Vấn đề Công giáo miền bắc Việt Nam qua tư liệu lưu trữ Ba Lan (1954-1956)
Trần Thị Liên
Groupe d'Etude sur le Vietnam Contemporain - IEP Paris
Wojciech
Ketrzynski, thành viên phái đoàn Công giáo Ba Lan được Việt Nam mời qua thăm
vào mùa xuân 1955, đã kết luận bản báo cáo như sau: "Nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà (VNDCCH) phải đương đầu với một nhiệm vụ hết sức khó khăn: ngay từ
bước đầu, phải tìm cách xây dựng Nhà nước, đồng thời tiến hành cuộc đấu tranh
gian khổ nhằm thống nhất đất nước. Trong tổng thể các vấn đề chính trị của Việt
Nam, yếu tố Công giáo không giữ một vai trò quan yếu. Tuy nhiên, là nhóm tôn
giáo có tổ chức, thuần nhất và lớn mạnh nhất, có lẽ Công giáo có một trọng
lượng nhất định trong cán cân quyền lực chung".[1]
Ketrzynski là một người Công giáo thuộc tổ chức Pax,[2] nhận định của ông tóm tắt khá chính xác
vấn đề Công giáo đặt ra cho các nhà lãnh đạo VNDCCH trong những ngày tiếp theo
chiến thắng Điện Biên Phủ.
Bài này có mục đích soi rọi vấn đề Công giáo trong
những năm độc lập đầu tiên ở VNDCH dưới ánh sáng của những tư liệu tìm được trong
thư khố Ba Lan. Tư liệu của một nước "anh em" là một nguồn bổ ích vì
trước hết, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể tham khảo thư khố của
Việt Nam về vấn đề này. Liên Xô và Trung Quốc đương nhiên là "hệ quy
chiếu" và mô hình của VNDCCH trên những vấn đề quốc tế lớn. Nhưng ngay sau
khi Hiệp định Genève được kí kết, nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan đã được VNDCCH
yêu cầu giúp đỡ để giải quyết vấn đề gay go do thiểu số Công giáo đặt ra, nhất
là vấn đề người Công giáo ồ ạt di cư vào Nam. Do tầm quan trọng của đạo Ki tô ở
Ba Lan, các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam cho rằng các đồng chí Ba Lan là
những người có khả năng nhất trong các nước anh em có thể làm cố vấn cho họ
trong vấn đề hội nhập người Công giáo dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bài này chủ yếu
khai thác những báo cáo của các đại sứ Ba Lan tại Hà Nội cũng như những báo cáo
của phái đoàn Ba Lan trong Uỷ hội Quốc tế Giám sát và Kiểm soát[3]
được lưu trữ tại Thư khố Bộ ngoại giao tại Warsaw (AMSZ). Trong bài này, tôi sẽ
trình bày vấn đề Công giáo trong những năm đầu của VNDCCH độc lập nhìn từ quan
điểm cộng sản (chính phủ Việt Nam cũng như các cố vấn Ba Lan). Quan điểm của
thiểu số Công giáo cũng sẽ được đề cập.
Trước hết, tôi
sẽ trình bày tóm gọn mối quan hệ giữa người Cộng sản và người Công giáo từ ngày
thành lập nước VNDCCH, tức là những năm chiến tranh kháng Pháp. Điều này cần
thiết vì không thể nào thấu hiểu tình hình hết sức căng thẳng năm 1954 nếu
không có trong đầu lịch sử mối quan hệ phức tạp Cộng sản – Công giáo trong thời
kì chiến tranh giành độc lập. Sau đó, theo trình tự thời gian, tôi sẽ trình
bày: thứ nhất, phân tích vấn đề Công giáo của Đại sứ Ba Lan, đặc biệt trong năm
1955 ; thứ nhì, các báo cáo của Đoàn đại biểu Ba Lan đi thăm Việt Nam
tháng 4 và 5.1955 theo lời mời của VNDCCH. Cuối cùng, tôi sẽ tìm hiểu quá trình
hợp tác trong năm 1956 giữa hai nước, cũng như tác động của những biến cố Mùa
thu 1956 ở Trung Âu vào sự hợp tác Ba Lan – Việt Nam.
Cộng sản và Công giáo trong cuộc
Chiến tranh giành độc lập: từ liên minh đến bất khả hợp tác
Câu chữ của
Wojciech Ketrzynski trong đoạn trích dẫn ở đầu bài cũng phản ánh quan điểm của
người Cộng sản Việt Nam đối với thiểu số Công giáo trong thời kì chiến tranh
giành độc lập. Tuy Công giáo không phải là vấn đề trọng tâm đối với nền độc
lập, song tranh thủ được sự ủng hộ của người Công giáo là một quan tâm không
nhỏ để giành chính quyền hay xây dựng chế độ cộng sản. Do di sản quá khứ xâm
lăng của Pháp, và do tính chất chống tôn giáo của chủ nghĩa cộng sản, Việt Minh
nghi ngại ngư���i Công giáo, song cho đến năm 1951, chính sách của họ nói chung
là đoàn kết toàn dân, trong đó có người Công giáo. Thật vậy, đối với đảng cộng
sản, đây là vấn đề chiến lược. Không muốn lộ diện cộng sản, Việt Minh muốn tập
hợp mọi giai cấp trong cuộc đấu tranh vì độc lập, kẻ cả giai cấp tư sản và
thiểu số Công giáo.[4]
Sự tham gia của hai thành phần này sẽ đem lại cho Việt Minh một diện mạo tốt
đẹp trên trường quốc tế, chứng tỏ Việt Minh là liên minh đa dạng của toàn thể
dân tộc.
Hơn nữa, tranh
thủ được Công giáo trong những năm 1945-1947 là điều quan trọng đối với Việt
Minh vì đó là thời kì rất khó khăn: họ phải tính đến ảnh hưởng của Công giáo
tại những vùng then chốt ở đồng bằng sông Hồng và tại một số vùng ở Nam Bộ là
nơi Việt Minh vẫn còn yếu. Để thực hiện mục tiêu này, Việt Minh đã đẩy mạnh
công tác Công giáo vận, như ta có thể nhận thấy qua rất nhiều những truyền đơn
và sách báo mà Thư khố Quân đội ở Vincennes (Pháp) còn lưu trữ.
Hồ Chí Minh là
người kiến trúc sư lớn của chính sách đoàn kết dân tộc đối với người Công giáo.
Chính sách này đã mang lại kết quả ngay từ đầu tháng chín 1945, khi bốn vị giám
mục Công giáo thừa nhận ông là chủ tịch chân chính của nước VNDCCH. Lên nắm
chính quyền, ông không ngần ngại cử Nguyễn Mạnh Hà, người Công giáo, làm bộ
trưởng Bộ kinh tế trong Chính phủ đoàn kết dân tộc đầu tiên. Trong phái đoàn
Việt Nam sang thương lượng ở Fontainebleau, ông để cả Nguyễn Đệ tham gia vì
Nguyễn Đệ có quan hệ tốt với người Pháp và giới Ngân hàng Đông Dương. Sự hiện
diện của những nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Minh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên
Giáp, tại cuộc lễ tấn phong giám mục Lê Hữu Từ và lễ thành lập Liên Đoàn Công
Giáo (không nằm trong Việt Minh) tháng mười 1945 ở Phát Diệm, cũng chứng tỏ ý
muốn thu hút thiểu số Công giáo. Nhân dịp này, Hồ Chí Minh còn cử tân giám mục
Phát Diệm làm Cố vấn Tối cao của Chính phủ ![5]
Các cuộc tiếp xúc Công giáo – Cộng sản ở ngoài bắc, là vùng chủ yếu do Việt
Minh kiểm soát, đều là những cuộc gặp trực tiếp, và ở cấp cao nhất, còn ở trong
nam, là vùng sớm bị Pháp chiếm đóng, các cuộc tiếp xúc diễn ra một cách bán
chính thức.
Không những thế,
Việt Minh đã ban hành những chỉ thị nghiêm ngặt, cấm đoán mọi hành động xúc
phạm tôn giáo, nhất là việc phá huỷ nơi thờ cúng, người phạm tội có thể bị xử
tử hình.[6]
Đây là một cố gắng thực sự nhằm hạn chế bất hoà đối với người Công giáo. Năm
1949, uỷ viên nội vụ Nam Bộ Ung Văn Khiêm nghiêm cấm "mọi hành động
phẫn nộ hay khiêu khích đối với người Thiên chúa giáo".[7]
Không những không cấm đoán việc thờ chúa, Việt Minh còn cho phép tổ chức những
cuộc đại lễ nhân những ngày lễ đạo trọng đại. Mỗi năm vào dịp Nô-en, bao giờ Hồ
Chí Minh cũng gửi thư chúc mừng đồng bào Công giáo. Các báo cáo của bề trên
dòng Thừa sai Paris (MEP), vốn chống đối Việt Minh, đều ghi nhận rằng, mặc dầu
chủ trương tiêu thổ kháng chiến, Việt Minh vẫn tôn trọng nhà cửa của giáo hội,
khác hẳn Quân đội Viễn chinh Pháp không ngần ngại chiếm đóng hoặc phá huỷ cơ
ngơi của các tôn giáo. Như một giáo sĩ thừa sai viết đầu năm 1949: "Nói
chung, ít nhất là ở ngoài mặt, chính sách của VM tỏ ra khoan dung. Dường như
người Công giáo, với tư cách người Công giáo, không bị khó dễ gì hơn là các
thành phần khác trong dân chúng (...) Rõ ràng là có chỉ thị từ cấp cao (...)
Thực sự đây là cả một chính sách nhằm tranh thủ người Công giáo."[8]
Về phía Công giáo, họ tích cực tham gia phong trào dân tộc chủ nghĩa, vì muốn
tiêu trừ lời lên án Công giáo là "phản quốc" đã đè nặng lên đầu cộng
đồng tín đồ từ ngày Pháp xâm chiếm Việt Nam.[9]
Có thể khẳng định rằng trong thòi kì đầu của cuộc kháng chiến, người Công giáo
và người Cộng sản đã kinh qua một thử nghiệm cộng tác tương tự như tình hình ở
Pháp trong Đại chiến Thế giới lần thứ II. Sự hợp tác được biện minh bằng sự
nghiệp độc lập.
Nhưng với thời
gian, người Công giáo đứng trước một lưỡng đề: những chiến sĩ kiên cường nhất
trong cuộc đấu tranh giành độc lập là người Cộng sản, mà dự phóng xây dựng xã
hội của Cộng sản lại không phù hợp với quan niệm của họ. Trong luận án tiến sĩ,
tôi đã chứng minh rằng sự hợp tác của người Công giáo với cuộc kháng chiến của
người Cộng sản (chủ yếu là ở các địa phận giám mục miền bắc) đã tiếp tục cho
đến năm 1949.
Đối với người
Công giáo, sự liên minh này đã quay ngược trong giai đoạn 1950-1951 là thời kì
mà họ vẫn còn tìm cách giữ thế tự trị, không theo kháng chiến cộng sản và cùng
không theo chính phủ Bảo Đại lệ thuộc Pháp.[10]
Rõ ràng lúc đó họ không muốn bị sử dụng làm công cụ như phía Việt Minh cũng như
phía Pháp muốn họ làm. Ngoại trừ một thiểu số tham gia hàng ngũ kháng chiến
Việt Minh, từ năm 1952 trở đi, người Công giáo dứt khoát cự tuyệt sự liên minh
với Cộng sản: cuộc sống dưới chính thể Việt Minh ở miền bắc, các sự kiện quốc
tế ở Trung Quốc và Triều Tiên từng bước đưa họ tới chỗ nghi kị Việt Minh. Không
tìm ra con đường thứ ba – không đi với Việt Minh, cũng không đi với Pháp – cuối
cùng họ đã chọn giải pháp ít xấu nhất: quy hồi chính phủ Bảo Đại lúc đó
đang thương lượng với Ngô Đình Diệm.
Thực ra, chính
sách bắt tay của VNDCCH là một chủ trương chiến lược, song người Cộng sản vẫn
rất nghi ngại người Công giáo, kể cả những người Công giáo đã trở thành Cộng
sản. Chẳng mấy lúc, các nhóm Công giáo tham gia kháng chiến đều bị Đảng kiểm
soát chặt chẽ, mảnh đất hoạt động của họ bị thu hẹp. Sau thắng lợi của Cộng sản
ở Trung Quốc, chế độ trở thành cứng rắn hơn. Sự có mặt của các cố vấn Trung
Quốc nhất là từ 1953 trở đi, chủ trương tiến hành "đấu tranh giai
cấp" và phát động cải cách ruộng đất trong những vùng kháng chiến kiểm
soát (ở những nơi có nhiều giáo dân) dẫn tới sự li khai với Việt Minh lúc đó
cũng không còn giấu giếm bản chất cộng sản của mình nữa. Song, đối với người Cộng
sản, người Công giáo chọn lựa như vậy là phản bội.
Mối quan hệ sóng
gió trong thời kì 1945-1954 cho ta hiểu tại sao trong những năm tiếp theo chiến
thắng Điện Biên Phủ, tình hình trở nên căng thẳng giữa Công giáo và Cộng sản.
Tuy không phải là vấn đề trung tâm, vấn nạn Công giáo có một trọng lượng không
nhỏ trong đường lối chính sách chung của chế độ VNDCCH non trẻ. Đặt biệt trong
hai lãnh vực: một là xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, hai là thống nhất đất
nước như Hiệp định Genève đã quy định.
Vấn đề Công giáo
ở thời điểm 1954, nhìn từ góc độ Cộng sản, có thể tóm tắt như sau: hơn hẳn mọi
tổ chức tôn giáo hay chính trị nào khác, Giáo hội Công giáo trước tiên là một
lực lượng có tổ chức chặt chẽ, với những giá trị chống cộng, răm rắp vâng lời
bề trên. Thứ nữa, điều nguy hiểm là về mặt địa lí, họ sống tập trung ở một số
thôn xã và huyện thuộc những vùng có vị trí chiến lược. Thêm vào đó, việc họ
phục tùng Vatican được xem như bằng chứng rằng họ là "tay sai của đế quốc
ngoại bang", nhất là từ khi giáo hoàng Pie XII đọc bài diễn văn chống
cộng. Cuối cùng, một bộ phận khá lớn giáo dân ở miền nam và ở cả miền bắc tin
tưởng vào lãnh tụ miền nam là Ngô Đình Diệm, một người Công giáo. VNDCH vừa đại
thắng thực dân Pháp, nay lại gặp phải sự đối nghịch mạnh mẽ của đa số người
Công giáo chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Vì những lẽ trên, Giáo hội Công
giáo khiến cho chính quyền VNDCCH e ngại và nghi kị, coi là đối thủ của chế độ
mới.
Tuy các nhà lãnh
đạo miền bắc ý thức được những khó khăn trong vấn đề chỗ đứng của người Công
giáo trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa sau Hiệp định Genève, họ vẫn bị bất ngờ
trước là sóng di cư vào nam của đông đảo người Công giáo bắt đầu từ tháng bảy
1954 và kéo dài suốt một năm sau đó. Cuộc di cư ồ ạt, ngày càng đông đảo trở
thành mối quan tâm lớn cho giới lãnh đạo VNDCCH. Nó có thể tác động tai hại vào
ưu tiên chính trị số một trong đường lối của chính quyền: thống nhất đất nước
thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do ở cả hai miền nam bắc vào tháng bảy 1956,
theo quy định của Tuyên bố cuối cùng Hội nghị Genève.[11]
Cuộc di cư sau
Hiệp định Genève đã diễn ra như thế nào ? Ngoài việc tập kết lực lượng
quân sự vào hai vùng trên và dưới vĩ tuyến 17, Hiệp định Genève còn quy định
rằng thường dân có quyền chuyển vùng trong vòng 300 ngày (tức là cho đến ngày
18 tháng năm 1955). Biện pháp này hết sức cần thiết để miền bắc có thể đưa 85
000 bộ đội Việt Minh và thân nhân từ miền nam ra miền bắc, và để miền nam có thể
đưa cả binh lính và thường dân Pháp lẫn quân đội và chính quyền Bảo Đại từ bắc
vào nam.
Thoạt đầu, việc
di cư thường dân từ bắc vào nam chủ yếu chỉ diễn ra ở thành thị (chủ yếu là các
gia đình công chức). Nhưng rất nhanh chóng, nó lan ra vùng nông thôn, đặc biệt
là vùng giáo dân sống tập trung. Các nhà lãnh đạo miền bắc cũng như quân đội
Pháp[12]
đều không tiên liệu một cuộc di cư ồ ạt như vậy, với đa số là giáo dân (78%).
Phong trào này bắt đầu từ tháng bảy 1954, ngay sau ngày kí Hiệp định Genève,
tăng vọt lên vào tháng chín – tháng mười rồi tiếp tục phát triển sau tháng năm
1955 là kì hạn chót. Khoảng 78% người di cư là giáo dân, vào nam cùng với một
bộ phận quan trọng của hàng giáo phẩm (3 giám mục, 618 linh mục). Đến cuối năm
1955, ở lại miền bắc còn 40% giáo dân (456 720 người) và 37% giáo sĩ (375
người).
Quan điểm phê phán về vấn đề Công giáo của đại sứ Ba Lan
(tháng
chạp 1954 – tháng tư 1955)
Ngay trước ngày
đại sứ Ba Lan đầu tiên, Tomasz Pietka, đặt chân đến Hà Nội tháng chạp 1954[13] Ba Lan đã nhận được yêu cầu giúp đỡ. Thật vậy, chính phủ Hồ Chí Minh đã
yêu cầu Liên Xô giúp đỡ trong việc tập kết các đơn vị Việt Minh và vũ khí trang
bị từ nam ra bắc. Nhưng hàng hải dân sự Liên Xô không có ngay tàu chuyên chở,
và đúng lúc đó thương thuyền Jan Kilinski lại có mặt ở Biển Đông, nên tàu này
đã được trao nhiệm vụ vận chuyển người và vật tự quân sự trong suốt thời gian
từ tháng mười 1954 đến tháng bảy 1955.[14]
Ngay khi đại sứ
Ba Lan tới Hà Nội, các nhà lãnh đạo Cộng sản đã yêu cầu Ba Lan giúp đỡ giải
quyết vấn đề Công giáo. Trong bản báo cáo đầu tiên, tháng giêng 1955, đại sứ
Tomasz Pietka, trong phần nội trị, đã xếp vấn đề Công giáo lên hàng đầu và nói
tới yêu cầu giúp đỡ của chính phủ Việt Nam: “Vấn đề di cư của người Công
giáo vẫn tiếp diễn: ‘Chính phủ và Đảng đã làm tất cả những gì có thể để giảm
bớt, nhưng vẫn gặp những khó khăn to lớn (...). Vấn đề giáo dân sẽ còn đè nặng
lên chính sách nội trị của VNDCCH trong thời gian tới đây, vì vậy mà họ vẫn
thường yêu cầu sứ quán giúp đỡ và tham vấn’”[15]
Trong bài phân
tích đầu tiên về nguyên nhân cuộc di cư ồ ạt, Pietka liệt kê sự tuyên truyền
của Pháp và Mĩ, và nói đến cả các nhà lãnh đạo Việt Nam: “Một nhân tố khác
có thể giải thích những khó khăn này là bệnh bè phái ở các cấp cơ sở trong
Đảng. Những đồng chí đảng viên ở cơ sở nói rằng: ‘Tám năm dài trên rừng núi,
tôi chịu bao nhiêu hi sinh gian khổ để giải phóng cho họ, mà bây giờ họ lại bỏ
đi!’. Thế là họ dùng những biện pháp cứng rắn như bác đơn di cư mà không một
lời giải thích ”. Pietka cũng phê bình “họ thiếu hiểu biết về những vấn
đề Công giáo” trong lĩnh vực tuyên truyền: “Cho đến nay, chỉ có phía
Đảng mới tiến hành công tác nâng cao ý thức (quần chúng và đảng viên),
không huy động Mặt trận Tổ quốc tham gia vào việc này. Chúng tôi cũng đã góp ý
kiến”. Trong bản báo cáo tiếp theo, Pietka hoan nghênh việc mở rộng Mặt
trận Tổ quốc ra những giới xã hội khác, đặc biệt là chủ trương “bắt tay
người Công giáo” thể hiện qua việc Linh mục Vũ Xuân Kỷ tham gia Đại hội
Liên Việt tổ chức trong tháng giêng 1955 tại Hà Nội.
Theo Pietka, một
nguyên nhân quan trọng khác của làn sóng di cư là tình hình kinh tế bi đát ở
miền Bắc Việt Nam. Trong bản báo cáo tháng hai, ông viết: “Thị trường cần
được cung cấp thêm lúa gạo và các nông sản khác đang bị thiếu hụt nghiêm trọng.
Cần phải ngăn ngừa nạn đói có thể xảy ra ở khu 4 là nơi hội đủ những triệu
chứng (hạn hán, ruộng đất bỏ hoang (...). Nông thôn quá đông dân. Nông dân bỏ ra
thành phố nhưng không tìm ra việc làm (các nhà máy không hoạt động), chỉ còn
cách buôn bán vặt trên vỉa hè hoặc đi bán rong...). Ở nông thôn, thấy rõ những
dấu hiệu thiếu đói gây ra bất mãn, ngay trong những người đã tham gia kháng
chiến, là những người đã quen ăn rễ ăn củ để tiếp tục chiến đấu giành lại tự do
cho tổ quốc (...). Gặp những người phụ trách những bộ quan trọng của chính phủ,
nhiều khi thấy họ rơm rớm nước mắt khi nói tới những vấn đề của họ.”
Pietka còn nhấn mạnh không chỉ có vấn đề người Công giáo mà còn có vấn đề những
người không Công giáo: “Trong đời sống nội bộ của VNDCCH, tồn tại cuộc di cư
của giáo dân. Có thể nói vấn đề di cư đã tăng lên trong thời gian vừa qua,
không những người Công giáo mà cả người không Công giáo cũng xin đi vào nam.
Nguyên nhân tình trạng này là nạn thiếu lương thực, thất nghiệp, và cả chiến
dịch tuyên truyền Mĩ-Pháp vẫn tiếp tục khai triển”.[16] Sang tháng ba, tình hình vẫn tiếp tục nghiêm trọng.[17]
Tháng tư 1955,
một báo cáo khác xác nhận bức tranh kinh tế bi thảm mà tháng trước đại sứ
Pietka đã phác hoạ. Ông nêu lên nguy cơ xảy ra nạn đói ở miền bắc do sự kém cỏi
của chính quyền: “Năm ngoái, các đồng chí Việt Nam đã không biết xử lí vấn
đề với sự nghiêm chỉnh cần thiết. Người Pháp đã báo trước với họ về nguy cơ đói
kém, song chính phủ bạn đã khẳng định sẽ giải quyết thành công bằng cách tăng
suất, đẩy mạnh thuỷ lợi và nhất là trồng những loại cây sản lượng cao (khoai,
sắn, đậu). Chính sách này đúng nhưng chỉ đúng về dài hạn. Nếu Việt Nam không
nhận được viện trợ to lớn về lúa gạo, thì tình hình sẽ trở thành nguy ngập và
cuộc bầu cử sẽ hết sức bấp bênh”.[18] Quả vậy, nhờ viện trợ Trung Quốc nên tháng năm 1955, VNDCCH đã tránh được
nạn đói.[19]
Đại diện Ba Lan
trong Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát, Jerzy Grudzinsky, cũng nhất trí với phân tích
tình hình kinh tế nói trên. Trong bản báo cáo đề ngày 27/4/1955, Grudzinsky coi
việc người Công giáo di cư “là một trong những vấn đề lớn nhất đặt ra cho Uỷ
hội Quốc tế trong thời gian qua”. Ông viết tiếp: “Một vài nhóm cực đoan
trong dân chúng ra sức kích động di cư, phối hợp với cuộc vận động của giáo
hội, của chính quyền Pháp, của bè lũ Bảo Đại. Tình hình này tiếp tục xấu đi do
hạn hán, mất mùa đang đe doạ vùng Công giáo. Trên lãnh thổ của VNDCCH, giáo dân
bắt đầu tổ chức những cuộc tập họp lớn, cả vạn người, yêu cầu được di cư vào
nam”.[20] Chắc ông muốn nói tới sự kiện Ba Làng, nơi 10 000 giáo dân tụ tập lại đòi
đi nam, bị Quân đội giải tán trong khi họ hoài công đứng đợi phái đoàn Uỷ hội
Quốc tế.[21]
Đối với
Grudzinski, tình hình những giáo dân muốn di cư tuyệt vọng tới mức Uỷ hội Quốc
tế (thông qua đại diện Ba Lan) đã phải nhờ đến cả chiếc tàu Kilinski của Ba Lan
từ tháng mười 1954 đã vận chuyển bộ đội Việt Minh và gia đình của họ từ nam ra
bắc. “Hiện nay, tàu Kilinski của ta phải lo di chuyển giáo dân vào nam. Cho
đến ngày 18 tháng năm, nó sẽ phải chở 10 000 người. Đang có tin đồn người Pháp
muốn đề nghị kéo dài thời hạn 300 ngày cho dân chúng có thể chuyển vùng”.
Trong báo cáo tháng hai 1955, đại sứ Pietka xác nhận: “chính phủ ta đồng ý để
cho tàu Kilinski chở 5400 giáo dân từ bắc vào nam, trong tinh thần ‘bắt tay
người Công giáo’.”[22]
Cuộc viếng thăm miền Bắc của
Phái đoàn Ba Lan đặc biệt (tháng tư-năm 1955) và sự thất bại tương đối của
chuyến đi
Thực ra, chính
sách Công giáo của VNDCCH chỉ là một bộ phận trong đường lối chung của VNDCCH
về vấn đề thống nhất đất nước. Và khi VNDCCH yêu cầu Ba Lan giúp đỡ thì mục
tiêu cụ thể và ngắn hạn rất rõ ràng -- cuộc tổng tuyển cử tháng sáu 1956 -- như
bản báo cáo tháng tư 1955 xác nhận: “Trong tương lai, có thể xem sự hợp tác
Ba Lan - Việt Nam trong lãnh vực này là cần thiết, ít nhất cho đến khi thực
hiện bầu cử năm 1956”.[23]
Cho nên mùa xuân
1955, đáp lời yêu cầu của phía Việt Nam, Ba Lan đã cử sang miền Bắc một phái
đoàn gồm 3 thành viên, hai linh mục Josef Keller, Mieczylaw Suwala, và một biên
tập viên, Wojciech Ketrzynski. Hai linh mục là hội viên Pax là tổ chức chủ
trương hợp tác với chế độ cộng sản, còn người thứ ba, cư sĩ, chắc là người của
Đảng Cộng sản. Phái đoàn đã làm việc khoảng 6 tuần lễ, từ ngày 13.4 đến ngày
30.5.1955. Thời điểm của chuyến đi này chắc không ngẫu nhiên, vì trong
thời gian đó, cụ thể ngày 16.5 là hạn chót của việc tập kết quân đội và dân
chúng[24] phía bắc và phía nam vĩ tuyến 17. Đó là kỳ hạn cuối cùng cho những ai muốn
di cư.
Trong báo cáo
thứ nhất,[25] các thành viên phái đoàn nhắc lại nhiệm vụ chủ yếu của chuyến công tác: “Toàn
bộ công việc của chúng tôi là góp phần vào việc bình thường hoá các quan hệ tôn
giáo với mục tiêu là cuộc bầu cử sắp tới và mục đích là mang lại cho chính
quyền dân chủ những nhân tố cần thiết cho đường lối chính sách trong lĩnh vực
này”. Cụ thể hơn nữa, phái đoàn Ba Lan có ba nhiệm vụ: “1) trong phạm vi
có thể, chấm dứt không khí hoảng loạn trong cuộc di cư, 2) hỗ trợ Uỷ ban Công
giáo yêu nước yêu hoà bình mới thành lập nhằm củng cố uy tín và triển khai công
tác Công giáo vận, 3) hợp tác với đại diện chính quyền dân chủ trong việc triển
khai chính sách Công giáo”.
Phái đoàn Ba Lan
đã làm được gì để thực hiện nhiệm vụ quan trong nhất, liên quan tới cuộc di cư
của giáo dân ? Trong bản báo cáo đầu tiên, họ ghi nhận: “Tình hình trong
giới Công giáo vẫn căng thẳng, không khí hoảng hốt và trốn chạy vẫn nặng nề,
đặc biệt ở vùng Vinh”.[26] Chúng ta cần nhớ rằng kì hạn 18 tháng năm càng làm tăng không khí hoảng
loạn. Trước tình hình này, W. Ketrzynski và Linh mục Suwala có nhiệm vụ tuyên
truyền, và được cử đi các nơi để làm việc này. Họ đã phát biểu tại ít nhất 16
cuộc mít tinh, đề cao tình hình người Công giáo ở Ba Lan và nói tới viễn tượng
tồn tại của đạo Thiên chúa được chế độ dân chủ bảo đảm.
Đối với W.
Ketrzynski,[27] “nỗ lực lớn nhất đã được tập trung ở khu Bốn, trong địa phận Vinh, là
nơi tình hình nghiêm trọng nhất. Trong hai chuyến về đây, phái đoàn đã đọc sáu
bài diễn văn trong các cuộc mít tinh quần chúng, đặc biệt trong cuộc đi thăm
hai địa điểm tập trung những người muốn di cư (...) Ở khu Ba, chúng tôi đã tổ
chức ba cuộc mít tinh, trong đó có cuộc mít tinh với dân chúng ở Ba Làng là nơi
đã xảy ra xô xát đổ máu”.[28] Hai người đã đọc ba bài diễn văn ở Phát Diệm, hai ở Hải Phòng và hai ở Hà
Nội, bài cuối cùng ở Nhà hát lớn Hà Nội ngay trước khi họ lên đường. Các bài
nói của họ sau đó đã được in thành tập sách nhỏ bằng tiếng Việt và tán phát tại
các vùng Công giáo. Trong các cuộc gặp gỡ với những cộng đồng giáo dân, phái
đoàn Ba Lan cũng đã phân phát các dụng cụ lễ nghi (kể cả áo lễ) mà người Công
giáo thiếu thốn.
Dễ thấy rằng
những công việc kể trên không mang lại kết quả gì đáng kể, nếu không nói là vô
hiệu. Trong phần kết của bản báo cáo, ta có thể đọc: “Phái đoàn đã tới quá
muộn để có thể ngăn ngừa một cách hiệu quả một hoạt động đã được tiến hành từ
lâu, nhằm tạo không khí xung đột giữa VNDCCH và những giới Công giáo. Hiển
nhiên là lãnh đạo VNDCCH đã không được chuẩn bị để ngăn ngừa hoạt động này một
cách hiệu quả, tuy rằng mùa đông năm ngoái còn có thể làm được gì”. Phải
nói rằng trái ngược với nhận xét này của phái viên Ba Lan, chính quyền Việt Nam
tuy bị bất ngờ vốn đã đẩy mạnh công tác Công giáo vận. Ngay từ đầu tháng bảy
1954, đặc biệt là Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh chính sách bắt tay với người Công
giáo, kêu gọi giáo dân, và khẳng định chính sách của VNDCCH là bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng.[29]
Phái đoàn thừa
nhận đã thất bại vì ở cuối bản báo cáo, họ cho biết “để phản ứng lại chuyến
đi thăm của phái đoàn, một chiến dịch tuyên truyền chống Ba Lan đã được đẩy
mạnh trong giới Công giáo Việt Nam”. Đúng là họ đã sang Việt Nam quá muộn
để hi vọng có thể thuyết phục được ai trong khi mà hàng chục vạn người đã
ra đi. Vả lại, hai người ngoại quốc, không biết tiếng Việt, lại do một chính
quyền đang tìm cách ngăn cản giáo dân ra đi gửi tới, thử hỏi họ làm gì được?
Tất nhiên là không, ngoài sự phản đối mạnh mẽ.
Nhiệm vụ thứ nhì
của phái đoàn là giúp Uỷ ban toàn quốc những người Công giáo yêu Tổ quốc yêu
Hoà bình.[30] Tổ chức này được thành lập ngày mồng 3 tháng ba 1955 theo quyết định của
Mặt trận Tổ quốc, giữa lúc mà giáo dân ồ ạt rời bỏ miền bắc.[31] Cuộc họp bàu ra một Ban chấp hành, với Linh mục Vũ Xuân Kỷ làm chủ tịch,
luật sư Dương Văn Đàm làm phó chủ tịch.[32] Đây không phải là một tổ chức quần chúng, chỉ là một uỷ ban có chức năng “phổ
biến chính sách của nhà nước trong đồng bào Công giáo, động viên đồng bào ủng
hộ chế độ và tham gia các tổ chưcc quần chúng trong Mặt trận Tổ quốc”.[33] Ngay ngày hôm sau, khâm mạng Toà thánh John Dooley và các giám mục giáo
tỉnh miền bắc, trong một lá thư đề ngày 12 tháng ba, đã lên án uỷ ban này, coi
đó là “một hiểm hoạ cho sự thống nhất của Giáo hội Việt Nam”.
Ngay trong bản
báo cáo đầu tiên, các thành viên phái đoàn đã nhận định rằng “uỷ ban này quá
hạn hẹp và quá xa cách những giới Công giáo có ảnh hưởng. Họ cần phải tìm cách
mở rộng cơ sở để tăng thêm tính cách đại diện của mình”.[34] Phái đoàn cho rằng muốn mở rộng ảnh hưởng, cần phải có một nhóm cư sĩ được
đào tạo để triển khai Công giáo vận. Họ đã cung cấp cho Uỷ ban những tư liệu
tuyên truyền trong giới Công giáo của Ba Lan. Ngoài ra, họ cũng tìm cách đưa Uỷ
ban tiếp cận Toà giám mục Hà Nội. Họ xếp đặt một cuộc gặp giữa hai linh mục
lãnh đạo uỷ ban với Giám mục Trịnh Như Khuê là người đã treo chén hai linh mục
này. Quan hệ giữa Uỷ ban và Toà giám mục vẫn tiếp tục căng thẳng.
Trong thời gian
ở Việt Nam, họ đã có mười một buổi làm việc với Uỷ ban, xem ra cũng không mang
lại kết quả. Trong bản báo cáo cuối cùng của phái đoàn, Wojciech Ketrzynski kết
luận như sau: “Một trong những mục đích chính của phái đoàn là tổ chức tại
chỗ một phong trào xã hội Công giáo về lâu về dài có thể đi theo đường lối hợp
tác giữa Giáo hội và chính quyền. Trên thực tế, Việt Nam chưa hề có một phong
trào như vậy. Uỷ ban Công giáo toàn quốc liên lạc với Mặt trận Tổ quốc hiện nay
hết sức thiếu đoàn kết và không có khả năng công tác”.[35]
Ngoài các cuộc
gặp Uỷ ban Công giáo, phái đoàn Ba Lan dành nhiều thời gian để gặp hàng giáo
phẩm, nhất là ở Hà Nội và ở các giáo phận Vinh, Thanh Hoá và Thái Bình là những
nơi quan hệ đặc biệt khó khăn giữa Giáo hội và chính quyền sở tại. Những cuộc
gặp gỡ giữa Giáo hội và Nhà nước đã được tổ chức nhằm “ ngăn ngừa những cuộc
xung đột công khai có thể tác động tai hại về mặt quốc tế ”;[36] Nói chuyện với hàng giáo phẩm, phái đoàn cố gắng thuyết phục họ tin ở khả
năng Giáo hội sống chung với chế độ: phái đoàn thông báo cho họ về tình hình ở
Cộng hoà Nhân dân Ba Lan và trả lời những câu hỏi về “thái độ của người Công
giáo Ba Lan đối với Giáo hoàng, cuộc sống vật chất của hàng giáo phẩm, của các
dòng tu, về khả năng giảng dạy tôn giáo cho con em”.
Cuối cùng và
quan trọng hơn cả, phái đoàn còn có nhiệm vụ thuyết phục các giám mục còn rất
lần khân hãy tiếp xúc với Nhà nước. Trong thời gian ở Việt Nam, các phái viên
Ba Lan đã tổ chức chín cuộc gặp những chức sắc của Giáo hội, cụ thể là giám mục
Hà Nội Trịnh Như Khuê, giám mục Vinh, Trần Hữu Đức, các linh mục Tân,
Liêm và Hiệp, cai quản những địa hạt mà giám mục đã bỏ vào nam (Thanh Hoá, Phát
Diệm và Hải Phòng), và cả hai giám mục người Pháp thuộc dòng Đa Minh (Hedde và
Jacq). Dường như họ không được đón tiếp niềm nở gì cho lắm, nhất là ở Hà Nội,
Vinh và Thanh Hoá. Giám mục Hà Nội đã tỏ thái độ lạnh nhạt nếu không nói là ác
cảm ngay từ lúc đầu: “Giám mục đã tỏ thái độ thù nghịch đối với phái đoàn,
chỉ cho phép hai linh mục cử hành lễ thánh trong một nhà nguyện đóng kín ‘sine
assistentia populi’ [không có giáo dân dự lễ]!”. Với giám mục Vinh
cũng thế. Các giám mục này – phái đoàn đánh giá họ là “phản động” – đã quyết
định ở lại và cương quyết kêu gọi giáo dân đừng bỏ đi.[37]
Nhiệm vụ “góp phần vào sự bình thường hoá quan hệ tôn giáo”
của phái đoàn cũng không thành. Họ đã thất bại trong việc đưa Uỷ ban Công giáo
xích lại gần hàng giáo phẩm. Người đã tổ chức được cuộc gặp gỡ chính thức tháng
tư 1955 giữa phó thủ tướng Phạm Văn Đồng và giám mục Hà Nội không phải là phái
đoàn Ba Lan mà là Nguyễn Mạnh Hà và thư kí của Giám mục là linh mục Phạm Hân
Quynh.[38] Ông Nguyễn Mạnh Hà là một nhân sĩ công
giáo miền Bắc. Người Pháp coi ông là người đứng đầu phe công giáo cấp tiến, có
phần khuynh tả nữa.[39] Khi Hồ Chí Minh thành lập chính
phủ lâm thời liên hiệp dân tộc vào hồi thàng 8 năm 1945, thì theo đề nghị của
Võ Nguyên Giáp, ông Hà đã nhận lời tham gia vào chính phủ và giữ chức bộ trưởng
bộ kinh tế.[40]
Sau khi chiến tranh bùng nổ vào tháng 12 năm 1946, ông vẫn giữ quan hệ tốt với
các nhà lãnh đạo Việt Minh (Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp). Trong
thời kì chiến tranh, nhiều lần chính quyền Pháp đã tiếp cận Nguyễn Mạnh Hà để
tìm cách tiếp xúc với lãnh đạo Việt Minh. Năm 1951, ông bị tướng De Lattre trục
xuất (vì không dung thứ lập trường của ông là chủ trương phải thương lượng với
Việt Minh) và từ đó trở đi, sống ở Paris
với bà vợ người Pháp. Quan tâm cho tình trạng Giáo hội sống dưới chế độ Cộng
sản, tháng bảy 1954, ông sang Genève gặp các nhà lãnh đạo Việt Minh. Ông đề
nghị đứng ra làm trung gian giữa VNDCCH và Giáo hội. Sau đó, ban lãnh đạo chính
phủ có mời ông về Hà Nội hai lần trong năm 1955. Ông có chơi thân với linh mục
Phạm Hân Quynh, là bí thư tòa giám mục, lại được giám mục Hà Nội là Trịnh Như
Khuê nể vì, cho nên ông đã thuyết phục được giám mục đi gặp ban lãnh đạo chính
phủ, để xác định mối tương quan sau này giữa giáo hội và nhà nước. Về điểm này
ta chắc được rằng ông nguyễn Mạnh Hà đã đóng một vai trò quan trọng, vì thực ra
phái đoàng Ba lan không có ảnh hưởng gì cả tới hàng giáo phẩm Việt Nam.
Cuối cùng,
phái đoàn Ba Lan đã tác động thế nào đến pháp chế quy định mối quan hệ giữa
Giáo hội và Nhà nước ? Họ đã có mấy lần gặp những nhà lãnh đạo chính quyền, Hồ
Chí Minh, Phạm Văn Đồng, nhất là Hoàng Quốc Việt, uỷ viên Thường vụ Đảng Lao
động phụ trách các vấn đề Công giáo. Khi mới tới Việt Nam, phái đoàn
đã than phiền là đảng anh em “thiếu một chỉ thị chính trị rõ ràng về vấn đề
Công giáo”.[41]
Rồi họ đưa ra đề nghị thành lập một hội đồng phụ trách các vấn đề thờ cúng và
tôn giáo. Họ cũng tham gia soạn thảo những đạo luật cùng với Bộ tư pháp và luật
sư Dương Văn Đàm. Ít nhất đó là điều Wojciech Ketrzynski viết trong báo cáo: “phái
đoàn đã tích cực tham gia soạn thảo văn bản sắc lệnh về tự do tôn giáo và tự do
tín ngưỡng. Văn bản này đã được phái đoàn sửa đi sửa lại nhiều lần, và về đại
thể mà nói, văn bản cuối cùng là kết quả việc làm của phái đoàn (...). Phái
đoàn cũng đã tham gia việc soạn thảo những điều khoản về Cải cách ruộng đất
liên quan tới tài sản của nhà thờ, và việc giải quyết toàn bộ cơ sở tài chính
của hoạt động Công giáo tại Việt Nam”.[42]
Đúng là
ngày 14.6.1955,[43]
sắc lệnh số 234 về vấn đề tôn giáo đã được Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng ban
hành. Sắc lệnh này bảo đảm “quyền tự do tín ngưỡng và thờ cúng” cũng như
các hoạt động kinh tế, văn hoá và xã hội của các tổ chức tôn giáo (kể cả việc
giảng dạy đạo), và quy định cả cách đối xử đặc biệt cho các tổ chức tôn giáo
trong cải cách ruộng đất. Đúng là có đôi chút cởi mở đối với việc hành đạo
(nhất là ở Hà Nội) năm 1955, nhưng tình trạng này kéo dài không lâu. Hơn nữa,
tình hình khác hẳn ở nông thôn, là nơi Đợt 5 của cuộc Cải cách ruộng đất được
tiến hành một cách quyết liệt.[44]
Còn đối
với phái đoàn Ba Lan, có thể đặt câu hỏi: “họ thực sự đã đóng góp được gì trong
việc soạn thảo các văn bản?”. Chỉ khi nào hồ sơ về công việc chuẩn bị sắc lệnh
về tôn giáo được mở ra công khai ở Thư khố Việt Nam, ta mới có câu trả lời dứt
khoát. Theo ý kiến của người viết bài, thì đó chủ yếu là công lao của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Thật vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm tới việc đoàn kết tôn
giáo, đặc biệt là Công giáo. Mặt khác, đóng góp của phái đoàn Ba Lan dù sao
cũng hạn chế: các nước Dân chủ Nhân dân đều bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng
theo mô hình của Hiến pháp Liên Xô.[45]
Trong tác phẩm La Société
retrouvée. Politique et religion dans l’Europe sovietisée (Xã hội tìm lại
được mình. Chính trị và tôn giáo ở Châu Âu xô-viết hoá), nhà xã hội học Patrick
Michel cho rằng tất cả vấn đề tuỳ thuộc cách diễn giải và áp dụng đạo luật này.
"Thái độ của các chế độ (kiểu Xô viết) đối với tôn giáo ở mọi nơi đều
tuân theo một nguyên tắc đơn giản: không cho phép bất cứ một sinh hoạt tôn giáo
nào ở ngoài vòng kiểm soát của Nhà nước".[46]
Sự hợp tác Ba Lan - Việt
Nam về những vấn đề tôn giáo và những hạn chế của nó(tháng chín 1955 – tháng
chạp 1956)
Còn sự hợp
tác của Ba Lan trong thời gian sau đó ? Thật ra mà nói, các đề nghị của cố vấn
Ba Lan cũng không mang lại kết quả đáng kể nào. Chẳng hạn phía Việt Nam yêu cầu
đại sứ Ba Lan Pietka kín đáo gửi sang (với cương vị phóng viên một tờ báo Công
giáo, tránh dùng một chức vị quan phương) “ một cư sĩ Ba Lan từng trải có
khả năng giúp lãnh đạo và Uỷ ban Công giáo trong vấn đề quan hệ Giáo hội – Nhà
nước, tổ chức Uỷ ban Công giáo và trong công tác Công giáo vận ”, hình như
không đi tới đâu. Tương tự, phía Ba Lan đề nghị mời những linh mục Việt Nam “chín chắn và tiến bộ ” sang Ba Lan
học ở Trường đại học Thần học, cũng như đề nghị gửi sang Việt Nam những linh mục “ tiến bộ để giúp đào tạo
linh mục Việt Nam
trong tinh thần dân chủ”[47]
cũng không có kết quả.
Về phía Ba Lan có thể đơn giản là vì khó tìm ra
những người sẵn sàng đi Việt Nam mà lại có khả năng, nhất là mùa xuân 1955 hàng
giáo phẩm cũng như giáo dân Việt Nam đã tỏ ra nghi kị phái đoàn Ba Lan như thế
nào. Về phía Việt Nam,
sau tháng bảy 1956 không còn hi vọng sớm thống nhất đất nước, và làn sóng di cư
cũng giảm đi, nên vấn đề Công giáo bớt quan trọng như trước. Sự hợp tác về tôn
giáo với người Công giáo Ba Lan có lẽ bị coi là không đáng kể, so với sự hợp
tác kinh tế hết sức quan trong với toàn bộ khối cộng sản.
Duy nhất
có kết quả là đề nghị gửi sang Việt Nam tài liệu tuyên truyền về quan
hệ giữa Giáo hội và Nhà nước Ba Lan, và đề nghị gửi sách thần học tiếng Latinh,
đồ lễ như rượu lễ, bánh thánh. Song quan trọng nhất còn lại là sự trao đổi giữa
Uỷ ban Công giáo Yêu nước của hai nước. Thật vậy, mùa thu năm 1955 (từ 7 tháng
mười đến 5 tháng chạp 1955), một phái đoàn Việt Nam đã sang thăm Ba Lan. Năm sau,
dự án gửi một phái đoàn chuyên gia về vấn đề tôn giáo sang Ba Lan vào mùa thu
đã không thành.[48]
Ba thành viên của Uỷ ban Công giáo Yêu nước (luật sư Dương Văn Đàm, linh mục
Nguyễn Thành Tiến, linh mục Võ Thành Trinh) và thư kí Nguyễn Văn Đạt (chắc là
người của Đảng có nhiệm vụ theo dõi họ) đã được hội Pax Ba Lan tiếp đón. Ngoài
các cuộc gặp gỡ giữa hai tổ chức, phái đoàn Việt Nam đi thăm những thành phố lớn và
các thánh đường.
Năm 1956,
dự án gửi “một phái đoàn cán bộ Việt Nam chuyên gia về vấn đề tôn giáo”[49]
sang Ba Lan vào tháng 10 và 11 để làm việc về tư liệu Công giáo vận rốt không
được thực hiện. Cuối cùng, một phái đoàn Uỷ ban Công giáo đã sang thăm Ba Lan
vào tháng 10, sau khi đi thăm Cộng hoà Dân chủ Đức. Trong một bản ghi đề ngày
26.9.1956, vụ trưởng Vụ V Bộ ngoại giao ở Warszawa, Jerzy Gora tường trình cuộc
gặp Hoàng Lương, Bí thư Đại sứ quán Việt Nam: phía Việt Nam than phiền về hai
linh mục Hồ Thành Biên và Vương Đình Hải. Hai linh mục thuộc Uỷ ban Công giáo
bị quy kết là trong thời gian ở Berlin,
“họ đã tìm cách liên lạc với những linh mục (người Đức) chỉ trích tình hình
tôn giáo ở Cộng hoà Dân chủ Đức ”. Đối với phía Việt Nam, đây là một
sai phạm nghiêm trọng, nên họ yêu cầu phía Ba Lan thu xếp để cho hai linh mục
này tiếp xúc với những linh mục Ba Lan yêu nước “tốt”.[50]
Tôi không tìm ra một bản báo cáo nào về chuyến đi này. Song, trong một bản ghi
đề ngày 22.11.1956 về cuộc gặp Hoàng Lương, bí thư Đại sứ quán Việt Nam tại Ba
Lan, Bộ ngoại giao Ba Lan được thông báo “ nhà cầm quyền Việt Nam đã quyết
định hoãn lại cuộc đi thăm Việt Nam của phái đoàn Công giáo Ba Lan. Lí do bí
thư sứ quán Việt Nam
đưa ra là ông chưa lên được chương trình thăm viếng, và sứ quán sẽ thông báo
cho Bộ ngoại giao ngay khi vấn đề trở thành hiện thực”.[51]
Qua bản
báo cáo này, ta có thể cảm thấy tình hình chính trị ở miền Bắc đã căng hơn, khi
vai trò của Đảng bị đặt thành vấn đề sau Đại hội thứ XX của Đảng Cộng sản Liên
Xô (tháng 2.1956). Thật vậy, từ mùa thu 1956 trở đi, chính phủ VNDCCH bị phê
bình mạnh mẽ về những bạo hành trong cải cách ruộng đất. Nhà báo Pháp Georges
Chaffard đã viết về thời điểm 1956 hết sức nguy kịch của VNDCCH như sau: “1956
được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng cải cách ruộng đất đã làm rúng động và suy
yếu nghiêm trọng những cơ cấu chưa vững mạnh gì cho lắm của chế độ. (...)
Ở khắp nơi, cuộc cải cách ruộng đất đã được tiến hành một cách thô bạo và thiếu
hiểu biết, làm cho làn sóng bất mãn lan tràn cả nước, có nơi đã biến thành nổi
dậy (...). Sự bất mãn đạt tới cao điểm đúng vào lúc nổ ra biến cố Budapest và “
tháng mười Ba Lan ” làm chấn động cả Thế giới Cộng sản”.[52]
Trong bối cảnh ấy, có lẽ các linh mục nghĩ họ có thể đi gặp những người có quan
điểm phê phán về tình hình tôn giáo và chính trị ở Trung Âu. Đúng là lúc đó,
tình hình châu Âu đang sôi sục với cuộc nổi dậy ở Berlin tháng sáu 1953, cuộc
nổi dậy ở Poznan tháng sáu 1956, cuộc khởi nghĩa ở Budapest tháng mười 1956,
tất cả đều bị thẳng tay đàn áp.
Chính phủ
Việt Nam
đã chọn giải pháp hoãn lại cuộc đi thăm của phái đoàn Công giáo Ba Lan. Trong
thư khố, tôi không tìm ra thêm hồ sơ nào về sự giao lưu giữa Uỷ ban Công giáo
của hai nước. Tuy đang là thời kì Trăm hoa đua nở và áp dụng chính sách tương
đối cởi mở đối với Giáo hội Công giáo năm 1957,[53]
chính quyền đã quyết định chấm dứt cuộc thử nghiệm giao lưu của người Công
giáo. Họ lo ngại truyền nhiễm mầm mống nổi dậy và phản kháng từ Trung Âu.
Vả lại, với tình hình nguy hiểm ở miền Bắc Việt Nam vào cuối năm 1956, đặc biệt
ở các vùng Công giáo, khó có thể tính tới chuyện mời một phái đoàn Ba Lan sang
thăm.
Thật vậy, tháng
11.1956, một số báo cáo đã nói tới những sự cố xảy ra ở những vùng đông giáo
dân. Cuộc nổi dậy được biết đến nhiều nhất xảy ra vào tháng 11.1956 ở Quỳnh
Lưu, thuộc tỉnh Nghệ An, quê quán Hồ Chí Minh, có nguy cơ lan truyền sang các
vùng chung quanh. Vì bị phân biệt đối xử trong cải cách ruộng đất, một số
giáo dân đã đem bán ruộng đất và súc vật. Theo chính quyền, giáo dân do sức ép
của hàng giáo phẩm đã tập hợp đông đảo, nơi 300 người, nơi 500 người, có mặt
nhiều thanh niên. Ngày 12 và 13 tháng 11, hàng trăm người Công giáo đã tụ tập
đòi quyền di cư vào nam, hô khẩu hiệu “Đả đảo cải cách ruộng đất!”, “Đả đảo
Cộng sản, đả đảo Trung Cộng!”, “Đả đảo Nga Sô!”, “Đức Mẹ muôn năm!”. Vẫn theo
báo cáo này, đã xảy ra đụng độ với bộ đội, kết quả là mỗi bên có 5 người chết
và nhiều người bị thương.[54] Vài ngày sau, Hồ Chí Minh công bố quyết định sửa sai (cuộc sửa sai sẽ kéo
dài đến cuối năm 1957) và thừa nhận đã có nhiều sai phạm trong cuộc cải cách
ruộng đất.
Kết luận
Để kết luận, tôi
muốn nhấn mạnh trên hai điểm quan trọng. Điểm thứ nhất là tính đặc thù của
chính sách tôn giáo của VNDCCH, nhất là so với Trung Quốc. Điểm thứ nhì
là quan điểm độc đáo của Ba Lan về một giai đoạn then chốt của lịch sử VNDCCH.
Câu hỏi thứ nhất
là: trong chừng mực nào người Ba Lan đã ảnh hưởng tới Đảng Lao động Việt Nam
trong chính sách tôn giáo và trong chừng mực nào VNDCCH khác chính sách của
Trung Quốc đối với Giáo hội Công giáo? Qua hồ sơ lưu trữ của Ba Lan, có thể nói
ảnh hưởng của Ba Lan trên sinh hoạt tôn giáo ở miền bắc Việt Nam rất là giới
hạn. Thực vậy, cái trọng trách mà chính phủ VNDCCH giao cho phái đoàn Ba Lan là
làm sao cho người công giáo miền Bắc thôi không di cư vào Nam nữa. Về điểm này
họ đã thất bại. Họ lại không thành công trong việc giúp cho Ủy ban người công
giáo yêu nước và yêu hòa bình được thêm uy tín trong giới công giáo và liên lạc
được với hàng giáo phẩm một cách ổn thỏa hơn. Sau cùng thì vai trò của họ trong
việc lập ra các luật về tôn giáo xem ra có kết quả đáng kể, nhưng ta còn cần
tham khảo các bản văn dự thảo còn chứa trong văn khố Việt Nam, mới có thể đánh
giá được cho đúng.
Hiển nhiên, việc
chính quyền VNDCCH kiểm soát hết sức chặt chẽ sinh hoạt tôn giáo chẳng có gì là
độc đáo trong khối các nước cộng sản: kiểm soát các giáo phẩm và linh mục,
thành lập Uỷ ban Công giáo Yêu nước, hạn chế việc giảng dạy giáo lí, hạn chế
báo chí...
Nhưng về mặt
pháp chế, VNDCCH có chính sách tôn giáo riêng của mình. Chính quyền Việt Nam có
kinh nghiệm lâu năm trong cuộc chiến tranh chống Pháp giành độc lập. Những quy
định pháp luật năm 1955 về quan hệ Giáo hội / Nhà nước tỏ ra khá phóng khoáng
so với các nước cộng sản khác. Văn kiện này do người Việt Nam viết ra, trong đó
có thể thấy rõ dấu ấn của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng là những người luôn luôn
tỏ ra thông hiểu và cởi mở đối với tôn giáo.[55] Trong hoàn cảnh đó dĩ nhiên là ý kiến của của người Ba lan cũng có ảnh hưởng
thuận theo một chiều như thế. Tất nhiên, giữa văn bản và thực
tiễn, có cả một khoảng cách !
Như nhà xã hội
học Patrick Michel đã chỉ rõ, các nước cộng sản đều có cùng một hệ tư tưởng về
tôn giáo nhưng mỗi nước thích nghi nó vào hoàn cảnh riêng của mình. Đồng thời,
các giáo hội cũng “ý thức là nhất thiết phải có tầm nhìn dài hạn và chấp
nhận sự thoả hiệp tối thiểu trong giai đoạn chuyển tiếp”. Ông còn
thêm: “Thái độ của chính quyền cũng tuỳ vào suy tính của họ xem Giáo hội có
lợi cho họ như thế nào so với những mục tiêu mà Đảng đề ra. Nếu Giáo hội không
mang lại lợi ích gì đối với các mục tiêu ấy thì nên thủ tiêu Giáo hội. Ngược
lại, thì Giáo hội hoặc là phải chấp nhận hợp tác và như thế sẽ được bảo vệ,
hoặc là từ chối hợp tác hoặc hợp tác miễn cưỡng, và sẽ bị đàn áp ”. Theo
Michel, quan hệ Giáo hội / Nhà nước ở các nước Đông Âu đã đi theo lô-gic thứ
nhì.[56]
>Trong trường hợp VNDCCH, tôi cho rằng các mục tiêu của
Đảng cộng sản trong thập niên 50 đòi hỏi phải tranh thủ người Công giáo, ít
nhất hai lần: lần thứ nhất là trong cuộc kháng chiến giành độc lập, lần thứ nhì
trong giai đoạn đấu tranh thống nhất đất nước 1954-1956. Chính quyền không có ý
định đặt Giáo hội ra ngoài vòng pháp luật, nhưng mục tiêu dài hạn là nhằm biến
Giáo hội thành công cụ của Nhà nước, tiếp tục chính sách của thời kỳ kháng
chiến chống Pháp. Vì Giáo hội Công giáo còn “có ích”, nên chính sách của VNDCCH
đối với Công giáo là cởi mở về mặt lí thuyết, như thể hiện trong sắc
lệnh tháng sáu 1955.
Vì vậy có thể
nói chính sách tôn giáo của VNDCCH gần gũi chính sách của các nước Đông Âu cũ
hơn là với Trung Quốc. VNDCCH theo mô hình mác xít Trung Quốc trong việc tổ
chức đảng, trong cải cách ruộng đất, nhưng không theo mô hình Trung Quốc trong
chính sách tôn giáo. Thật vậy, Trung Quốc là quốc gia duy nhất đã lập ra được
một Giáo hội độc lập (với Vatican). Vả lại, như Eric O. Hanson nhận xét, Trung
Quốc mênh mông rộng lớn, nên “Giáo hội Công giáo tuyệt đối không có ý nghĩa
gì cả trong chính sách nội trị quốc gia của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”.[57] Trong khi đó, Giáo hội Công giáo Việt Nam có một trọng lượng lớn hơn trong
lịch sử Việt Nam, cho dù người Cộng sản vẫn luôn luôn coi nó như một công cụ,
chứ không coi là một đối tác. Về vấn đề này các đồng chí Ba lan xem ra cũng có
chút ảnh hưởng nào đó.
Cuối cùng, điểm
thứ nhì tôi muốn nhấn mạnh là thư khố Ba Lan soi một tia sáng mới vào những năm
độc lập đầu tiên của VNDCCH. Trong thời kì 1955-1956, các nhà ngoại giao Ba Lan
ở Hà Nội đã cố gắng khách quan và không ngần ngại phê phán các đồng chí Việt
Nam của họ. Các bản báo cáo của họ mô tả một cách cân bằng tình hình nội trị
miền Bắc Việt Nam. Điều đáng chú ý là họ đã muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao
dân chúng miền bắc đã ồ ạt di cư vào nam. Cố nhiên, họ đã nhấn mạnh vào chiến
dịch tuyên truyền của Mĩ-Pháp cũng như ảnh hưởng xấu của “hàng giáo phẩm phản
động”. Như nguyên nhân kinh tế của cuộc di cư cũng được chú trọng. Họ nhấn mạnh
tới tình hình kinh tế nguy ngập của vụ đông-xuân 1955 và trách nhiệm của các
đồng chí Việt Nam.
Cũng nên
ghi nhận rằng những nhận định có tính chất phê phán nói trên (về chính sách tôn
giáo cũng như về chính sách nói chung của VNDCCH) được phát biểu từ đầu năm
1955, tức là một thời gian dài trước Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô. Đó
là một bằng chứng về cách nhìn thoáng của các đại diện Ba Lan. Nghiên cứu thư
khố Ba Lan về giai đoạn sau đó chắc sẽ giúp chúng ta thêm hiểu biết về lịch sử
Việt Nam
đương đại, về mặt nội trị cũng như trên bình diện quốc tế.
(bài do Nguyễn Ngọc Giao dịch từ
nguyên văn tiếng Pháp)
[1] Archiwum Ministerstwa Spraw Zagranicznych
(AMSZ), Lưu trữ Bộ Ngoại giao, Vụ V, Zespol 12, Teczka 613, Wiazka 26:
Báo cáo về hoạt động của phái đoàn Công giáo tại Việt Nam từ ngày 13.04 đến
ngày 30.05.1955, Hà Nội, mang chữ kí của Wojciech Ketrzynski.
[2] Pax là một hội đoàn tập hợp những linh
mục và tín đồ Công giáo Ba Lan tán thành chính sách mới của chế độ Cộng sản Ba
Lan, ra đời ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Boleslaw Piasecki
(1915-1979), người sáng lập Pax, cho rằng hợp tác với Cộng sản là cách để cải
tổ chế độ từ bên trong.
[3] Phần lớn là báo cáo của những đại biểu Ba
Lan trong Uỷ hội Quốc tế Giám sát và Kiểm soát (ICSC). Ba Lan được Hội nghị
Genève cử vào Uỷ hội. ICSC có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành hiệp định quân sự,
đặc biệt là việc tập kết quân đội hai bên ở miền bắc và miền nam vĩ tuyến 17.
Nó còn có nhiệm vụ giám sát giải pháp chính trị quy định trong Bản tuyên bố
cuối cùng của Hội nghị, theo đó một cuộc tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức
vào tháng 7.1956 để thống nhất đất nước. Ba thành phần Uỷ hội quốc tế phản ánh
tương quan lực lượng quốc tế lúc đó: Ba Lan đại diện cho khối cộng sản, Canada
khối tư bản, và Ấn Độ quốc gia “đang trỗi dậy“, lãnh đạo các nước trung lập. Do
đó, sự có mặt tại chỗ của người Ba Lan trong Uỷ hội là nguồn thông tin quý báu
của đại sứ quán Ba Lan. Tháng ba 1955, phái đoàn Ba Lan có tổng cộng 160 nhân
viên. Về ICSC, có thể
xem Ramesh Thakur, Peacekeeping and Foreign Policy: Canada, India, and the
International Commission in Vietnam 1954-1965, Brit. J International
Studies 6 (1980), 125-153, song vì thiếu tư liệu, tác giả ít nói gì về Ba Lan.
[4] Song song với chính sách đoàn kết
dân tộc này, VM không ngần ngại áp dụng những phương pháp triệt để đập tan
những đảng phái quốc gia đối thủ. Xem bài của François Guillemot, "Au
coeur de la fracture vietnamienne: l’élimination de l’opposition nationaliste
et anti-colonialiste dans le Nord-Vietnam (1945-1946)" (Trung tâm điểm
của sự chia rẽ giữa người Việt Nam: việc tiêu diệt phe đối lập quốc gia chủ
nghĩa và chống thực dân ở Bắc-Việt (1945-1946), trong The birth of a
Party-State, Vietnam since 1945, do Benoît de Treglodé và Christopher
Goscha chủ biên, Paris, Les Indes Savantes, 2004, tr. 175-216.
[5] Về quan hệ giữa những nhân vật Công
giáo và những nhà lãnh đạo Việt Minh, xem Trần Thị Liên, “ Les catholiques
vietnamiens et la RDVN (1945-1954): une approche biographique ” (Người Công
giáo Việt Nam và VNDCCH (1945-1954): tiếp cận qua những tiểu sử nhân vật) trong
The birth of a Party-State, Vietnam since 1945, do Benoît de Treglodé và
Christopher Goscha chủ biên, Paris, Les Indes Savantes, 2004, tr. 253-276.
[6] ASHAT INDO 10 H 4191: Chỉ thị cấm
xung công nơi thờ cúng vì mục đích chiến tranh, Nguyễn Bình, số 413/TS,
14/7/1947.
[7] ASHAT INDO 10 H 4191: SDECE BR n°
15699/8, 9/9/1949, truyền đơn mang chữ kí của Ung Văn Khiêm, uỷ viên Uỷ ban
Hành chính Kháng chiến Nam Bộ, phụ trách nội vụ.
[8] Bulletin de la Société des MEP, 4/1949, n°10, Đoàn thừa sai Bắc Kì, G. LEBOURDAIS, 14/2/1949, tr.
208-209.
[9] Theo cùng một đạo với thực dân, người Công
giáo bị coi là nguyên nhân của cuộc xâm lược. Song đạo Ki tô không vào Việt Nam
cùng một lúc với quân đội Pháp, mà từ thế kỉ XVI với những giáo sĩ Dòng Tên
người Bồ Đào Nha. Từ thế kỉ XVII trở đi, Ki tô giáo lan truyền ở Việt Nam nhờ
hoạt động của giáo sĩ Dòng Tên của thành phố Avignon, Alexandre de Rhodes, và
của những linh mục dòng Đa Minh người Tây Ban Nha. Trước sự thù nghịch của
chính quyền quân chủ Việt Nam đối với một tôn giáo ngoại lai, Vatican cố gắng
làm thế nào để Giáo hội không bị đồng hoá với hai thế lực thực dân lớn của thời
đó (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha). Theo đề nghị của Dòng Tên, Vatican trao cho
Dòng Thừa sai Paris (một dòng tu Pháp) nhiệm vụ truyền giáo ở Việt Nam. Nhưng
một thế kỉ sau, chính các giáo sĩ Thừa sai đã cầu cứu quân đội Pháp để chấm dứt
việc đàn áp Công giáo. Vì vậy mà người Công giáo Việt Nam bị mang tiếng. Về vấn
đề này, xin xem bài phát biểu của tôi tại cuộc họp Réseau Asie tại
Paris, 25-26/9/2003: "De la notion loyauté/déloyauté à la notion
d’engagement politique: les catholiques vietnamiens en période coloniale"
(Từ khái niệm trung/bất trung đến khái niệm dấn thân chính trị: người Công giáo
Việt Nam dưới thời thực dân).
[10] Phải nói thêm rằng người Công giáo không
họp thành một khối "nhất phiến". Năm 1945, họ tham gia nhiều đảng
phái chính trị khác nhau, từ quốc gia đến Cộng sản. Năm 1949, có 3 xu hướng: xu
hướng chủ đạo tập hợp chung quanh Ngô Đình Diệm và các giám mục miền bắc, một
nhóm thiểu số ủng hộ Bảo Đại, và một thiểu số ủng hộ Việt Nam (đặc biệt ở miền
nam). Về vấn để này, xem luận án của tôi: Trần Thị Liên, Les catholiques
vietnamiens pednant la guerre d’indépendance (1945-1954). Entre la reconquête
coloniale et la résistance communiste, luận án tiến sĩ sử học, Viện khoa
học chính trị Paris, 1997, 1177 trang.
[11] Xem Ralph B. Smith, An
International History of the Vietnam War, Vol 1 Revolution versus
Containment, 1955-1961, Macmillan Press, London, 1983, tr 55-69: Hanoi and
Reunification.
[12] ASHAT Fonds Gambiez, 1 K 540 Carton
16, Báo cáo về tình hình người tị nạn ở Bắc Việt của Giám mục Phạm Ngọc Chi,
cai quản địa phận Bùi Chu, phụ trách về ngươì di cư Bắc Việt, tháng mười 1955,
gửi Bộ truyền giáo Roma, 14 trang. Trong tổng số 860 206 người di cư vào nam,
676 348 là giáo dân.
[13] Cộng hoà Nhân dân Ba Lan đã thừa
nhận VNDCCH từ năm 1950, như phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng mãi sau
Hiệp định Genève, Ba Lan mới gửi đại sứ đầu tiên sang Việt Nam. AMSZ,
Departament V, Z11, T675, W47, Bangkok ; 30/1/1950, N° PV/511-NG, Đại diện Việt
Nam tại Thái Lan Nguyễn Đức Quỳ gửi Bộ ngoại giao CHND Ba Lan – Thư của Hoàng
Minh Giám, 23/1/1950.
[14] AMSZ, Departament V, Z12, T612,
W26, AH 36 14 W55, Báo cáo của R. Cielewicz, thuyền trưởng tầu Jan Kilinski,
7/4/55. Xem thêm Miroslaw Jurdzinski, Transport zolnierzy Wietcongu na
statku ss „Kilinski” w latach 1954-1955 (Chuyên chở bộ đội Việt Cộng trên
tàu Kilinski 1954-1955), Nautologia 2001 n°1-2 (136), tr.18-21. Tổng cộng,
chiếc tàu Ba Lan đã chở khoảng 85 000 người, 3 500 tấn thiết bị quân sự và 250
tấn đạn dược.
[15] AMSZ, Departament V, Z12, T608,
W25: AH/242/1/W/55 Hanoi, 14/5/1955, Đại sứ Pietka: Báo cáo chính trị từ
20/12/1954 đến 10/1/1955.
[16] Phái viên trong phái đoàn Ba Lan đi
thăm Việt Nam
tháng tư-năm 1955 cũng nhận định tương tự: “ Cuộc sống vật chất, và trước
hết là tình hình lương thực nguy kịch là một trong những nguyên nhân của cuộc
di cư (cho dù tuyên truyền rất hiệu quả của Mĩ-Pháp là nguyên nhân quan trọng
nhất) ”. AMSZ, Departament V, Z12, T613, W26: Báo cáo hoạt động của Đoàn
đại biểu Công giáo Ba Lan đi thăm Việt Nam (từ 13 đến 19/4/1955), Hà Nội,
19/4/1955, mang chữ kí của P. J. Keller, P. Suwala và W. Ketrzynski.
[17] AMSZ, Departament V, Z12, T608,
W25: Đại sứ Pietka, Hà Nội, 10/4/1955 Báo cáo tháng ba: “ Một trong những
khó khăn lớn nhất mà các đồng chí của chúng ta gặp phải, là nguy cơ xảy ra nạn
đói (...) Hiện nay, viện trợ của CHNDTH đã tới nơi, nhưng không đủ đáp ứng nhu
cầu. Vụ mùa tháng năm không khả quan vì hạn hán kéo dài ”.
[18] AMSZ, Departament V, Z12, T606,
W25, Tel n°101050, Hà Nội, 20/4/1955, kí tên Ogrodzinski.
[19] AMSZ, Departament V, Z12, T608, W25
Đại sứ Pietka, Hà Nội, 2/5/1955, Báo cáo tình hình tháng tư: “Cuối tháng tư
tình hình được cải thiện một chút nhờ gạo, gà và khoai lang gửi từ Trung Quốc
đã sang tới nơi ”.
[20] AMSZ, Departament V, Z12, T1235,
W63: Đại sứ Jerzy Grudzinski, New Delhi,
27/4/1955, Báo cáo số 243/10/55 gửi Bộ ngoại giao Warsaw. Ngoài ra, đại sứ Ba Lan còn báo cáo
yêu cầu của một số giáo dân đã di cư vào nam “ thất vọng vì không được cấp
phát ruộng đất và trầu cày như chính quyền Bảo Đại đã hứa hẹn, yêu cầu được trở
lại miền bắc ”.
[21] ASHAT Fonds Gambiez, 1 K 540 Carton
16, Báo cáo không kí tên, Hải Phòng, 25/2/1955: Người di cư ở Bắc Việt, tr. 5.
Báo nói tới một cuộc xô xát có đổ máu, trong đó số giáo dân bị chết hoặc bị
thương có thể lên tới 50 người.
[22] AMSZ, Departament V, Z12, T608,
W25, AH/242/4/W/55 Đại sứ Pietka, Báo cáo chính trị.
[23] AMSZ, Departament V, Z12, T613,
W26: Báo cáo hoạt động của Phái đoàn Công giáo Ba Lan ở Việt Nam, từ ngày 13
tháng tư đến ngày 30 tháng năm 1955, Hà Nội, kí tên Wojciech Ketrzynski: “ Cần
phải li gián người Công giáo với miền Nam, giữ họ trong phe dân chủ, điều này
rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh thống nhất đất nước ”.
[24] Về Hiệp định Genève và bối cảnh
quốc tế của việc chia cắt Việt Nam,
xem Ralph B. Smith, An International History of the Vietnam War, Vol. I,
Revolution versus Containment, 1955-1961, Macmillan Press, London, 1983, tr. 19-33: The Geneva Partition.
[25] AMSZ, Departament V, Z12, T613,
W26: Báo cáo hoạt động của Phái đoàn Công giáo Ba Lan tại Việt Nam (từ 13 đến
19/4/1955), Hà Nội, 19/4/1955, kí tên P. J. Keller, P. Suwala và W. Ketrzynski.
[26] như trên.
[27] AMSZ, Departament V, Z12, T613,
W26: Báo cáo hoạt động của phái đoàn Công giáo Ba Lan ở Việt Nam từ ngỳa 13.4
đến 30.5.1955, Hà Nội, kí tên Wojciech Ketrzynski.
[28] Xem phần dưới.
[29] Pierre Gheddo, Catholiques et
bouddhistes au Vietnam, Paris, Alsatia, 1970, tr. 108. Hồ Chí Minh đã lên
tiếng về vấn đề này vào tháng bảy, tháng mười rồi tháng chạp 1954. Nhân dịp lễ
Giáng sinh, ông gửi thư cho người Công giáo, cam kết bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng và hứa huỷ bỏ lệnh thiết quân luật trong để giáo dân có thể dự lễ thánh
nửa đêm.
[30] Trong bản báo cáo đầu tiên, đại sứ Ba Lan
viết chính ông đã gợi ý với các quan chức Việt Nam khi họ yêu cầu Ba Lan giúp
đỡ, là nên "thành lập một hội những người Công giáo Yêu nước nhằm kích
thích long yêu nước trong giới linh mục Việt Nam". AMSZ, Departament
V, Z12, T608, W25, Hà Nội, 14/1/1955, Đại sứ Pietka: Báo cáo chính trị từ
20/12/1954 đến 10/1/1955.
[31] AMSZ, Departament V, Z12, T608, W25, Hà
Nội, 10/4/1955, Đại sứ Pietka, Báo cáo chính trị tháng ba.
[32] Ban thường vụ gồm 8 linh mục và 21 cư sĩ.
Uỷ ban ra tờ báo Chính Nghĩa.
[33] Stephen Denney, "The
Catholic Church in Vietnam" trong Pedro Ramet, Catholicism and
Politics in Communist Societies, Duke University Press, London, 1990, tr.
273.
[34] AMSZ, Departament V, Z12, T613,
W26: Báo cáo hoạt động của phái đoàn Công giáo Ba Lan ở Việt Nam (từ 13 đến
19/4/1955), Hà Nội, 19/4/1955, kí tên LM J. Keller, LM Suwala và W. Ketrzynski.
[35] AMSZ, Departament V, Z12, T613,
W26: Báo cáo hoạt động của phái đoàn Công giáo ở Việt Nam từ ngày 13.4 đến ngày
30.5.1955, Hà Nội, kí tên Wojciech Ketrzynski.
[36] Xem những trang sau.
[37] AMSZ, Departament V, Z12, T613,
W26: Báo cáo hoạt động của phái đoàn Công giáo ở Việt Nam từ ngày 13.4 đến ngày
30.5.1955, Hà Nội, kí tên Wojciech Ketrzynski. Về giám mục Vinh: "Đây
là một linh mục tuổi khá cao, với quá khứ chính trị rất phản động. Ngày nay ông
tỏ ra biết điều và thận trọng (...) Ông đã tuyên bố dứt khoát là sẽ ở lại cai
quản giám phận, và khẳng định là ông chống lại việc di cư", đặc biệt
là nói với với các chủng sinh Đại chủng viện Vinh, là chủng viện duy nhất còn
mở cửa.
[38] Phỏng vấn Nguyễn Mạnh Hà và linh
mục Phạm Hân Quynh (Ivry, ngày 15/5/1989).
[39] Vào thời chế độ bảo hộ, thì năm 1945 ông
Hà còn làm thanh tra lao động ở Hải phòng. Người công giáo biết ông là người
sáng lập ra phong trào Thanh niên Lao động Công giáo (Jeunesse Ouvrière
Chrétienne) tại Hải Phòng. Trước đó vào những năm 20 và 30, khi còn là sinh
viên, ông đã tham gia vào phong trào Công giáo Tiến hành bên Pháp, cho nên khi
tốt nghiệp trường Luật, ông về Việt Nam năm 1937, thì rất chú trọng đến vấn đề
xã hội. Ong tìm cách truyền bá học thuyết xã hộ của Giáo hội trong giới công
giáo, đồng thời hoạt đông để cho công giáo có mặt trong giới thợ thuyền ở Hải
phòng là thành phố hải cảng (Xem: "Nguyen Manh Ha: A voice for neutral
solution in South Vietnam (1954-1957)", AAS Annual Meeting, Chicago,
March 2001, chưa in)
[40] Có nhiều lý do giải thích vì sao ban lãnh đạo cộng sản đã lựa chọn như
thế. Vì muốn kéo người công giáo đi theo, cho nên họ chọn một nhân vật công
giáo cấp tiến. Lại vì muốn đi đến độc lập bằng phương pháp ưu tiên là điều đình
với chính quyền Pháp, cho nên họ nhận ra ông Hà là người có thể giúp họ tiếp
xúc với chính phủ Pháp do thủ tướng Georges Bidault lãnh đạo, mà ông này lại là
một người dân chủ công giáo, chủ tịch đảng Cộng hòa Nhân dân (Mouvement
Républicain Populaire). Năm 1946, ông Hà được cử đi dự hội nghị Fontainebleau,
vai trò của ông là móc nối, vì một đàng thì ông có nhiều liên lạc với giới công
giáo, một đàng thì vì bà Nguyễn Mạnh Hà là người Pháp, là con gái ông Georges
Marrane, là một nhân vật quan trọng trong đảng Cộng sản Pháp: ông là nghị sĩ và
làm bộ trưởng bộ Y tế năm 1946 ( Xem: Trần thị Liên, "Les catholiques
vietnamiens et la République démocratique du Vietnam (1945-1954): une approche
biographique", Naissance d’un parti-Etat, le Vietnam depuis 1945,
dir. Par Benoit Treglodé et Chirstopher Goscha, Paris, Les Indes Savantes,
2004, p. 258-260).
[41] AMSZ, Departament V, Z12, T613, W26: Báo
cáo hoạt động của Phái đoàn Công giáo ở Việt Nam (từ ngày 13 đến ngày
19/4/1955), Hà Nội, 19/4/1955, kí tên Cha J. Keller, Cha Suwala và W.
Ketrzynski.
[42] AMSZ, Departament V, Z12, T613,
W26: Báo cáo hoạt động của phái đoàn Công giáo ở Việt Nam từ ngày 13.4 đến ngày
30.5.1955, Hà Nội, kí tên Wojciech Ketrzynski.
[43] AMSZ, Departament V, Z12, T608,
W25: AH/242/7/W/55 Hà Nội, 15/8/1955, Đại sứ Tomasz Pietka, Báo cáo chính trị
tháng ba.
Xem Les
Catholiques en République Démocratique du Viet Nam, Editions en Langues
Etrangères, Hanoi, 1963, tr 19 và 32.
[44] Pierre Gheddo, Catholiques et
Bouddhistes au Vietnam, Paris, Alsatia, 1970, tr. 108-112.
[45] Hiến pháp năm 1936 của Liên Xô, điều 124:
"Nhằm bảo đảm cho công dân quyền tự do tín ngưỡng, Giáo hội ở Liên Xô
tách biệt khỏi Nhà nước, trường học tách biệt khỏi Giáo hội. Mọi công dân đều
có quyền tự do thờ cúng theo tín ngưỡng và có quyền tuyên truyền chống tôn giáo"
trong Cécile Vaisse, Le prix de la survie. Les relations entre l’Eglise
russe orthodoxe et le pouvoir politique depuis 1917, luận văn cao học
Nghiên cứu về Liên Xô và Đông Âu, IEP, Paris, 1993, tr.121.
[46] Patrick Michel, La Société retrouvée.
Politique et religion dans l’Europe soviétisée, Paris, Fayard, 1988, tr.
38.
[47] AMSZ, Departament V, Z12, T613, W26:
Wojciech Ketrzynski, Warszawa, 13/12/1955 Báo cáo.
[48] AMSZ, Departament V, Z12, T613, W26:
Wojciech Ketrzynski, Warszawa, 13/12/1955 Báo cáo.
[49] AMSZ, Departament V, Z12, T617, W26 DV
Indoch 086/13/56, Ghi lại cuộc gặp Bí thư Đại sứ quán VNDCCH tại Warszawa, đồng
chí Hoàng Lương, ngày 26/7/1956.
[50] AMSZ, Departament V, Z12, T613, W26 DV
Indoch 086/24/56, Ghi lại cuộc gặp Bí thư Đại sứ quán VNDCCH tại Warszawa, đồng
chí Hoàng Lương, ngày 24/9/1956.
[51] AMSZ, Departament V, Z12, T617, W26 DV
Indoch 086/25/56, Ghi lại cuộc gặp Bí thư Đại sứ quán VNDCCH tại Warszawa, đồng
chí Hoàng Lương, ngày 22/11/1956.
[52] Georges Chaffard, Indochine, dix ans
d’indépendance, Calman-Lévy, Paris, 1964, tr. 138-140.
[53] Về việc nới rộng chính sách trong thời kì
Trăm hoa đua nở, xem Pierre Gheddo, Catholiques et Bouddhistes au Vietnam,
Paris, Alsatia, 1970, tr. 121-122.
[54] AMSZ, Departament V, Z12, T619, W26 tình
hình nội trị -- Hội nghị Ban chấp hành Trung ương về Cải cách ruộng đất 1956:
báo cáo 14/242/57, Florian Ratajczak, Hà Nội, 10/12/1956. Bản ghi về hội nghị
Trung ương ngày 30/11/1956, do Bộ ngoại giao VNDCCH tổ chức.
[55] Ông Nguyễn Mạnh Hà, người Công giáo, sau
thời gian cộng tác với họ trong năm 1945, vẫn giữ một ấn tượng sâu sắc về sự
cởi mở của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng trong vấn đề tôn giáo. Vì vậy mà năm
1955, ông đã đồng ý trở về Hà Nội để tìm cách cải thiện quan hệ Giáo hội / Nhà
nước.
[56] Patrick Michel, La Société retrouvée.
Politique et religion dans l’Europe soviétisée, Paris, Fayard, 1988, tr.
37-39.
[57] Eric O Hanson, The Catholic
Church in China, trong Pedro Ramet, Catholicism and Politics in
Communist Societies, Duke University Press, London, 1990, tr. 256-257.
©
Thời Đại Mới - Số 4 -
Tháng 3/2005
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật: