Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Việt Nam
Nhãn hiệu hàng hóa là một tài sản trí tuệ quý giá, có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh, cạnh tranh và phát triển thị trường của một doanh nghiệp, dù doanh nghiệp đó thực hiện sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ. Theo thời gian, cùng với sự phát triển kinh doanh, uy tín của nhãn hiệu ngày càng được bồi đắp, dẫn đến giá trị của nó ngày càng tăng tiến, nhất là khi nhãn hiệu đã trở thành nhãn hiệu nổi tiếng và được đông đảo người tiêu dùng biết đến.
Một hệ quả tất yếu đối với các
nhãn hiệu nổi tiếng là sự thu hút khách hàng lớn hơn, thị phần cũng nhiều hơn
so với các nhãn hiệu không nổi tiếng khác, vì vậy, sự xâm phạm dù vô tình hay
hữu ý cũng nhiều và khốc liệt hơn. Do đó, vấn dể bảo hộ hữu hiệu nhãn hiêu nổi
tiếng và tạo cho chúng sự bảo hộ đặc biệt hơn đã trở thành mối quan tâm cũng
như đồng thuận của các quốc gia từ cuối thế kỷ XIX. Việt Nam là quốc gia đang
từng bước đi vào nền kinh tế thị trường và là thành viên của công ước Paris về
bảo hộ sở hữu công nghiệp và đang thực hiện các quy định của hiệp định TRIPS
nên có trách nhiệm phải thực hiện các cam kết về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng quy
định trong các điều ước quốc tế này.
Ta có thể thấy rằng, các dấu hiệu
muốn trở thành nhãn hiệu và được pháp luật bảo vệ phải đáp ứng được các tiêu
chuẩn bảo hộ. Các nước khác nhau quy định tiêu chuẩn bảo hộ khác nhau. Dù khác
nhau về chi tiết nhưng các tiêu chuẩn bảo hộ có thể được chia thành hai loại.
Tiêu chuẩn bảo hộ thứ nhất liên quan đến chức năng cơ bảo của nhãn hiệu nhằm
phân biệt hàng hoá, dịch vụ của nhà sản xuất này với hàng hoá, dịch vụ của nhà
sản xuất khác. Tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến tính ảnh hưởng của nhãn hiệu.
Những nhãn hiệu có tính lừa dối công chúng, hoặc xâm phạm đạo đức, trật tự công
cộng sẽ bị coi là những dấu hiệu loại trừ, những dấu hiệu không được bảo hộ là nhãn
hiệu. Điều 6 (quinquies) của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
quy định nhãn hiệu được bảo hộ theo điều 6 (quinquies) A có thể bị từ chối nếu
không có bất kì một đặc tính phân biệt nào hoặc trái với đạo đức hoặc trật tự
công cộng và cụ thể là có tính lừa dối công chúng.
Tuy cả trong bộ luật dân sự 1995
cũng như nghị định hướng dẫn không có những quy định cụ thể về nhãn hiệu nổi
tiếng nhưng có dành cho những nhãn hiệu loại này một sự bảo hộ bước đầu: không
chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá có các dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức
gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác được coi là nổi tiếng. Trong
thực tiễn, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (trước đây là cục Sở hữu Công nghiệp) đã
áp dụng điều khoản trên để từ chối bảo hộ các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự tới
mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng (cả trong trường hợp những nhãn hiệu
này chưa đăng kí bảo hộ tại Việt Nam). Năm 1992, Cục Sở hữu Công nghiệp đã bác
bỏ đơn đăng kí nhãn hiệu hàng hoá “McDonald’s” cho một công ty Australia
cho các sản phẩm đồ ăn nhanh, dịch vụ ăn uống và các nhóm sản phẩm khác. Sự ra
đời của bộ luật chuyên ngành SHTT năm 2005 đánh dấu bước tiến vô cùng quan
trọng của Việt Nam trong vấn đề bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp nói
chung và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng. Luật mới đưa ra một khái niệm
nhãn hiệu nổi tiếng chuẩn xác hơn cũng như các tiêu chí cụ thể để xác định nhãn
hiệu nổi tiếng. Ngoài ra, các nghị định hướng dẫn thi hành luật được ban hành
như nghị định 103,105 càng khẳng định vị trí và vai trò của nhãn hiệu nổi tiếng
không ngừng được chú trọng trong các văn bản pháp quy cũng như trong đời sống.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
trong Nghị định 06/2001/NĐ – CP ngày 01/02/2001 đã đưa ra quy định về nhãn hiệu
nổi tiếng: “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn
hiệu được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ uy tín khiến cho nhãn hiệu đó
được biết đến một cách rộng rãi.” Định nghĩa này đã bộc lộ một số bất cập
trong cách hiểu cũng như là trong quá trình áp dụng pháp luật và chỉ đến năm
2005 khi luật Sở hữu trí tuệ ra đời mới có những tiêu chí cụ thể rõ ràng để xác
định một nhãn hiệu là nổi tiếng. Theo như khái niệm trên, một nhãn hiệu nổi
tiếng phải đáp ứng được hai yếu tố là “được sử dụng liên tục” và “được biết đến
một cách rộng rãi”. Quy định như vậy là không rõ ràng. Thứ nhất, nếu “liên tục”
dưới góc độ thời gian là liên tiếp, kế tiếp mà không có sự gián đoạn thì một
nhãn hiệu phải được sủ dụng trong khoảng thời gian là 10 năm, 20 năm hay lâu
hơn mới đuợc coi là “liên tục”? Thứ hai, một nhãn hiệu như thế nào thì được coi
là có “uy tín” để được biết đến “rộng rãi” . Đối với sản phẩm hàng hóa, “uy
tín” được tạo nên bởi những yếu tố nào và nếu “được biết đến rộng rãi” là nói
tới số lượng người biết đến trong nước hay ngoài nước? Khắc phục những thiếu
sót này, Luật SHTT 2005 đã đưa ra khái niệm mới về nhãn hiệu nổi tiếng: “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người
tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” , cùng với các
tiêu chí cụ thể để xác định một nhãn hiệu là nổi tiếng được quy định tại điều
75.
Chế
định “nhãn hiệu nổi tiếng” trong Luật SHTT của Việt Nam là việc thực thi Điều 6
bis Công ước Pari 1883 mà Việt Nam là thành viên. Nội dung điều 6 quy định:
“Các nước thành viên có trách nhiệm từ chối hoặc hủy bỏ đăng ký, ngăn cấm việc
sử dụng nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã
được cơ quan thẩm quyền của nước đăng ký hoặc sử dụng coi là nhãn hiệu nổi
tiếng tại nước đó”. Để đánh giá sự nổi tiếng của nhãn hiệu, không nhất thiết
phải đánh giá tất cả các tiêu chí trên mà tuỳ từng trường hợp cụ thể. Nếu là
sản phẩm thông dụng, rẻ tiền thì sự nổi tiếng của nhãn hiệu có thể đòi hỏi số
lượng sản phẩm phải nhiều, tuy nhiên, có sản phẩm được rất nhiều người biết đến
nhưng người ta lại không có điều kiện để sử dụng. Tại nghị định 103 quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành mộ số điều của Luật SHTT thì quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi
tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó theo quy
định tại Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký.
Thế nhưng, luật cũng như nghị định hướng dẫn thi hành lại chưa quy định cụ thể
các bước để nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng, do vậy theo quy định trong
nghị định 06/CP tại điều 8 khoản 3: “ Quyền
sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng phát sinh trên cơ sở quyết định
công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” vẫn được áp dụng. Tuy vậy,
đây là bước nhảy rất ý nghĩa trong pháp luật nước ta về bảo hộ nhãn hiệu nổi
tiếng. Mặc dù trên đây chỉ là những tiêu chí mang tính định tính nhưng ít nhiều
nó đã nói lên được những hành động mang tính tích cực trong việc bảo vệ nhãn
hiệu nổi tiếng tại Việt Nam.
Theo quan điểm của tôi, việc quy định các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng
như tại điều 75 là chưa hoàn toàn triệt để. Các tiêu chí này nên phải thoả mãn
được lợi ích của ba phía: nhà nước, doanh nghiệp và khách hàng. Tám tiêu chí
được quy định trong luật SHTT của chúng ta hầu như chủ yếu xuất phát từ lợi ích
của khách hàng rồi đến doanh nghiệp mà chưa chú trọng đến lợi ích của nhà nước.
Ví dụ như, một nhãn hiệu trên thực tế có thể là không nổi tiếng hoặc không thật
sự nổi tiếng nhưng, để bảo vệ lợi ích công, nhà nước vẫn có thể cho nhãn hiệu
này một cơ chế bảo hộ như một nhãn hiệu nổi tiếng bằng việc quyết định nhãn
hiệu đó là nổi tiếng. Điều này là hoàn toàn phù hợp với bản Khuyến nghị chung
của WIPO có quy định như sau: “ Quốc gia
thành viên có thể quyết định một nhãn hiệu là nổi tiếng, cho dù nhãn hiệu không nổi tiếng hoặc, nếu quốc gia
thành viên áp dụng khoản (c) trên, biết rõ rằng, nhãn hiệu không là nổi tiếng
trong bất kì một lượng công chúng hợp lí nào trong quốc gia mình”. Để một nhãn hiệu trở nên nổi tiếng, chiếm được
lòng tin của người tiêu dùng, đòi hỏi chủ nhãn hiệu phải mất hàng chục năm dày
công xây dựng. Đây không chỉ đơn thuần là nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu của chủ
nhãn hiệu mà trong nhiều trường hợp đó còn là phần di sản và niềm tự hào của
quốc gia (như HONDA của người Nhật, Coca Cola của người Mỹ). Cũng do vậy, Luật
SHTT dành cho những nhãn hiệu nổi tiếng mức độ bảo hộ rất cao. Cụ thể, đối với
nhãn hiệu nổi tiếng, phạm vi bảo hộ của một nhãn hiệu nổi tiếng rộng hơn nhãn hiệu
thông thường và bao trùm lên cả các sản phẩm, dịch vụ không cùng loại. Mọi hành
vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá,
dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không cùng loại, không tương tự với, và
không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang
nhãn hiệu nổi tiếng nếu có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây
ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu
nhãn hiệu nổi tiếng đều bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu nổi tiếng. Điều này được quy định tại điều 129 khoản 1 điểm d. Luật nhãn hiệu của Anh quy định hành vi sử dụng nhãn hiệu
trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng cho bất kỳ hàng hoá hay dịch vụ,
không xét đến bản chất hàng hoá hay dịch vụ đó trùng hay tương tự đều bị coi là
hành vi xâm phạm nếu việc sử dụng đó có thể gây ra một trong các hệ quả sau:
-
Tạo ra lợi thế cạnh tranh không công bằng
-
Gây tổn hại đế khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng
-
Gây tổn hại đến danh tiếng của nhãn hiệu nổi tiếng
Như vậy, mặc dù Luật SHTT Việt
Nam cũng có quy định giống với luật nhãn hiệu của Anh về tiêu chí nhãn hiệu
song lại rất khác về mặt hệ quả : theo luật nhãn hiệu của Anh, hệ quả của
hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng là xuất phát từ bản chất của nhãn hiệu đó
là tính phân biệt, xuất phát từ lợi ích thực tiễn là khả năng cạnh tranh và
xuất phát từ giá trị vô hình của quyền SHTT và đặc thù của nhãn hiệu nổi tiếng
đó là danh tiếng của nhãn hiệu. Còn hệ quả theo Luật SHTT Việt Nam lại xuất
phát từ hệ quả rất chung được áp dụng cho mọi loại nhãn hiệu. Hệ quả thứ hai
trong Luật SHTT Việt Nam cũng chỉ là mở rộng của hệ quả thứ nhất đó là khả năng
gây ấn tượng sai lệch mối quan hệ giữa chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng với người
sử dụng. Nội hàm của sự sai lệch về mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người sử
dụng cũng đã hàm chứa sự sai lệch về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ và từ đó
dẫn đến sự nhầm lẫn. Cụ thể, các hệ quả xác định hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi
tiếng là :
-
Có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá ; hoặc
-
Gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ
sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
Đặc thù của nhãn hiệu nổi
tiếng, xét về mặt lý luận là tính phân biệt của nhãn hiệu rất cao, cao hơn nhiều
với nhãn hiệu thông thường khác, phạm vi bảo hộ nhãn hiệu cũng triệt để hơn, và
xét về mặt thực tiễn là được người tiêu dùng biết đến rộng rãi. Người tiêu dùng
nhận thức được rất rõ nguồn gốc của các nhãn hiệu nổi tiếng, do đó, khả năng
xảy ra nhầm lẫn về nguồn gốc giữa hàng hoá hoặc dịch vụ gắn nhãn hiệu nổi tiếng
với hàng hoá hoặc dịch vụ gắn nhãn hiệu thông thường là ít xảy ra hơn với cá
nhãn hiệ thông thường với nhau. Mục đích của việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
không chỉ là ngăn ngừa hành vi sử dụng gây nhầm lẫn mà còn là ngăn ngừa hành vi
sử dụng có thể làm tổn hại đến danh tiếng của nhãn hiệu nổi tiếng. Do đó, quy
định của Luật SHTT Việt Nam chưa đáp ứng được mục đích này.
Khi một đơn dăng kí nhãn hiệu hàng hoá được nộp
tới Cục SHTT, sau khi xem xét về hình thức cũng như tính hợp lệ của đơn, Cục sẽ
tiếp nhận đơn và thực hiện xét nghiệm nội dung. Một trong những vấn đề được xét
tới là khả năng phân biệt của nhãn hiệu được quy định tại điều 74 Luật SHTT.
Trong đó, nhãn hiệu không được coi là có khả năng phân biệt nếu nó là một dấu
hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi
tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng
hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không
tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân
biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín
của nhãn hiệu nổi tiếng. Quy định như vậy là phù hợp với thực tế cũng như thông
lệ trên thế giới. Tuy nhiên, Luật chưa quy định cụ thể những dấu hiệu như thế
nào thì được coi là “trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn” với nhãn hiệu
nổi tiếng. Khắc phục điều này, Nghị định 105/2006 có hướng dẫn như sau: dấu
hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc
phạm vi bảo hộ nếu trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc
phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu
hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ
nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng
phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý
nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá,
dịch vụ mang nhãn hiệu. Đối với nhãn hiệu nổi
tiếng, dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là yếu tố xâm phạm nếu: hàng hoá, dịch vụ
mang dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về
bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với
hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ. Hoặc hàng hoá, dịch vụ không trùng,
không tương tự, không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng
nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch
vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh
sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
Ngoài ra, ta có thể tham khảo đến bản Khuyến nghị
chung của WIPO về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng (những nhãn hiệu như vậy được gọi
là nhãn hiệu gây xung đột). Theo đó, nhãn hiệu sẽ bị coi là gây xung đột với
nhãn hiệu nổi tiếng khi nhãn hiệu này, hoặc một phần của nhãn hiệu này, có chứa
sự sao chép, sự bắt chước, sự phiên dịch, hoặc sự phiên chữ của nhãn hiệu nổi
tiếng, có khả năng gây nhầm lẫn, nếu nhãn hiệu, hoặc phần cơ bản của nhãn hiệu
này, được sử dụng, là đối tượng của đơn đăng kí hoặc đã được đăng kí đối với
loại hàng hóa hoặc dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa hoặc dịch vụ mang
nhãn hiệu. Không kể đến các loại hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu này là
đối tượng của đơn đang kí hoặc đã được đăng kí, nhãn hiệu này sẽ bị coi là xung
đột với nhãn hiệu nổi tiếng khi nhãn hiệu này hoặc một phần cơ bản của nhãn
hiệu này có chứa sự sao chép, sự bắt chước, sự phiên dịch, hoặc sự phiên chữ
của nhãn hiệu nổi tiếng, và khi có ít nhất một trong các điều kiện sau đây:
-
Sự sử dụng nhãn hiệu đó biểu
thị một mối liên hệ giữa hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu, là đối tượng của
đơn đăng kí, hoặc đã được đăng kí, và của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng, và có
nguy cơ đe dọa lợi ích của họ;
-
Sự sử dụng nhãn hiệu đó có khả
năng làm suy yếu hoặc lu mờ theo cách không công bằng những đặc tính khác biệt
của nhãn hiệu nổi tiếng;
-
Sự sử dụng nhãn hiệu đó có thể
sẽ gây bất lợi cho những đặc tính khác biệt của nhãn hiệu nổi tiếng.
Về thời hạn bảo hộ, pháp luật cũng dành cho những nhãn hiệu loại này một ưu
đãi đặc biệt: quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ
vô thời hạn tính từ ngày nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng ghi trong quyết
định công nhận nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy vậy, ta
cũng không loại trừ trường hợp một nhãn hiệu nổi tiếng không được bảo hộ nữa.
Đó là khi nhãn hiệu không còn nổi tiêng nữa, hay nói cách khác là khi các tiêu
chí làm nhãn hiệu đó trở thành nổi tiếng không còn trên thực tế hoặc nhãn hiệu
đã trở thành tên gọi chung của một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định (trường hợp
này còn gọi là sự lu mờ nhãn hiệu). Ở Hoa Kỳ, thậm chí còn có Đạo luật Liên
bang về sự lu mờ nhãn hiệu (FTDA) vào năm 1995. Đạo luật này có những quy định
về sự đền bù hay bồi thường cho việc làm lu mờ đối với nhãn hiệu nổi tiếng, các
yếu tố để xác định một nhãn hiệu là phân biệt và nổi tiếng, đồng thời cũng đưa
ra định nghĩa chính xác về thuật ngữ “sự lu mờ” (dilution), theo đó, sự lu mờ
sẽ được hiểu là việc làm giảm khả năng của nhãn hiệu nổi tiếng trong việc xác
định và phân biệt đối với hàng hóa hay dịch vụ mang nhãn hiệu. Lịch sử đã từng
có những trường hợp như vậy mà điển hình là trường hợp của viên thuốc ASPIRIN. Trong hệ thống pháp luật về nhãn hiệu nói chung và nhãn
hiệu nổi tiếng nói riêng của Việt Nam chưa đề câp đến các biện pháp cũng như
chế tài ngăn cấm việc làm lu mờ nhãn hiệu.
Ðể
hoàn thiện pháp luật thực thi quyền sở hữu trí tuệ và đặc biệt là quyền đối với
nhãn hiệu nổi tiếng, theo tôi thời gian tới cần tập trung: Một là, hoàn thiện cơ
chế bảo đảm thực thi quyền SHTT, quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng trong pháp
luật dân sự như: hoàn thiện các quy định về việc xác định các hành vi xâm phạm;
nâng cao vai trò của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về nhãn hiệu,
xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn thực thi quyền SHTT một cách kịp thời và có
hiệu quả, xác định rõ thẩm quyền vụ việc của Tòa án trong việc xét xử các tranh
chấp về SHTT, bổ sung những quy định chi tiết về các chế tài đủ mạnh để chống
lại các hành vi xâm phạm quyền SHTT, nhãn hiệu nổi tiếng, sớm ban hành những
văn bản hướng dẫn chi tiết về vấn đề bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần
gây ra do các hành vi xâm phạm. Đối với trường hợp xâm phạm nhãn hiệu nổi
tiếng, cần sử đổi hành vi xâm phạm là hành vi gây tổn hại đến tính phân biệt
của nhãn hiệu nổi tiếng. Ngoài ra, các tiêu chí để đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
cần dành phần chủ động cho các doanh nghiệp bằng cách quy định thêm rằng doanh
nghiệp có thể đệ trình bất kỳ yếu tố nào của doanh nghiệp mình để chứng minh
cho nhãn hiệu là nổi tiếng, Cục SHTT sẽ xem xét các yếu tố đó và quyết định cấp
giấy chứng nhận nhãn hiệu nổi tiếng hay không. Hai là, hoàn thiện cơ chế bảo
đảm thực thi quyền SHTT và quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng trong pháp luật
hành chính. Ba là, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi quyền SHTT trong pháp
luật hình sự, cần ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ
luật Hình sự liên quan việc xét xử các vụ án hình sự về xâm phạm quyền
SHTT cũng như là nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu thực
tiễn, về lâu dài Việt Nam cũng cần phải thay đổi cách nhìn và nên đi theo
xu hướng chung, đó là việc đưa các vụ tranh chấp, xâm phạm về Toà án để giải
quyết theo đúng bản chất dân sự của nó. Có thế Việt Nam mới thật sự hội
nhập trong cộng đồng quốc tế.
Nguyễn Minh Hằng - Chuyên viên Tư vấn - Investconsult group