Vấn đề nhập, tách các yêu cầu trong vụ việc dân sự và cơ chế chuyển hóa giữa việc dân sự và vụ án dân sự
Kể từ sau năm 1945, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự nước nhà, trước những yêu cầu của công cuộc cải cách vì một nền tố tụng dân chủ, vì lợi ích chính đáng của nhân dân, một thủ tục tố tụng đặc biệt đã được xây dựng trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004(BLTTDS) với tên gọi thủ tục giải quyết việc dân sự.
Thủ tục này được xây dựng nhằm áp dụng giải quyết đối
với các vụ việc không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các
bên đương sự. Có thể nói, đây là một thủ tục giản đơn hơn so với thủ
tục giải quyết các vụ việc mà các bên đương sự có tranh chấp về quyền,
lợi ích vì thời hạn giải quyết được rút ngắn, Toà án không cần mở phiên
toà xét xử với một Hội đồng xét xử gồm nhiều thành viên, theo một thủ
tục phức tạp mà chỉ cần một Thẩm phán “thăng đường” dưới hình thức một
phiên họp đơn giản.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mong muốn làm
rõ những bất cập khi vận dụng một số quy định cụ thể của thủ tục này
trong thực tiễn và tìm kiếm giải pháp khắc phục để thủ tục giải quyết
việc dân sự sẽ thực sự là phương tiện hữu hiệu của người dân trên con
đường đi tìm công lý như mong mỏi của các nhà lập pháp. Với logic này,
ba vấn đề cơ bản sẽ được tiếp cận và xử lý, đó là việc xác định phạm vi
những loại việc được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự; vấn
đề nhập, tách các yêu cầu trong vụ việc dân sự; cơ chế chuyển hoá giữa
việc dân sự và vụ án dân sự.
1. Các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án
Hiện nay, các điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS không có
những phân định cụ thể về những loại việc được giải quyết theo thủ tục
giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, căn cứ vào bản chất của các loại việc
dân sự có thể phân chia các việc được giải quyết theo thủ tục giải
quyết việc dân sự thành hai loại cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Các việc dân sự mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu Toà án công nhận
để làm cơ sở cho việc thi hành án sau này. Theo quy định của BLTTDS thì
các việc dân sự này bao gồm yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi
con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay
đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Như vậy, từ một số việc dân sự cụ thể đã được quy
định trong BLTTDS, chúng ta đã có thể khái quát và xác định được bản
chất chung của chúng. Dưới góc độ nghiên cứu, chúng tôi cho rằng trên cơ
sở xác định được bản chất của loại việc này, về lâu d��i các cơ quan có
thẩm quyền có thể mở rộng, quy định bổ sung những loại việc dân sự khác
có cùng bản chất được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự.
Theo chúng tôi, những việc dân sự cần được bổ sung vào loại việc được
giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự bao gồm yêu cầu chấm dứt
việc nuôi con nuôi do người con nuôi đã thành niên và cha, mẹ nuôi thoả
thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi; các bên cùng thoả thuận chấm dứt quan
hệ hôn nhân trái pháp luật và thoả thuận được về vấn đề phân chia tài
sản, việc nuôi con; yêu cầu Toà án công nhận các thoả thuận về quyền,
lợi ích hợp pháp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương
mại, lao động .v.v.
Thứ hai: Các việc dân sự mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do tính chất đặc thù của loại việc và chỉ một bên đương sự yêu cầu Toà án giải quyết, bao gồm:
- Một bên đương sự yêu cầu xác định tình trạng của một cá nhân do sự vắng mặt của họ tại nơi cư trú (thông
báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người
đó; tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết…) hoặc yêu cầu xác định
năng lực hành vi dân sự của một cá nhân (yêu cầu tuyên bố một người mất
năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự…);
- Một bên đương sự yêu cầu Toà án tuyên bố chấm dứt
một quan hệ pháp lý đang tồn tại như yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp
luật, yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, yêu cầu tuyên bố không công
nhận quan hệ vợ chồng(1);
- Một bên đương sự yêu cầu Toà án hỗ trợ cho việc bảo
vệ quyền lợi của mình trong quá trình Trọng tài thương mại giải quyết
tranh chấp như yêu cầu chỉ định, thay đổi Trọng tài viên; áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; huỷ quyết định trọng tài.
Việc xác định bản chất và phân loại các việc dân sự
nêu trên sẽ là cơ sở quan trọng để chúng ta tiếp tục xử lý hai vấn đề
tiếp theo là vấn đề nhập, tách các yêu cầu trong vụ việc dân sự và xây
dựng cơ chế chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự
2. Việc nhập, tách các yêu cầu trong vụ việc dân sự
Hiện nay, luật thực định chỉ có những quy định về việc nhập hoặc tách vụ án dân sự (Điều 38 BLTTDS) mà không có những quy định về việc nhập hoặc tách vụ án dân sự với việc dân sự, việc nhập hoặc tách các việc dân sự với nhau.
Ngoài ra, thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự cũng có những điểm khác nhau cơ bản. Do vậy, thực tiễn vận
dụng ở các Toà án cũng không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc trong
việc xác định loại hình thủ tục được áp dụng cũng như việc nhập, tách
các vụ việc dân sự, đặc biệt là trong trường hợp vụ việc có nhiều quan
hệ pháp luật có tính chất khác nhau nhưng lại có mối liên quan mật thiết
với nhau. Thực tế đã có ý kiến cho rằng “vụ án to có thể hút vụ án bé”,
ý kiến khác lại cho rằng không thể giải quyết việc dân sự trong cùng
một vụ án(2). Vậy cần phải làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề này.
Trước khi BLTTDS ra đời, trong suốt một thời gian dài
căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết số 03 HĐTP của Hội đồng Thẩm phán
Toà án nhân dân Tối cao ngày 19/10/1990, các Toà án đã vận dụng để thụ
lý giải quyết các yêu cầu xác định một công dân mất tích và xin ly hôn
với người đó trong cùng một vụ án. Nay theo BLTTDS thì yêu cầu tuyên bố
một công dân mất tích được giải quyết theo thủ tục độc lập là thủ tục
giải quyết việc dân sự. Còn yêu cầu ly hôn được giải quyết theo thủ tục
giải quyết vụ án dân sự . Do vậy, các yêu cầu xác định một công dân mất
tích và xin ly hôn với người đó không được giải quyết trong cùng một vụ
việc. Đương sự phải yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng (hoặc vợ) của
mình mất tích trước và phải chờ sau khi quyết định tuyên bố mất tích của
Toà án có hiệu lực pháp luật mới có thể yêu cầu Toà án thụ lý yêu cầu
ly hôn với người mất tích. Như vậy, việc vận dụng các quy định về thủ
tục giải quyết việc dân sự theo hướng này dường như đã gây khó khăn hơn
cho đương sự trong việc yêu cầu xác định vợ hoặc chồng mình mất tích và
xin ly hôn với người mất tích, thời gian giải quyết các yêu cầu rõ ràng
bị kéo dài hơn so với các quy định trước khi có BLTTDS. Vậy Toà án có
thể nhập yêu cầu xác định một công dân mất tích và xin ly hôn với người
đó để giải quyết trong cùng một vụ án hay không?
Ngoài ra, theo các quy định trước đây thì tất cả các
yêu cầu về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, nuôi con, yêu cầu huỷ việc
kết hôn trái pháp luật…v.v đều được Toà án thụ lý giải quyết theo một
thủ tục chung thống nhất là thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Nay theo
BLTTDS nếu đương sự yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật đồng thời có
tranh chấp về tài sản chung hoặc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì yêu
cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo thủ tục giải
quyết việc dân sự (Khoản 1 Điều 28 BLTTDS) còn tranh chấp về tài
sản chung hoặc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con mặc dù không được BLTTDS quy
định cụ thể nhưng nếu áp dụng tương tự Khoản 1 Điều 27 sẽ được giải
quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Tương tự như trên, sẽ
là các trường hợp đương sự thuận tình ly hôn nhưng lại có tranh chấp về
tài sản chung, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con hoặc các bên yêu cầu công
nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nhưng lại có
tranh chấp với người thứ ba về khoản nợ chung của vợ chồng. Vấn đề đặt
ra là Toà án có thể coi các vụ việc nêu trên là các vụ án theo nghĩa rộng do có tranh chấp về một quan hệ pháp luật trong số các quan hệ mà
đương sự yêu cầu Toà án giải quyết và áp dụng thủ tục giải quyết vụ án
dân sự để giải quyết toàn bộ các yêu cầu của đương sự hay không?
Về phương diện lý luận, đối với vụ việc có nhiều quan
hệ pháp luật hoàn toàn khác nhau, Toà án có thể nhập các quan hệ để
giải quyết trong cùng một vụ việc nếu các quan hệ pháp luật này có liên
quan tới nhau và việc nhập các quan hệ pháp luật này không gây khó khăn
cho việc giải quyết, mà ngược lại có thể đơn giản hoá các quy định về
thủ tục, giải quyết một cách nhanh chóng hơn các yêu cầu của đương sự
hoặc việc nhập các yêu cầu đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các
đương sự. Xét những trường hợp nêu trên, có thể thấy rằng đây là những
quan hệ pháp luật có mối liên quan mật thiết với nhau và việc tách ra để
giải quyết theo hai loại thủ tục khác nhau có thể gây kéo dài thời gian
giải quyết các yêu cầu của đương sự hoặc không đảm bảo được quyền, lợi
ích hợp pháp của họ. Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý, Điều 163 BLTTDS cũng
cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ
pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.
Đối với trường hợp đương sự yêu cầu huỷ việc kết hôn
trái pháp luật đồng thời có tranh chấp về tài sản chung hoặc nuôi con,
cấp dưỡng nuôi con, nếu tách ra để giải quyết bằng việc dân sự và vụ án
dân sự riêng biệt thì trong thực tiễn cũng nảy sinh những vướng mắc. Cụ
thể là Toà án có thể đồng thời thụ lý và song song giải quyết cả hai vụ
việc hay không? Phải chăng đương sự phải chờ Toà án giải quyết xong yêu
cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mới có thể làm đơn yêu cầu giải
quyết tranh chấp về tài sản, nuôi con. Đó là chưa tính đến trường hợp
phải chờ đợi khi một trong các bên đương sự lại có kháng cáo về phần
quan hệ hôn nhân trái pháp luật. Trường hợp đương sự thuận tình ly hôn
nhưng lại có tranh chấp về tài sản chung, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con
nếu tách ra để giải quyết bằng hai thủ tục riêng biệt thì cũng nảy sinh
những vướng mắc tương tự. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 316 BLTTDS
thì trong trường hợp này đương sự không có quyền kháng cáo về phần quan
hệ hôn nhân.
Đối với trường hợp các bên yêu cầu công nhận thuận
tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nhưng lại có tranh chấp
với người thứ ba về khoản nợ chung của vợ chồng nếu Toà án nếu tách ra
để giải quyết bằng hai thủ tục riêng biệt là việc dân sự về yêu cầu công
nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và vụ án dân
sự về đòi nợ thì không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ.
Với những nhận định trên, chúng tôi cho rằng việc Toà
án nhập yêu cầu xác định một người mất tích và xin ly hôn với người đó;
nhập yêu cầu của người cho vay nợ về việc giải quyết khoản nợ của vợ
chồng trong trường hợp vợ chồng yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn,
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; nhập yêu cầu giải quyết tranh chấp về
tài sản chung hoặc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi đương sự yêu cầu
huỷ việc kết hôn trái pháp luật hoặc thuận tình ly hôn là hoàn toàn có
cơ sở. Hơn nữa, mục đích của việc xây dựng thủ tục giải quyết việc dân
sự là nhằm đơn giản hoá về thủ tục tố tụng cho phù với bản chất của một
số loại việc không có tranh chấp. Những loại việc này nếu phải giải
quyết theo thủ tục tố tụng thông thường sẽ quá chậm chạp, gây tốn thời
gian, công sức một cách không cần thiết. Sự tham gia của Kiểm sát viên
tại phiên họp mang tính bắt buộc cũng là nhằm giám sát, tránh sự lạm
quyền có thể xảy ra khi toàn bộ vụ việc chỉ do một Thẩm phán duy nhất
tiến hành giải quyết. Do vậy, nếu nhập các yêu cầu nói trên để giải
quyết trong cùng một vụ án với một Hội đồng xét xử thì suy cho
cùng cũng là nhằm mục đích đơn giản hoá thủ tục tố tụng, thúc đẩy nhanh
tiến trình giải quyết toàn bộ các yêu cầu của đương sự vì lợi ích hợp
pháp của họ khi mà các yêu cầu này có mối liên quan mật thiết với nhau.
Như vậy, trong những trường hợp nêu trên khi mà vụ
việc có nhiều quan hệ pháp luật có tính chất khác nhau (quan hệ hôn
nhân, tài sản vợ chồng, nợ chung của vợ chồng, nuôi con…) nhưng lại có
mối liên quan với nhau cần được giải quyết, trong đó có quan hệ pháp luật có tranh chấp, có quan hệ pháp luật các bên lại thoả thuận được với nhau và chỉ yêu cầu Toà án công nhận thì Toà án không nên tách các quan hệ pháp luật để giải quyết theo hai loại hình thủ tục khác nhau mà có thể nhập các quan hệ pháp luật đó để giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.
Toà án sẽ ra bản án xét xử đối với những phần các bên có tranh chấp và
ghi nhận phần quan hệ pháp luật mà các bên đã thoả thuận được(nếu có).
Đối với trường hợp vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật
có tính chất khác nhau nhưng lại có mối liên quan với nhau, trong đó
một bên yêu cầu Toà án xác định một tình trạng pháp lý (yêu cầu tuyên bố
một bên mất tích, mất năng lực hành vi dân sự…) đồng thời xin ly hôn,
chia tài sản(3); yêu cầu tuyên bố chấm dứt một quan hệ pháp
lý đang tồn tại (yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu tuyên
bố không công nhận quan hệ vợ chồng…) đồng thời lại có tranh chấp về các
quan hệ pháp luật khác (tranh chấp về chia tài sản, nuôi con…) thì Toà
án có thể nhập các quan hệ pháp luật đó để giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Trong những trường hợp này, Toà án sẽ ra bản án để giải quyết toàn bộ các quan hệ pháp luật mà đương sự yêu cầu.
Ngoài ra, theo chúng tôi sẽ là hợp lý hơn nếu hướng dẫn việc tách các yêu cầu trong vụ việc dân sự theo phương án sau:
Trường hợp khi nộp đơn, đương sự yêu cầu toà án giải quyết nhiều quan hệ pháp luật khác nhau thì
Toà án sẽ tách các yêu cầu này nếu trong quá trình giải quyết đương sự
có yêu cầu hoặc đồng ý tách quan hệ pháp luật không có tranh chấp để
giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự còn quan hệ pháp luật có
tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác. Chẳng hạn, đương sự
đồng ý yêu cầu xác định vợ chồng mình mất tích, sau đó mới yêu cầu giải
quyết ly hôn; đồng ý yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản chung hoặc
nuôi con, cấp dưỡng nuôi sau khi đã yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp
luật; chủ nợ đồng ý không đòi nợ vợ chồng trong việc thuận tình ly hôn.
Việc tách vụ việc trong những trường hợp này là dựa trên cơ sở quyền tự
định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.
Toà án sẽ vận dụng các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự để giải quyết nếu ngay từ khi nộp đơn đương sự chỉ yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự một cách độc lập
như chỉ yêu cầu tuyên bố một công dân mất tích hoặc chỉ yêu cầu công
nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công
nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
3. Về cơ chế chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự
Trước hết, chúng ta xét đến vấn đề xây dựng một cách hợp lý cơ chế chuyển tiếp từ việc dân sự sang vụ án dân sự?
Việc nghiên cứu các loại việc được giải quyết theo
thủ tục giải quyết việc dân sự cho thấy rằng đối với các vụ việc mà bản
chất là không có tranh chấp về quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do
tính chất đặc thù của loại việc và chỉ một bên đương sự yêu cầu Toà án
giải quyết như yêu cầu xác định tình trạng của một cá nhân do sự vắng
mặt của họ tại nơi cư trú hoặc yêu cầu xác định năng lực hành vi dân sự
của một cá nhân…, yêu cầu Toà án hỗ trợ cho việc bảo vệ quyền lợi của
mình trong quá trình Trọng tài thương mại giải quyết tranh chấp thì bản
chất của những loại việc này không thay đổi trong suốt quá trình Toà án
giải quyết. Do vậy, đối với những vụ việc này vấn đề chuyển hoá giữa
việc dân sự và vụ án dân sự không được đặt ra.
Vấn đề chuyển hoá giữa việc dân sự và vụ án dân sự
chỉ đặt ra đối với các vụ việc mà bản chất là không có tranh chấp về
quyền, lợi ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên và các bên cùng yêu cầu
Toà án công nhận làm cơ sở cho việc thi hành án sau này như yêu cầu
công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu
công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly
hôn…v.v. Bởi lẽ trong quá trình Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục
giải quyết việc dân sự, trên cơ sở nguyên tắc quyền tự định đoạt các bên
đương sự có thể thay đổi yêu cầu của mình.
Vậy cần phải xây dựng một cơ chế mềm dẻo, là chất kết
dính mang tính chuyển tiếp giữa thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ
tục giải quyết vụ án dân sự cho phù hợp.
Theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3
năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì “ Trường hợp
các bên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 của
BLTTDS, nhưng sau khi Toà án thụ lý và trong quá trình giải quyết việc
dân sự các bên có sự thay đổi về thoả thuận, thì cần phân biệt như sau:
a. Nếu các bên thay đổi sự thoả thuận (một phần hoặc
toàn bộ) bằng một thoả thuận mới thì Toà án tiếp tục giải quyết việc dân
sự theo thủ tục chung;
b. Nếu một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận (một
phần hoặc toàn bộ), nhưng không thoả thuận được về vấn đề đã được thoả
thuận trước đó và có tranh chấp, thì được coi như đương sự rút đơn yêu
cầu. Toà án căn cứ vào Điều 311 và điểm c khoản 1 Điều 192 của BLTTDS ra
quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Trong trường hợp này Toà án
cần giải thích cho đương sự biết nếu họ vẫn có yêu cầu Toà án giải
quyết, thì phải khởi kiện vụ án theo thủ tục chung”.
Vấn đề đặt ra là các Toà án có thể coi đây là một
hướng dẫn điển hình để vận dụng trong các trường hợp tương tự hay không.
Cụ thể là nếu trong quá trình Toà án giải quyết các việc dân sự không
có tranh chấp mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo hướng có
tranh chấp thì Toà án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân
sự và hướng dẫn đương sự làm đơn khởi kiện vụ án theo thủ tục chung hay
không?
Theo chúng tôi, việc Toà án vận dụng các quy định nói
trên để ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và buộc đương sự
phải làm đơn khởi kiện lại từ đầu là chưa thực sự hợp lý, bởi vì về mặt ý
chí thì có thể chỉ một bên đương sự thay đổi thoả thuận theo hướng có
tranh chấp và ngay cả trường hợp việc thay đổi thoả thuận theo hướng có
tranh chấp là do các bên đương sự thì về ý chí họ cũng không rút đơn yêu
cầu Toà án giải quyết. Thực chất của vấn là ở chỗ yêu cầu tố tụng trước
Toà án không mất đi mà chỉ chuyển từ dạng yêu cầu giải quyết việc dân
sự do các bên cùng thoả thuận và yêu cầu Toà án công nhận sang dạng có
tranh chấp theo yêu cầu của một bên hoặc các bên. Chẳng hạn, lúc đầu hai
vợ chồng cùng làm đơn yêu cầu Toà án công nhận sự thuận tình về việc ly
hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nhưng sau đó một bên đương sự
lại không đồng ý ly hôn hoặc các bên vẫn thống nhất ly hôn nhưng lại
không thống nhất được với nhau về phân chia tài sản và yêu cầu toà án
giải quyết; sau khi yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn các đương sự lại có tranh chấp về vấn
đề này.v.v. Cần nhận thức rằng đương sự chỉ thay đổi yêu cầu chứ không
rút toàn bộ yêu cầu, đối tượng của vụ việc mà Toà án đang xem xét không
thể bị triệt tiêu, do vậy, không thể làm phức tạp thêm thủ tục bằng cách
ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự và buộc đương sự
khởi kiện lại từ đầu theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 311 BLTTDS thì Toà
án áp dụng những quy định của Chương XX về thủ tục giải quyết việc dân
sự, đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với
những quy định của Chương XX để giải quyết những việc dân sự. Như vậy,
về nguyên tắc quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự vẫn có thể bị
kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự. Vậy nếu quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự bị kháng
cáo, kháng nghị phúc thẩm thì các đương sự có thể thực hiện quyền khởi
kiện vụ án ngay không hay phải chờ Toà án cấp phúc thẩm giải quyết xong
kháng cáo, kháng nghị mới có thể thực hiện quyền khởi kiện của mình?
Nếu nhìn rộng ra thì hiện nay các Điều 26, 30, 32
BLTTDS đều có quy định rằng ngoài các loại việc dân sự đã được chỉ rõ
trong các điều luật, Toà án còn có thể áp dụng thủ tục giải quyết việc
dân sự đối với các việc khác về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động
mà pháp luật có quy định. Đây là các quy định mang tính định hướng
trong tương lai và như vậy, theo thiển ý của chúng tôi, sau này các cơ
quan có thẩm quyền có thể bổ sung các vụ việc về dân sự, kinh doanh,
thương mại, lao động mà bản chất là không có tranh chấp về quyền, lợi
ích hợp pháp giữa các bên do các đương sự đã thoả thuận được với nhau về
các tình tiết của sự việc cũng như những quyền và lợi ích giữa các bên
và các bên cùng yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục giải quyết việc
dân sự.
Các việc dân sự này sẽ khác với các việc về hôn nhân
gia đình nói trên ở chỗ đương sự chỉ có thể thực hiện quyền khởi kiện
trong thời hiệu mà pháp luật quy định. Theo suy luận logic thì phải
chăng với cách vận dụng như hiện nay, sau khi Toà án thụ lý giải quyết
các việc dân sự này mà đương sự lại thay đổi theo hướng có tranh chấp,
Toà án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết việc dân sự và đương sự
khởi kiện lại từ đầu theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Nếu như theo
giải pháp này, có thể sẽ dẫn tới việc đương sự sẽ không thể thực hiện
được quyền khởi kiện của mình nếu không muốn nói là mất quyền khởi kiện
do thời hiệu khởi kiện đã hết.
Ngoài ra, trong thực tiễn tố tụng dân sự, Toà án nhân
dân tối cao cũng đã từng hướng dẫn rằng đối với trường hợp cả hai vợ
chồng cùng viết đơn xin thuận tình ly hôn, sau đó một bên cố tình lẩn
tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án thì Toà án cần hỏi
người còn lại có tiếp tục xin ly hôn nữa hay không. Nếu họ vẫn tiếp tục
xin ly hôn thì Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung như
trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên. Trong trường hợp họ không có
yêu cầu xin ly hôn nữa thì Toà án mới ra quyết định đình chỉ việc gi��i
quyết vụ án(4).
Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng sẽ là hợp
lý hơn nếu có những hướng dẫn bổ sung theo hướng trong quá trình Toà án
giải quyết việc dân sự mà một hoặc các bên thay đổi sự thoả thuận theo
hướng có tranh chấp thì Toà án sơ thẩm sẽ yêu cầu đương sự nộp bổ sung
tiền tạm ứng án phí theo vụ án dân sự và sau đó ra quyết định áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân sự để giải quyết yêu cầu có tranh chấp. Sau khi ra quyết định này, Thẩm phán căn cứ vào các quy định của BLTTDS để tiếp tục tiến hành các thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ đối với yêu cầu có tranh chấp, nếu hoà giải không thành thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ
án ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm. Nếu chúng ta đi theo giải pháp này
sẽ phù hợp hơn với thực tiễn tư pháp từ trước tới nay và xu hướng cải
cách tư pháp, đơn giản hoá các quy định về thủ tục tố tụng, tạo điều
kiện tốt nhất cho người dân có thể tiếp cận công lý. Có thể coi đây sẽ
là một đường lối, một chuẩn mực chung mà về lâu dài không chỉ áp dụng
riêng cho các việc về hôn nhân, gia đình mà có thể vận dụng cho tất cả
các việc dân sự có cùng bản chất trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh,
thương mại, lao động.
Một vấn đề tiếp theo mà chúng ta cần làm rõ là có cần thiết phải xây dựng cơ chế chuyển tiếp giữa thủ tục giải quyết vụ án dân sự với thủ tục giải quyết việc dân sự trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau sau khi Toà án thụ lý vụ tranh chấp hay không?
Có thể nhận thấy rằng theo quy định tại Điều 187 của
BLTTDS thì trường hợp đương sự có tranh chấp và có đơn khởi kiện yêu cầu
Toà án giải quyết, nếu sau khi Toà án thụ lý vụ án và trong thời hạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm các đương sự tự thoả thuận được với nhau về việc
giải quyết toàn bộ vụ án, Thẩm phán sẽ lập biên bản về sự thoả thuận đó
và ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Ngoài ra,
theo Điều 220 BLTTDS thì việc thoả thuận của các bên đương sự tại phiên
toà sẽ do Hội đồng xét xử công nhận.
Như vậy, cơ chế chuyển tiếp đã tồn tại một cách hợp
lý trong BLTTDS, do vậy, Toà án hoàn toàn có thể vận dụng các quy định
tại các Điều 187, 220 BLTTDS để giải quyết trong các trường hợp nêu
trên. Thiết nghĩ, việc xây dựng một cơ chế chuyển tiếp từ thủ tục giải quyết vụ án dân sự sang thủ tục giải quyết việc dân sự trong trường hợp này là không cần thiết.
Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi, rất mong
được trao đổi cùng bạn đọc và hy vọng rằng những ý kiến này sẽ là tài
liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc hoàn
thiện pháp luật tố tụng dân sự nước nhà.
Chú thích:
[1] Xem Đỗ Thị Thanh, “Không công nhận là vợ chồng”- được thụ lý giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự hay việc dân sự ?
Tạp chí TANDTC, số 15, tháng 8 năm 2005, trang14. Chúng tôi rất chia sẻ
với những băn khoăn của tác giả, song chúng tôi cho rằng nếu đương sự
chỉ yêu cầu Toà án không công nhận vợ chồng thì nên coi đây là việc dân
sự vì bản chất của loại việc là không phức tạp.
(2) Xem Tưởng Duy Lượng – Chánh toà Toà Dân sự TANDTC, Một số quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự, Tạp chí TANDTC, số 6, tháng 3 năm 2005, trang 2; Xem TS. Lê Thu Hà – Học viện Tư pháp, Thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tạp chí TANDTC, số 12, tháng 6 năm 2006, trang 13
(3) Cần lưu ý là không thể nhập yêu cầu
xác định một người là đã chết và yêu cầu chia di sản thừa kế của người
đó để giải quyết trong cùng vụ án vì việc giải quyết quan hệ pháp thứ
nhất là tiền đề, cơ sở cho việc giải quyết quan hệ pháp luật thứ hai.
Xem Trần Anh Tuấn, Nhập, tách vụ án dân sự – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí TANDTC, số 3, tháng 2 năm 2005, trang 16.
(4) Xem Công văn số 62/2001/KHXX ngày 13/6/2001 của Toà án nhân dân tối cao
SOURCE: TẠP CHÍ TÒA ÁN NHÂN DÂN SỐ 18, THÁNG 9 NĂM 2006 - TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội