành viên, ba cơ quan có chức năng chuyên
môn đặc biệt và bao gồm số lượng nhất định các quốc gia thành viên (Hội đồng
bảo an, Hội đồng kinh tế và xã hội và Hội đồng quản thác), và hai cơ quan không
bao gồm các quốc gia thành viên mà thành viên là những cá nhân (Ban thư ký và
Tòa án quốc tế). Theo Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc
(United Nations Securiry Council) là cơ quan lãnh đạo chính trị thường trực của
Liên hợp quốc.
1.1. Hội đồng bảo an
a. Chức năng của Hội đồng bảo an
Hội đồng bảo an là cơ quan được các thành viên
Liên hợp quốc trao cho trách nhiệm trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế
giới.5 Các thành viên Liên hợp quốc thừa nhận rằng khi làm những nghĩa vụ do
trách nhiệm được giao thì Hội đồng bảo an hành động với tư cách thay mặt cho
các thành viên.6 Hòa bình (peace) được hiểu là trong quan hệ quốc tế không có
xung đột vũ trang. An ninh (security) được hiểu là không có xung đột mà có
khuynh hướng gây nên những xung đột vũ trang.
Hội đồng bảo an có quyền điều tra bất cứ vụ tranh
chấp hoặc tình thế nào mà có thể dẫn đến bất hòa giữa các quốc gia.7
Hội đồng bảo an có chức năng yêu cầu các bên
tranh chấp giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình.8 Phương
pháp hòa bình được Hiến chương Liên hợp quốc đề cập đến là đàm phán
(negotiation), điều tra (enquiry), trung gian (mediation), hòa giải
(conciliation), trọng tài (arbitration), bằng con đường tư pháp (judicial
settlement), bằng việc sử dụng những cơ quan hoặc những hiệp định khu vực, hoặc
bằng các biện pháp hòa bình khác do các bên lựa chọn.9
Hội đồng bảo an là cơ quan xác định sự đe dọa hòa
bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược và đưa ra những kiến nghị hoặc
quyết định những biện pháp để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh thế
giới10. Những biện pháp mà Hội đồng bảo an có quyền quyết định bao gồm: thứ
nhất, Hội đồng bảo an yêu cầu các thành viên áp dụng các biện pháp kinh tế và
các biện pháp khác (không bao gồm dùng vũ lực) như đình chỉ một phần hay toàn
bộ những quan hệ kinh tế, đường sắt, hàng hải, hàng không, bưu chính, điện tín,
vô tuyến điện và các phương tiện giao thông khác (cấm vận), cắt đứt quan hệ
ngoại giao để ngăn chặn hoặc chấm dứt hành động xâm lược11. Thứ hai, Hội đồng
bảo an thực hiện hành động quân sự đối với quốc gia có hành động xâm lược như
dùng các lực lượng hải, lục, không quân nếu xét thấy cần thiết cho việc duy trì
hoặc khôi phục hòa bình và an ninh thế giới. Hành động này còn bao gồm cả những
cuộc thị uy, những biện pháp phong tỏa và những cuộc hành binh khác, do các lực
lượng hải, lục, không quân của những thành viên Liên hợp quốc thực hiện12. Các
quốc gia thành viên có nghĩa vụ cung cấp cho Hội đồng bảo an những lực lượng vũ
trang, sự viện trợ và mọi phương tiện phục vụ khác kể cả việc cho quân đội Liên
hợp quốc qua lãnh thổ của mình khi cần thiết cho việc duy trì hòa bình và an
ninh thế giới13. Các quốc gia thành viên sẽ tổ chức một số phi đội không quân
của nước mình sẵn sàng chiến đấu nhằm phối hợp thực hiện một hành động quốc tế
có tính chất cưỡng chế14. Cơ quan giúp Hội đồng bảo an để chỉ huy lực lượng vũ
trang của Liên hợp quốc là Ban tham mưu quân đội gồm tham mưu trưởng các nước
ủy viên thường trực Hội đồng bảo an15.
Hội đồng bảo an là cơ quan đề nghị việc kết nạp
thành viên mới của Liên hợp quốc16 và đề nghị các điều kiện để các quốc gia có
thể trở thành thành viên của Qui chế Tòa án quốc tế.17
Hội đồng bảo an thực hiện chức năng bảo trợ của
Liên hợp quốc đối với các khu vực chiến lược (strategic areas).18
Hội đồng bảo an đề nghị Đại hội đồng bầu Tổng thư
ký Liên hợp quốc19 và cùng với Đại hội đồng bầu các thẩm phán của Tòa án quốc
tế.20
Hội đồng bảo an còn đóng một vai trò quan trọng
trong việc phát triển hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (UN
peacekeeping operations).
b. Thành phần của Hội đồng bảo an
Hội đồng bảo an gồm 15 ủy viên, trong đó có 5 ủy
viên thường trực (permanent members) là Anh, Pháp, Mỹ, CHND Trung Hoa21,
CHLB Nga22
và 10 ủy viên không thường trực (non-permanent members)23
được Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kỳ 2 năm. Khi bầu các ủy viên không thường
trực, Đại hội đồng phải đặc biệt tính đến sự đóng góp của thành viên Liên hợp
quốc vào việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới, vào các mục đích khác của
Liên hợp quốc cũng như lưu ý đến sự phân bố công bằng theo khu vực địa lý24.
Việc phân bố các ủy viên không thường trực được quy định như sau:
- Các nước Châu Á và Châu Phi : 5 ủy viên.
- Các nước Đông Âu : 1 ủy viên.
- Tây Âu và các nước khác25 : 2 ủy viên
- Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê : 2 ủy viên.
Chức vụ chủ tịch Hội đồng bảo an luân phiên hàng
tháng theo vần chữ cái tiếng Anh tên của các quốc gia thành viên.
Thành viên tham gia và chức chủ tịch Hội đồng bảo
an năm 2001 được qui định như sau:
Tháng Chủ tịch Thời điểm kết thúc nhiệm kỳ
01 Singapore 31/12/2002
02 Tunisia 31/12/2001
03 Ukraina 31/12/2001
04 Vương quốc Anh Ủy viên thường trực
05 Hoa Kỳ Ủy viên thường trực
06 Bangladesh 31/12/2001
07 CHND Trung hoa Ủy viên thường trực
08 Colombia 31/12/2002
09 Pháp Ủy viên thường trực
10 Ireland 31/12/2002
11 Jamaica 31/12/2001
12 Mali 31/12/2001
Mauritius
31/12/2002
Na uy 31/12/2002
CHLB Nga Ủy viên thường trực
c. Thủ tục bỏ phiếu tại Hội đồng bảo an
Mỗi ủy viên của Hội đồng bảo an có một lá
phiếu.26
Những quyết định về các vấn đề thủ tục
(procedural matters) được thông qua do phiếu thuận của 9/15 ủy viên của hội
đồng.27
Những quyết định về tất cả các vấn đề khác (all
other matters) phải được phiếu thuận của 9/15 ủy viên hội đồng trong đó có
phiếu thuận của tất cả các ủy viên thường trực Hội đồng bảo an28. Đây là qui
tắc “nhất trí của các nước lớn” (great Power unanimity) mà thường được gọi là
quyền phủ quyết (veto) của các ủy viên thường trực Hội đồng bảo an.
Như vậy Hiến chương qui định các ủy viên thường
trực Hội đồng bảo an có quyền phủ quyết những quyết định về tất cả các vấn đề
khác. Các vấn đề khác được hiểu là các vấn đề không mang tính thủ tục
(non-procedural matters). Vấn đề nào được coi là vấn đề mang tính thủ tục hay
không mang tính thủ tục thì không được qui định trong Hiến chương mà thường do
các ủy viên thường trực quyết định. Các vấn đề mang tính thủ tục là những vấn
đề được qui định từ điều 28-32 Hiến chương, những vấn đề về chương trình nghị
sự (agenda). Vấn đề không mang tính thủ tục thường là vấn đề về việc giải quyết
hòa bình các tranh chấp quốc tế, vấn đề dùng vũ lực. Tóm lại, trong trường hợp
biểu quyết thông qua các quyết định liên quan đến các vấn đề không mang tính
thủ tục thì chỉ cần một ủy viên thường trực bỏ phiếu chống thì quyết định đó
không được thông qua. Tuy nhiên trong thực tế, khi một ủy viên thường trực đưa
ra một vấn đề nào đó cần biểu quyết tại Hội đồng bảo an và coi đây là một các
vấn đề mang tính thủ tục nhưng (các) ủy viên thường trực khác bỏ phiếu phủ
quyết thì vấn đề này trở thành vấn đề không mang tính thủ tục và lúc đó (các)
ủy viên thường trực đó lại có quyền phủ quyết một lần nữa khi bỏ phiếu thông
qua theo qui định của điều 27(3). Trường hợp này gọi là phủ quyết hai lần
(double veto). Trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1945 –1992), việc sử dụng quyền
phủ quyết của các ủy viên thường trực như sau: Liên Xô: 114 lần, Mỹ: 69 lần,
Anh: 30 lần, Pháp:18 lần, Trung Quốc: 3 lần. Sau thời kỳ này, quyền phủ quyết
ít được sử dụng hoặc sử dụng một cách rất hạn chế. Quyền phủ quyết của ủy viên
thường trực Hội đồng bảo an không được sử dụng trong các trường hợp sau:
- Khi ủy viên thường trực là một bên tranh chấp
sẽ không bỏ phiếu trong việc giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình
trên cơ sở chương VI của Hiến chương.29
- Quyết định của Hội đồng bảo an về triệu tập hội
nghị toàn thể để xét lại Hiến chương.30
- Quyết định về bầu thẩm phán của Tòa án quốc
tế.31
Hiến chương Liên hợp quốc qui định tất cả các
quốc gia thành viên Liên hợp quốc đồng ý chấp thuận và thi hành quyết định của
Hội đồng bảo an Liên hợp quốc32. Trong khi các nghị quyết hoặc quyết định của
các cơ quan khác của Liên hợp quốc chỉ mang tính chất khuyến nghị đối với các
quốc gia thành viên thì Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất có quyền ban hành
các quyết định có giá trị bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên.
(còn tiếp)
1
Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc.
2
Điều 2, những nguyên tắc này còn được đề cập trong Nghị quyết số 2625 (XXV)
ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về các nguyên tắc cơ bản của
Luật Quốc tế.
3 – 20 Các điều 4 (1), 4 (2), … 97.
21
Điều 4 (1) Quy chế Tòa án quốc tế của Liên hợp quốc.
22
Kế thừa Liên Xô cũ từ ngày 17/01/1992.
23
Số lượng ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an tăng từ 6 lên 10 theo
nghị quyết của Đại hội đồng ngày 17/12/1963 có hiệu lực ngày 31/08/1965.
25 – 32 Các điều 23 (1)….
(sưu tầm)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn
:
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
LUẬT SUNLAW (SUN LAW FIRM)


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM
--------------------------------------------------------------------------------