Vấn đề tranh chấp biển Đông - Phỏng vấn Vũ Quang Việt
Giới thiệu của Thời Đại Mới: Nhân việc xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc trong sự kiện Trung Quốc tấn công những người đánh cá Việt Nam trên Vịnh Bắc Bộ, Thời Đại Mới thay vì chờ đợi các bài nghiên cứu sâu nhưng cần thời gian dài để sửa soạn, đã mở mục phỏng vấn một số thành viên trong Ban Biên Tập, là những người trước đây đã tham gia Hội Thảo Hè 1998 với đề tài Vấn Đề Tranh Chấp biển Đông.
Dưới đây là bài phỏng vấn anh Vũ Quang Việt, người đã có bài
tham gia trong Hội Thảo Hè năm 1998. Anh Việt không phải là chuyên gia về chính
trị nhưng là người thường xuyên theo dõi các vấn đề liên quan đến Việt Nam.
Thời
Đại Mới: Nếu cứ với đà phát triển như hiện nay, tức là không khủng hoảng
toàn diện về tài chính hoặc nội loạn, Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc về
kinh tế theo nghĩa GDP của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trong vòng 20-30 năm nữa. Các
bạn có nghĩ điều này sẽ cho phép Trung Quốc trở thành một cường quốc quân sự
trong khu vực không? Thế nào là một cường quốc quân sự?
Vũ
Quang Việt: Vào năm 1998, trong Hội thảo Hè hàng năm mà nhiều anh em chủ
trương Thời Đại Mới là thành viên tổ chức, tôi đã làm một phân tích khả
năng phát triển của các nước đến 2050 là nếu Trung Quốc phát triển tốt, khoảng
7% một năm, thấp hơn hiện nay thì đến năm 2050 Trung Quốc sẽ vượt Mỹ về GDP,
chiếm 17% tổng sản lượng thế giới so với Mỹ là 15%. Vào năm 2020, Trung Quốc sẽ
gần bắt kịp Nhật. Bản phân tích này xem ra vẫn còn giá trị. Không những thế, từ
khi Tổng thống Bush con lên cầm quyền, nhiều nhà phân tích cũng đi đến cùng một
kết luận. GDP lớn cho phép Trung Quốc xây dựng một lực lượng quân sự đáng kể
hơn hiện nay nhiều. Cứ thử tưởng tượng Trung Quốc chỉ bằng Mỹ ở thời điểm như
hiện nay (chứ không phải to lớn hơn nhiều trong 45 năm sắp tới), tức là Trung
Quốc có GDP là 10.000 tỷ US. Họ có thể chi tiêu vào quốc phòng đến mức 10% GDP
mà không sợ kinh tế bị ảnh hưởng mạnh. Với 1.000 tỷ US một năm, còn cao hơn Mỹ
hiện nay, thì thế quân sự của Trung Quốc trên thế giới và đặc biệt là ở khu vực
Châu Á Thái Bình Dương có thể sẽ khác hẳn. Tất nhiên thế quân sự này sẽ chỉ
khác hẳn nếu như Mỹ không có phản ứng ngược lại.
TĐM: Anh nghĩ Trung Quốc dự định gì và Mỹ định
làm gì để chờ đón năm 2050 ấy? Mục đích dài lâu của Trung Quốc có phải là kiểm
soát biển Đông để bảo đảm nguồn dầu lửa có thể là rất nhiều ở đây không? Nếu
không phải là dầu lửa, thì lý do gì Trung Quốc tiếp tục coi gần như toàn bộ
biển Đông là thuộc về của họ?
VQV: Thật khó lòng biết có phải Trung Quốc chỉ nhằm
vào dầu lửa ở biển Đông không? Có thể chỉ là một thứ “posturing” trong bàn cờ khu vực và thế giới. Nhưng
chính sách của Trung Quốc về biển Đông là rõ ràng. Họ đã tuyên bố nhiều lần, vẽ
trên bản đồ của họ và được Quốc hội Trung Quốc thông qua nghị quyết là biển
Đông thuộc về họ. Trung Quốc ký tham gia Luật Biển Liên Hợp Quốc năm 1996,
nhưng lại xác định thêm trong bản ký kết về toàn vẹn chủ quyền trên các đảo và
quần đảo theo luật của Trung Quốc, mặc dù Trung Quốc không được coi là một quốc
gia quần đảo. Ngoài ra, họ cũng tuyên bố nhiều lần là không đàm phán đa phương
về việc này mà chỉ đàm phán song phương về khai thác kinh tế để hai bên cùng có
lợi. Tuyên bố trên đi ngược với Luật Biển Liên Hợp Quốc và chính sách song
phương này đi ngược với tuyên bố chủ quyền biển Đông. Đã là thuộc về mình thì
tại sao phải đàm phán chia quyền lợi kinh tế trừ khi là trên cơ sở góp vốn làm
ăn.
Với con bài chính sách song phương họ đã kiếm cách chia rẽ
các nước ASEAN, ký kết riêng với Phi Luật Tân về khai thác biển. Không hiểu rõ
nội dung hiệp ước song phương giữa Phi và Trung Quốc như thế nào nhưng có thể
chỉ là hình thức góp vốn làm ăn như Việt Nam cho phép một công ty nước ngoài
góp vốn đầu tư vào hoạt động kinh tế trong lãnh thổ Việt Nam. Trung Quốc vừa đe
doạ vừa muốn dụ khị các nước khu vực theo họ. Chiến lược dài lâu và tối đa của
Trung Quốc là kiểm soát biển Đông, nếu không được thì là siêu cường đòi hỏi Mỹ
chia quyền lợi. Ngoại giao Trung Quốc hiện nay đã từ bỏ con đường than vãn về
quá khứ bị Nhật và cường quốc Tây phương xâu xé để đòi quyền lợi trong đó có
việc muốn trở thành lãnh đạo để bảo vệ quyền lợi các nước thứ ba. Chính sách
ngoại giao đã chuyển sang xác định Trung Quốc là một cường quốc và đòi hỏi
quyền lợi của một cường quốc. [Xem Evan S. Medeiros và M. Taylor Fravel,
“Chính sách ngoại giao mới của
Trung Quốc”, Foreign
Affairs, tháng 11-12, 2003)
Cùng với định dạng tư thế dài lâu như thế, Trung Quốc chỉ
đến gần đây mới chấp nhận tham dự các hiệp ước giảm trừ võ khí nguyên tử và
nhất là viêc thương thảo hiệp ước đa phương về chấm dứt thử võ khí nguyên tử
Comprehesive Test Ban Treaty (CTBT) để có thì giờ phát triển võ khí hạt nhân.
Trước đây họ chỉ tuyên bố không phải là người dùng võ khí nguyên tử để tấn
công, vì cho rằng các hiệp ước này là nhằm ngăn cản Trung Quốc trở thành cường
quốc nguyên tử. Trong thời gian chờ đợi, Trung Quốc tiếp tục thử võ khí nguyên
tử 6 lần vào những năm 1993, 1994, 1995, 1996 và 1996. Trung Quốc cũng đã sắp
đặt 20 hoả tiễn đường xa có đầu đạn nguyên tử nhắm vào các địa điểm ở nội địa
nước Mỹ và có kế hoạch nâng lên con số 75-100 đầu đạn nguyên tử vào năm 2015.
So với tổng số 1.700-2.200 hoả tiễn của Mỹ và Nga thì con số của Trung Quốc là
đáng kể. Hiện nay Trung Quốc đã là thành viên Hiệp định giảm trừ võ khí nguyên
tử chỉ sau khi thử thành công để trở thành cường quốc nguyên tử đáng sợ.
TĐM: Mỹ phản ứng với thái độ của Trung Quốc như
thế nào?
VQV: Nếu Clinton và phe đảng Dân chủ cho rằng Trung
Quốc sẽ tập trung xây dựng kinh tế và không phiêu lưu quân sự thì khi Bush lên
cầm quyền ông ta nghĩ khác hẳn. Chính sách của ông ta là ngăn cản sự bành
trướng của Trung Quốc, chuyển tập trung lực lượng quân sự từ Âu châu sang Á
châu. Điểm quan trọng hơn cả là Bush xem xét lại chính sách nguyên tử trong tài
liệu mật Nuclear Posture Review, trình quốc hội vào tháng 12 năm 2001 nhưng bị
rò rỉ ra ngoài. Trong tài liệu này, chiến lược của Mỹ chuyển từ đe doạ (threat-based)
sang xây dựng tiềm năng (capabilities-based) nhằm ngăn ngừa (deter) và chống đỡ
(defend) các mối đe doạ, tức là có thể tấn công trước để trừ hậu hoạn bị tấn
công từ những nước được liệt kê sau: Trung Quốc, Nga, Iraq, Bắc Triều Tiên,
Iran, Libya và Syria. Bush tuyên bố tại đại học quân sự West
Point vào năm 2002: “Chúng ta phải đem chiến trường đến kẻ thù,
làm rối loạn kế hoạch của chúng, và đối đầu với những đe doạ tồi tệ nhất trước
khi chúng lòi đầu ra.” Như vậy là Mỹ sẵn sàng dùng võ khí nguyên tử không
những trả đũa mà để tấn công trước trừ hậu hoạn. Đây cũng chính là quan điểm Mỹ
dùng để đối phó với Iraq sau vụ 11 tháng 9 năm 2001 và hiện nay là quan điểm
đối với Bắc Triều Tiên và Iran.
Cùng vào tháng 12 năm 2001 khi trình quốc hội về thay đổi
chính sách về võ khí nguyên tử, Bush đơn phương rút khỏi Hiệp ước Chống Đầu đạn
Nguyên tử ABM (Anti-Ballistic Missile Treaty) ký với Liên Sô năm 1972. Bush làm
thế sau khi tuyên bố, “Nga trước đây không phải là Nga bây giờ, Nga bây giờ
không phải là kẻ thù của chúng ta.” Rõ ràng là Bush coi Trung Quốc là kẻ thù
tiềm năng.
TĐM: Tại sao Mỹ lại phải rút ra khỏi Hiệp ước
Chống Đầu đạn Nguyên tử ABM?
VQV: Vì Mỹ muốn thử võ khí có đầu đạn nguyên tử với
phóng xạ cỡ hạn chế ( low-yield earth-penetrating nuclear weapon) nhằm chui
xuống hầm sâu kiên cố với sức phá hủy lớn. Võ khí này, không có đầu đạn nguyên
tử, đã được thử Afghanistan,
chui xuống hầm sâu trong núi rồi mới nổ tung. Với đầu đạn nguyên tử sức công
phá sẽ ghê gớm hơn. Có thể nói võ khí này cũng có thể diệt các hàng không mẫu
hạm rất dễ dàng. Nói chung Mỹ muốn xây dựng một hệ thống quân sự gồm: võ khí
tấn công nguyên tử và phi nguyên tử, hệ thống phòng chống hoả tiễn và hạ tầng
cơ sở phòng chống tự động. Tất cả đều đòi hỏi việc thử võ khí nguyên tử.
TĐM: Vậy chiến lược của Mỹ ở Á châu là
gì?
VQV: Trong tài liệu xem xét lại thế đứng về võ khí
nguyên tử của Mỹ nói trên, Mỹ cho rằng cần có kế hoạch sẵn sàng để đương đầu
khi Trung Quốc tấn công Đài Loan sau khi xem xét “tổng hợp các mục tiêu chiến
lược đang trong quá trình hình thành của Trung Quốc và chương trình hiện đại vũ
khí nguyên tử và phi nguyên tử của họ.” Chính Bush đã tuyên bố không cho phép
một thế lực nào ngóc cổ cạnh tranh với Mỹ về quân sự. Mỹ đã đưa Nhật vào qũi
đạo mạng lưới phòng thủ các cuộc tấn công bằng hoả tiễn và đồng thời khuyến
khích Nhật võ trang lại. Với các nước ASEAN, Mỹ sẽ tăng cường việc hợp tác quân
sự chứ không lơ là như trước. Việc lôi kéo Việt Nam cũng điều Mỹ đang làm. Mỹ
sẽ không áp dụng các biện pháp bao vây Trung Quốc, nhưng Mỹ đã thấy ý đồ của
Trung Quốc và tiềm năng của họ nên Mỹ không thể không sửa soạn lực lượng để cho
Trung Quốc thấy rằng các manh động phải trả giá đắt. Đây là sự khác biệt giữa
đánh gíá của Zbigniew Brzezinski, đảng viên đảng dân chủ, cố vấn an ninh của
tổng thống Carter trước đây và giáo sư John J. Mearsheimer, đảng viên đảng cộng
hoà, giám đốc chượng trình nghiên cứu về chính sách an ninh quốc tế ở đại học
Chicago. Brzezinski cho rằng Trung Quốc không điên dại làm chuyện đó vì Trung
Quốc muốn phát triển và vì bất cứ một cuộc đối đầu nào với Mỹ sẽ làm ngưng trệ
kinh tế Trung Quốc vì Mỹ có thể dễ dàng cấm vận. Ngược lại John J. Mearsheimer
cho rằng không thể biết được Trung Quốc sẽ làm gì do đó phải sửa soạn đối phó
với tình huống xấu nhất như kinh nghiệm về Hitler và Nhật trước đây cho thấy
điều kiện phát triển khá về kinh tế của Đức và Nhật đã không kìm hãm nổi các
hành động điên cuồng. (Xem "Clash of the Titans",
Foreign Policy, số tháng 2-3, 2005, về cuộc thảo luận giữa hai người
này.)
Mới đây, quan chức Mỹ càng tỏ vẻ lo ngại về việc tăng
cường xây dựng quốc phòng của Trung Quốc. Nhật cũng lo ngại không kém khi Trung
Quốc gửi tầu ngầm nguyên tử xâm phạm vùng lãnh thổ Nhật. Ngày 17 tháng 2 năm
nay (2005), điều trần trước quốc hội Mỹ,
Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld cho rằng Trung Quốc đã tăng ngân sách quốc phòng
hàng năm ở tốc độ 2 con số (10% trở lên) trong những năm qua; và năm 2004 Trung
Quốc tăng số hoả tiễn có đầu đạn nguyên tử, và tầu ngầm cũng như võ khí thông
thường nhưng tối tân khác. Ngoài ra, Rumsfeld nói Trung Quốc đang đưa hải quân
ngày càng xa bờ mà theo tình báo Mỹ số tầu chiến Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trong
vòng 10 năm tới. Theo báo New York Times ngày 18/2/2005,
với những lo lắng trên, Nhật và Mỹ sẽ gặp gỡ để ký kết thoả ước chung, lần đầu
tiên nhận định là an ninh của eo biển Đài Loan là “mục đích chiến lược chung”
của hai nước. Giám đốc CIA điều trần trước ủy ban quốc phòng thượng viện
một ngày trước đó là “khả năng của Trung Quốc đang đe doạ lực lượng quận sự Mỹ
ở khu vực.”
TĐM: Như vậy anh thấy Trung Quốc sẽ phản ứng như
thế nào? Trung Quốc bó tay?
VQV: Tất nhiên Trung Quốc sẽ phải kìm hãm ít
nhất là trong giai đoạn hiện nay các hành động phiêu lưu về Đài Loan và biển
Đông, tham dự các hội nghị bàn về hạn chế võ khí nguyên tử (chứ không đứng
ngoài như trước) nhưng mặt khác Trung Quốc vẫn tiếp tục con đường họ đi, họ vẫn
xác định biển Đông là của họ, vẫn tìm cách áp lực các nước ASEAN nghiêng về họ.
Áp lực của họ đến đâu còn tùy thuộc phản ứng của Mỹ. Trung Quốc đang tăng cường
xây dựng và bành trướng các hoạt động tầu ngầm trên biển Đông và có thể là đang
trong quá trình xây dựng hàng không mẫu hạm. Lúc trước đây Trung Quốc đã mua
lại hàng không mẫu hạm bị thải hồi của Ukraine, và họ cho rằng đó là công ty tư
nhân của Trung Quốc mua sắt vụn, nhưng có thể cũng không ra ngoài việc tìm kiếm
kinh nghiệm xây dựng võ khí mới. Các chuyên gia Mỹ cho rằng để nối dài cánh tay
kiểm soát biển Đông Trung Quốc cần ba hàng không mẫu hạm và có thể làm xong vào
năm 2020. Có thể nói, Mỹ sẽ không chấp nhận sự kiểm soát biển Đông của
Trung Quốc nhưng sẽ chấp nhận Trung Quốc là cường quốc khu vực với quyền lợi
nhất định, vì đó cũng là cách ngăn ngừa Trung Quốc. Mỹ đã tuyên bố rõ ràng là
không để Trung Quốc kiểm soát quyền đi lại trên hải phận quốc tế ở biển Đông.
Tất nhiên như vậy Trung Quốc vẫn tiếp tục chính sách tằm thực (tằm ăn dần)
chiếm dần các đảo trên biển Đông đặc biệt là thuộc chủ quyền một nước không
phải là đồng minh của Mỹ. Mỹ sẽ tiếp tục chính sách đứng ngoài tranh chấp
giữa các nước trong khu vực về biển Đông và khả năng rất lớn là Mỹ sẽ đứng
ngoài vòng nếu có cuộc chiến giữa Việt Nam và Trung Quốc ở biển Đông. Hiện
nay, Tổng thống Bush theo tin báo chí là trong nhiệm kỳ 2 có khả năng chấp nhận
Luật Biển Liên Hợp Quốc mà Reagan đã không chịu ký trước đây, với lý do là vùng
biển nằm ngoài hải phận thuộc về bất cứ ai có khả năng khai thác. Giới quân sự
Mỹ cho rằng luật biển là bước tiến nhằm quản lý các tranh chấp về biển. Luật
biển chấp nhận chủ quyền quốc gia 12 hải lý từ bờ, chủ quyền khai thác kinh tế
200 hải lý và những tình huống phức tạp về chia địa giới khi các nước có biên
giới biển hoặc chủ quyền đảo.
TĐM: Vấn đề chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông
sẽ như thế nào? Anh có thể nói thêm về luật biển của Liên Hợp Quốc? Phải chăng
nó có thể là cơ sở để giải quyết vấn đề tranh cháp ở biển Đông?
VQV: Xác định chủ quyền của Trung Quốc trên
toàn biển Đông là đi ngược với Luật Biển Liên Hợp Quốc
đã được nhiều nước thông qua, trừ Mỹ mặc dù khả năng sắp tới là Mỹ cũng thông
qua như đã nói ở trên. Luật Biển Liên Hợp Quốc xác định chủ quyền như thế nào?
Theo điều 121 của luật này, các đảo là những hòn đá trên đó không thể nuôi
dưỡng nổi con người và đời sống kinh tế tự túc thì không có vùng chủ quyền kinh
tế (Rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their
own shall have no exclusive economic zone or continental shelf). Có
thể nói chẳng có một hòn đảo nào trong khu vực Trường Sa là hội đủ điều kiện có
thể có nền kinh tế tự túc để Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền toàn bộ vùng biển
giữa Phi, Việt Nam và Mã Lai chẳng hạn. Viêc Trung Quốc chiếm các hòn đá
Mischief và xây dựng căn cứ quân sự là một thí dụ trong việc xác định chủ quyền
ở biển Đông. Các nhóm hòn đá trong khu Trường Sa nếu thuộc chủ quyền của một
nước nào đó thì chỉ có 12 hải lý chung quanh nó là thuộc họ. Do vậy điều
này cần là cơ sở để các nước kiện Trung Quốc ở toà án quốc tế về chủ quyền biển
Đông dựa trên Luật Biển Liên Hợp Quốc. Khi có tranh chấp và khi hai bên không
thể tự giải quyết thì có thể dùng 4 phương tiện giải quyết khác: Toà án Quốc tế
(International Court of Justice), Toà án Quốc tế về Luật Biển (International
Tribunal for the Law of the Sea), và một Hội đồng Hoà giải như ghi trong Luật
Biển hoặc một Hội đồng Hoà giải đặc biệt mà hai bên đồng ý.
TĐM: Việt Nam nhìn Luật Biển Liên Hợp Quốc
như thế nào?
VQV: Việt Nam đã ký kết Luật Biển và đã xử
dụng nó trong việc giải quyết lãnh hải với Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ, nhưng chưa
thấy xử dụng chúng trong vấn đề Trường Sa. Cho đến nay thay vì chấp nhận quan
điểm trên cơ sở Luật Biển, Việt Nam cũng tuyên bố mơ hồi gần như Trung Quốc là
khu vực Trường Sa thuộc về chủ quyền Việt Nam. Việt Nam cũng chưa
sử dụng các chế tài quốc tế, như toàn án quốc tế để bảo vệ mình. Là một nước
nhỏ Việt Nam
không thể đơn phương chống lại Trung Quốc do đó cần dùng chế tài quốc tế. Tuy
nhiên Việt Nam
cũng đã làm những quyết định giải quyết về biên giới đất liền và Vịnh Bắc Bộ
với Trung Quốc. Việc Việt Nam
ký kết với Trung Quốc về hiệp định biên giới trên bộ và ở vịnh Bắc Bộ là hoàn
toàn đúng đắn. Quan điểm cá nhân của tôi là dù có thiệt thòi một chút (nếu có
thiệt thòi thật đi nữa) vẫn là điều cần làm để bảo vệ mình và hai hiệp định này
được ký kết khi Trung Quốc còn yếu cũng là cái may, nếu để đến lúc Trung Quốc
trở thành siêu cường mà lại không có hiệp định thì quả là nguy to. Vấn đề trên biển
Đông thì tất nhiên không thể giải quyết trước mắt. Việt Nam vẫn phải
tiếp tục xác nhận chủ quyền ở Hoàng Sa và tất nhiên là một số đảo ở Trường Sa,
nhưng không thể là tất cả. Việt Nam
cũng cần giải quyết nhanh vấn đề biên giới với các nước trong khối ASEAN, có
như thế khối ASEAN mới có thể tiến tới một đối sách chung với Trung Quốc.
TĐM:
Mặc dù vấn đề biển Đông là vấn đề dài lâu chưa thể có giải pháp. Tuy
nhiên đã có những bước phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam và Trung Quốc như hiệp
định về biên giới trên bộ và vịnh Bắc Bộ đã được ký kết, vậy thì lý do gì Trung
Quốc phải làm hành động khiêu khích, tới mức bắn giết những người đánh cá Việt
Nam, bắt và đem ra toà vì tội hải tặc. Nếu có một chút tình hữu nghị thật sự
thì họ đã giải quyết khác, dù những người đánh cá thêm là hải tặc thật. Anh
phân tích vấn đề này như thế nào? Lại vào đúng lúc kỷ niệm 55 năm hữu nghị
Trung Quốc-Việt Nam ở Hà Nội. Vậy mục đích của
Trung Quốc là gì?
VQV: Vấn đề biển Đông là vấn đề lâu dài
chúng ta sẽ nói đến sau. Tuy nhiên sau khi tỏ thái độ hợp tác hoà bình bằng
việc ký kết với ASEAN qui tắc hành xử trên biển Đông (ASEAN – China Code of
Conduct) vào năm 2000 thì việc Trung Quốc tấn công tầu đánh cá Việt Nam và bắt
giam 8 người vào đúng lúc Hà Nội tổ chức kỷ niệm 55 tình hữu nghị Việt Trung là
chuyện bất ngờ. Trung Quốc tấn công vào ngày 8/1/2005 và đến gần sau một tuần
lễ vào ngày 13/1/2005 Việt Nam
mới “yêu cầu phía Trung Quốc có các biện pháp tích cực nhằm ngăn chặn và chấm
dứt ngay những hành động sai trái trên, cho điều tra và xử lý nghiêm
những kẻ bắn chết người.” Nghe nói Việt Nam phản ứng chậm vì không muốn ảnh
hưởng đến kỷ niệm tình hữu nghị. Và phản đối này cũng rất nhẹ nhàng, mở cửa cho
Trung Quốc có thái độ mềm dẻo. Sau đó Việt Nam đề nghi vào ngày 16/1/2005 là
hai bên “tổ chức hội nghị Uỷ ban liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ để sớm ổn định
tình hình trong vùng đánh cá chung ở Vịnh Bắc Bộ, không để tái diễn những sự
việc tương tự nhằm thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ
giữa hai nước.” Ngày 18/1/2005 Trung Quốc trả lời là cuộc tấn công
là nhằm vào đánh trả hải tặc Việt Nam và những hải tặc này đã nhận
tội và Trung Quốc có bằng cớ. Khẳng định này cho thấy Trung Quốc đặt Việt Nam vào thế khó xử và có tính thách thức: hoặc
Việt Nam chấp nhận kết luận
của Trung Quốc, hoặc Việt Nam
tiến tới một bước gì mạnh mẽ hơn. Làm gì có việc mở đường cho việc giải quyết
một cách hữu nghị, nể mặt nhau. Sau đó, đến ngày 21/1/2005 Trung Quốc mới
cho phép Tổng lãnh sự Việt Nam
ở Quảng châu đến coi xác và thăm người bị bắt, nhưng không chịu thả và còn đòi
đưa ra toà. Cuối cùng đến ngày 7/2/2005 Toà án Trung Quốc xử trắng án những
người đánh cá. Chính việc xử này đơn phương này cho thấy đây là trò hề chính
trị vì chính Trung Quốc trước đó đã chính thức ra tuyên bố kết tội những người
thuyền nhân này là hải tặc.
Hãy
bỏ qua việc xử án. Cũng hãy bỏ qua vụ tấn công trên có vi phạm Hiệp định phân
định lãnh hải giữa hai nước hay không mà trong đó hai bên đã có thoả thuận giải
quyết hoà bình các tranh chấp. Chỉ nhìn vào hành động của Trung Quốc và trả lời
chính thức của họ cũng cho thấy là thái độ của Trung Quốc có tính de doạ, lên
mặt đàn anh.
Phải
chăng họ muốn nói là tất cả những hành động nào mà Trung Quốc coi là không
phải, họ sẽ dùng vũ lực nếu như họ tự cho rằng họ bị tấn công. Và như
vậy họ có thể bịa ra bất cứ một lý do nào đó trong tương lai để dùng vũ
lực ở bất cứ nơi nào ở biển Đông mà họ cho là của họ khi họ cần dùng vũ lực.
Phải
chăng điều này là biểu hiện việc Trung Quốc sẵn sàng dằn mặt Việt Nam trong nhiệm kỳ hai của Bush vì Bush có dấu
hiệu muốn Việt Nam
nghiêng hơn về phí Mỹ. Đây chỉ là một giả thiết cần tìm hiểu. Phải chăng Trung
Quốc không chấp nhận Việt Nam
đứng ngoài sự tranh chấp siêu cường và chỉ muốn Việt Nam ngoảnh mặt về phía Trung Quốc?
Quả thật điều này còn quá sớm để khẳng định. Một bước sai có thể đưa đến những
hậu quả khó lường của Trung Quốc. Việt Nam cần tiếp tục chính sách không
nghiêng phe nào, nhưng phải luôn cảnh giác rằng Việt Nam rất cần hữu nghị với
Trung Quốc, nhưng không thể coi Trung Quốc là bè bạn, nói chi là bè bạn chí
cốt. Việt Nam trong vụ bắn thuyền nhân vừa qua đã rất khiêm nhượng giải quyết
“song phương” với Trung Quốc, không muốn tạo dư luận quốc tế đã làm cho chính
giới nước ngoài cho rằng Việt Nam nghiêng về phía Trung Quốc. Chừng nào Trung
Quốc chưa tuyên bố bỏ việc xác định chủ quyền toàn diện ở biển Đông và chừng
nào Trung Quốc chưa chấp nhận tham gia giải quyết đa phương vấn đề chủ quyền
theo Luật Biển Liên Hợp Quốc thì chừng đó Trung Quốc vẫn là hiểm hoạ về an ninh
trong khu vực.
TĐM:
Anh nói không nghiêng về phe nào nghĩa là gì? Trung lập?
VQV: Không nghiêng không có nghĩa là trung
lập. Nó đòi hỏi việc đánh giá tình hình thế giới trên quan điểm đạo đức con
người, và tư duy thuần lý nhưng đồng thời để đi đến quyết định hành động và thế
đứng như thế nào là tuỳ thuộc vào quyền lợi quốc gia. Lấy một thí dụ là khi Mỹ
muốn trừng trị Saddam Hussein với quá khứ và hành động về mặt con người không
thể chấp nhận được, chính phủ Việt Nam đứng ngay về phía Saddam, dựa trên cách
nhìn: kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta. Một thế đứng tốt hơn cho quyền lợi của
quốc gia là kêu gọi giải pháp hoà bình. Về nhiều hành động ngoại giao, có thể
nói chính phủ Việt Nam
phản ứng với nhãn quan khá rõ là Mỹ là kẻ thù. Một thí dụ thứ hai là vào 1 tháng
4 năm 2001 khi một máy bay Trung Quốc rớt vì đụng vào máy bay thám thính của Mỹ
bay trên biển Đông, được xác định là cách 60 km vùng lãnh hải của Trung Quốc
theo Luật Biển Liên Hợp Quốc, Việt Nam ra tuyên bố ủng hộ Trung Quốc, giống như
tự bắn vào chân mình. Cần xác định là mọi quốc gia đều có quyền đi lại trên
vùng lãnh hải quốc tế và biển Đông không thuộc về Trung Quốc.
TĐM:
Thế anh có cho rằng Mỹ nghĩ Việt Nam có cái nhìn thù địch đối với họ
không?
VQV: Không hẳn như thế nhưng họ biết Việt Nam cảnh giác với họ ở mức cao do đó mà họ cho
rằng Việt Nam
là nghiêng về phía Trung Quốc cũng dễ hiểu. Chuyện trước đây có lãnh đạo cao
cấp muốn nghiêng về phía Trung Quốc qua việc đề nghị với Trung Quốc về giải
pháp đỏ ở Campuchia, nhằm lập một chính phủ cộng sản Campuchia chống lại Mỹ và
bảo vệ chủ nghĩa xã hội (đã bị chính Trung Quốc từ chối vì giải pháp này có hại
cho quyền lợi của Trung Quốc trong đối sách với Mỹ), nhưng đã tạo cho Mỹ nhìn
Việt Nam một cách không thuận lợi. Trung Quốc không muốn bảo vệ xã hội chủ
nghĩa mà chỉ muốn trở thành siêu cường, vừa hợp tác đồng thời vừa đối trọng để
có được sự công nhận của Mỹ là Trung Quốc là một siêu cường ít nhất là trong
khu vực. Việc một vài lãnh đạo cao cấp chủ trương đồng chí với Trung Quốc cũng
là dựa vào nguyên tắc cơ bản là không nên biến Trung Quốc thành kẻ thù, điều
này tất nhiên phải thế, nhưng họ lại không nhìn xa hơn để thấy vai trò của Mỹ.
Tất nhiên chuyện đó đã qua rồi. Và giới chính trị Việt Nam đã thấy rõ
là Trung Quốc hành động không phải vì mục đích bảo vệ xã hội chủ nghĩa mà vì
quyền lợi siêu cường của họ. Trung Quốc muốn đảng cộng sản tiếp tục lãnh
đạo Trung Quốc nhưng quyền lợi quốc gia Trung Quốc là trên hết. Bất cứ ý đồ nào
mong muốn cùng Trung Quốc bảo vệ sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản sẽ tạo ra thế
đứng không thể gọi là hai hàng.
TĐM:
Anh nghĩ Việt Nam
không nên cảnh giác là Mỹ luôn luôn tìm mọi cách thực hiện diễn biến hoà bình,
lật đổ chế độ để phá hoại sự ổn định ở Việt Nam?
VQV: Bất cứ một nước nào chẳng phải
cảnh giác trong việc xem xét hành động của một nước khác, nhất là hành động của
nước đó có liên hệ mật thiết với quyền lợi quốc gia của mình. Nhưng là cảnh
giác tỉnh táo. Nước Mỹ chắc chắn không những muốn, mà còn áp lực Việt Nam dân
chủ hơn, và chắc chắn sẽ vui mừng hơn nếu Việt Nam tự đổi mới để nâng cao thể
chế dân chủ. Nhưng việc có chính sách và hành động để lật đổ hay gây diễn biến
hoà bình là chuyện khác. Với một Trung Quốc ngày càng mạnh với tư cách một
cường quốc đang lên, Mỹ không cần và không thể bao vây, nhưng vẫn muốn các thế
lực chung quanh mạnh để cân bằng và nếu như Trung Quốc có hành động phiêu lưu
trong tương lai thì họ có đồng minh để đối phó. Họ sẽ phải đặt ra cho Trung
Quốc thấy, không phải chỉ bằng lời nói mà bằng lực lượng, là tốt nhất là mọi
người cùng hoà bình hữu nghị để phát triển nhưng Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt
nếu như manh động. Tất nhiên Việt Nam, dù có muốn, cũng không đủ lực
làm tiền đồn bao vây. Việt Nam,
Trung Quốc và Mỹ đều thấy điều này.
Nhưng
ngược lại chính vì quá chú trọng vào tiềm năng “thù địch” của Mỹ, mà độ nghiêng
cần thiết về phía Mỹ, có lợi cho quyền lợi của hai nước có thể bị ảnh hưởng.
Vấn đề hợp tác chống khủng bố bị hạn chế vì vấn đề này, như việc Việt Nam từ
chối cho máy bay Mỹ bay qua bầu trời Việt Nam để chuyển quân chống khủng bố.
Nhưng quan trọng hơn là chính sách tôn giáo của Việt Nam. Chính phủ Mỹ dù không phải là
Bush cũng sẽ bị áp lực của các lực lượng tôn giáo ở Mỹ đòi hỏi tự do tôn giáo ở
Việt Nam.
Khách quan mà nói Việt Nam không chủ trương đàn áp tôn giáo kể cả hạn chế nó,
nhưng vì Việt Nam vẫn nhìn vấn đề tôn giáo qua lăng kính cảnh giác là kẻ thù Mỹ
có động cơ làm diễn biến hoà bình và qua cái khung điều hành tôn giáo của thời
kháng chiến. Cái khung này là áp lực mọi tôn giáo trở thành thành viên Mặt Trận
Tổ Quốc, là đòi hỏi mọi học viên học tập để trở thành chức sắc trong các tôn
giáo phải qua sự xét duyệt của nhà nước. Điều này quả thực đã lỗi thời và biến
thành cái cớ để những người chống chế độ tiếp tục xử dụng, và lôi kéo theo
những người khác nhằm cho rằng chế độ không cho tự do tôn giáo. Vấn đề đạo tin
lành truyền trong cộng đồng người Thượng cũng thế. Một chính sách đúng đắn hơn
là tách bạch tôn giáo khỏi chính quyền. Tôn giáo làm chuyện tôn giáo. Chính
quyền làm chuyện chính quyền. Vào Mặt trận là chuyện tự nguyện; chính điều này
mà trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, Mặt trận đã có sức thu hút những
người không phải là cộng sản. Chỉ cần làm rõ là chính quyền sẽ xử lý về mặt
pháp luật tất cả những người nào đứng ra rao truyền và tổ chức người Thượng đòi
hỏi tự trị hoặc độc lập. Chính quyền nào cũng sẽ xử lý tất cả những người xách
động và tổ chức việc lật đổ chế độ bằng bạo động, hoặc có những hành động sai
trái phạm luật khác. Hoạt động tôn giáo là quyền tự do của con người. Giải
quyết dứt điểm vấn đề tôn giáo là giải quyết một mâu thuẫn lớn nhất với Mỹ và
các nước khác. Nó sẽ cắt bỏ cục u đã ảnh hưởng không tốt quá lâu đến bộ mặt nhà
nước Việt Nam.
Việt Nam
nên đi trước một bước về vấn đề tôn giáo. Không vì cớ gì phải nhìn Trung Quốc
để xem đàn anh làm trước thì mình hãy làm sau. Như thế tránh sao được người
khác cho là mình không nghiêng về phía Trung
Quốc
Đã
đến lúc mình cần nhận thấy rằng muốn đổi mới triệt để thì phải học tư tưởng,
hành động và suy nghĩ duy lý của phương tây. Không nên ngó lại nhìn cụ Khổng
Trung Quốc đã đè nặng lên tư duy một chiều ở Việt Nam bao nhiêu đời nay. Còn như tình
cảm và đạo đức mà mình đã sàng lọc từ Trung Quốc kết hợp với những gì mình đã
có để biến thành đạo đức Việt Nam
thì cứ tìm lại quá khứ của chính mình mà học, không có lý do gì phải ngoảnh về
Trung Quốc để mà học.



©
Thời Đại Mới -
Số 4 - Tháng 3/2005
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật: