Vật quyền bảo đảm - Những vấn đề lý luận đặt ra trong quá trình cải cách pháp luật dân sự ở nước ta
Nghiên cứu, hoàn thiện chế định về vật quyền bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong cải cách pháp luật dân sự và thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại ở nước ta, từ đó góp phần thực hiện mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020.
1. Lý thuyết về vật quyền bảo đảm
Vật quyền bảo đảm là một khái niệm của hệ thống pháp
luật Châu Âu lục địa (Civil law), được dùng để chỉ quyền trực tiếp và
ngay tức khắc của bên nhận bảo đảm trên một tài sản. Quan hệ vật quyền
bảo đảm được xác lập trên nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa hai yếu
tố: (i) chủ thể của quyền (con người) và (ii)
đối tượng của quyền (tài sản). Theo đó, quan hệ vật quyền bảo đảm cho
phép chủ thể có quyền “áp đặt” quyền của mình lên tài sản, mà không cần
đến sự đồng ý hoặc không đồng ý của chủ thể khác. Đây chính là sự khác
biệt cơ bản giữa vật quyền bảo đảm nói riêng và vật quyền nói chung với
quan hệ trái quyền (trong quan hệ trái quyền thì quyền của chủ thế này,
đồng thời là nghĩa vụ của chủ thể khác). Với cách tiếp cận nêu trên,
chúng ta nhận thấy vật quyền bảo đảm có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất, về khía cạnh kỹ
thuật lập pháp thì vật quyền bảo đảm phải được quy định trong văn bản
Luật. Đây không chỉ là nguyên tắc đơn thuần xuất phát từ kỹ thuật lập
pháp, mà “đường sau” nguyên tắc này là một triết lý đã được pháp luật
nhiều nước thừa nhận, đó là: Do vật quyền bảo đảm “chống” lại các quyền
của chủ thể khác, trong đó có quyền của chủ sở hữu tài sản nên để bảo vệ
quyền sở hữu, hạn chế sự “tùy tiện” của các bên trong thỏa thuận áp
dụng vật quyền bảo đảm thì những loại quyền nào được xác định là vật
quyền bảo đảm phải được Nghị viện (Quốc hội) thông qua trong văn bản có
giá trị pháp lý cao nhất (văn bản Luật). Như vậy, nếu như tự do thỏa
thuận, thể hiện ý chí là nguyên tắc áp dụng trong các quan hệ trái
quyền, thì vật quyền bảo đảm lại được “hạn chế” bởi các quy định của
pháp luật.
Thứ hai, vật quyền bảo đảm
cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản ngay cả khi
tài sản đó đang thuộc sự chiếm hữu của chủ thể khác (tạm gọi là quyền theo đuổi).
Như vậy, giống như các vật quyền khác, vật quyền bảo đảm cho phép người
có quyền đối vật được phép thực hiện quyền của mình trên vật bất kể vật
đang nằm trong tay ai. Ví dụ: Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu người
mua, người nhận tặng cho tài sản thế chấp… phải giao tài sản cho mình để
xử lý thu hồi nợ. Nguyên tắc này không chỉ bảo vệ người có quyền đối
vật, mà còn khuyến khích tài sản bảo đảm tham gia các giao dịch dân sự,
thương mại, cũng như xác định cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm của
người mua, người nhận tặng cho tài sản…
Thứ ba,
vật quyền bảo đảm cho phép người có quyền thực hiện quyền của mình đối
với tài sản bảo đảm trước những chủ thể khác đã xác lập vật quyền bảo
đảm sau mình (tạm gọi là quyền ưu tiên). Điều
này có nghĩa, trong trường hợp nhiều người có quyền đối vật cùng loại
trên cùng một tài sản, thì người có quyền đối vật được xác lập trước có
quyền ưu tiên so với những người có quyền đối vật được xác lập sau.
Thứ tư, vật quyền bảo đảm cho phép bên có quyền “chống lại” các chủ thể khác có liên quan đến tài sản bảo đảm (tạm gọi là quyền đối kháng).
Điều này có nghĩa, khi vật quyền bảo đảm đã được công khai với bên thứ
ba (thông qua cơ chế đăng ký hoặc chiếm giữ tài sản) thì quyền ưu tiên
chính thức được xác lập lên tài sản, mà không phụ thuộc vào ý chí của
chủ thể nhận bảo đảm sau. Như vậy, khi vật quyền đã được xác lập hợp
pháp thì tất cả các chủ thể, dù với tư cách nào cũng phải tôn trọng
quyền năng của người có vật quyền đã được xác lập hợp pháp, phù hợp với
các điều kiện do pháp luật quy định.
Thứ năm, pháp luật các nước
thường quy định về vật quyền bảo đảm mang tính truyền thống là: cầm cố
và thế chấp. Ngoài ra, pháp luật một số nước cũng có những quy định đặc
thù đối với vật quyền bảo đảm, như Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Liên bang
Đức quy định về “nợ điền địa” như một loại vật quyền bảo đảm.
2. Một số hạn chế trong các quy định của pháp luật khi đối chiếu với các nguyên lý về vật quyền bảo đảm
Ở Việt Nam, khi quy định về các biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự trong Bộ luật Dân sự, các nhà làm luật đã bước
đầu tiếp thu những đặc điểm cơ bản của vật quyền bảo đảm, song các quy
định đó lại được nhìn nhận và xây dựng trên cơ sở kết hợp với nguyên lý
về trái quyền. Do vậy, một số quy định của Bộ luật Dân sự tuy đã mang
“dáng dấp” của vật quyền bảo đảm (ví dụ như: thứ tự ưu tiên thanh toán,
giá trị pháp lý đối với người thứ ba), song lại chưa thực sự triệt để,
toàn diện. Qua nghiên cứu, so sánh với nguyên lý về vật quyền bảo đảm,
chúng tôi nhận thấy, pháp luật hiện hành (đặc biệt là Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005) bộc lộ một số hạn chế chủ yếu sau đây:
2.1. Chưa triệt để thừa nhận các nguyên tắc của vật quyền bảo đảm
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, do Bộ luật Dân sự
Việt Nam tiếp cận vật quyền bảo đảm từ giác độ hợp đồng (trái vụ) nên
các nguyên tắc pháp lý gắn liền vật quyền bảo đảm (ví dụ như: quyền theo
đuổi hoặc quyền ưu tiên) chưa được quy định cụ thể và đầy đủ. Đánh giá
khách quan thì quy định như Bộ luật Dân sự hiện hành có ưu điểm là dễ
hiểu, dễ áp dụng trong đời sống, nhưng điểm hạn chế nhất là hiệu quả
thực thi các quy định về bảo vệ bên cho vay có bảo đảm còn thấp, thiếu
triệt để. Kết quả rà soát cho thấy, quyền của bên cho vay có bảo đảm
(chủ thể có quyền trong quan hệ vật quyền) phụ thuộc nhiều vào ý chí,
trách nhiệm của bên vay (chủ sở hữu tài sản). Thực tiễn giải quyết tranh
chấp của Tòa án thời gian qua cho thấy, pháp luật nội dung (Bộ luật Dân
sự) với các quy định về biện pháp bảo đảm mới chỉ đề cập đến những vấn
đề cơ bản về quyền, nghĩa vụ của các bên được thỏa thuận trong hợp đồng
bảo đảm, còn những vấn đề có tính xuyên suốt, quan trọng về vật quyền
bảo đảm vẫn chưa được quy định để làm nền tảng cho sự vận hành của chế
định vật quyền bảo đảm như Bộ luật Dân sự của một số quốc gia thuộc hệ
thống luật Civil law.
2.2. Chưa tạo hành lang pháp lý an toàn để khai thác tối đa giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm
Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì bên thế chấp tài sản có quyền “bán,
trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển
trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý”
(khoản 4 Điều 349). Do vậy, việc chuyển dịch tài sản thế chấp phải được
sự đồng ý của bên nhận thế chấp. Quy định nêu trên là một giải pháp
nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận thế chấp, song trên thực tế khi bên
thế chấp chuyển dịch quyền sở hữu tài sản thế chấp thì bên nhận thế chấp
khó có thể “truy đòi” tài sản thế chấp do pháp luật thiếu cơ chế pháp
lý để thực thi hiệu quả. Trong khi đó, quy định có tính chất “điều kiện”
của Bộ luật Dân sự rất dễ dẫn đến một hệ quả không mong muốn là đã hạn
chế khả năng khai thác giá trị kinh tế của tài sản. Pháp luật các nước
trên cơ sở tôn trọng quyền theo đuổi của chủ
thể có quyền đối vật đã giải quyết triệt để vấn đề nêu trên khi quy định
cho phép chủ sở hữu tài sản được quyền chuyển dịch tài sản cho người
thứ ba, song trong trường hợp bên thế chấp không thực hiện đúng nghĩa vụ
bảo đảm thì bên nhận thế chấp vẫn được quyền tiếp cận, thu hồi và xử lý
tài sản đó, trừ trường hợp giữa các bên có thỏa thuận khác.
2.3. Vướng mắc trong việc xác định thứ tự
ưu tiên thanh toán giữa bên nhận cầm cố tài sản (bên nhận thế chấp tài
sản) với bên nhận bảo lãnh và quan hệ giữa bên nhận bảo đảm với các chủ
thể khác
Theo quy định tại khoản 2 Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2005 thì “trong
trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
dân sự mà có giao dịch bảo đảm có đăng ký, có giao dịch bảo đảm không
đăng ký thì giao dịch bảo đảm có đăng ký được ưu tiên thanh toán”.
Nhìn từ giác độ khoa học pháp lý thì quan hệ bảo lãnh phải được hiểu là
quan hệ trái quyền và không thuộc đối tượng đăng ký như các vật quyền
bảo đảm khác. Tuy nhiên, do Bộ luật dân sự Việt Nam xác định thứ tự ưu
tiên thanh toán giữa giao dịch bảo đảm bằng tài sản (ví dụ như: cầm cố,
thế chấp) với bảo lãnh theo tiêu chí “đăng ký”, trong khi hợp
đồng bảo lãnh không thuộc diện đăng ký nên chưa giải quyết triệt để thứ
tự ưu tiên giữa bên nhận bảo lãnh với bên nhận thế chấp (nhận cầm cố).
Mặt khác, Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2005 mới chỉ
giải quyết vấn đề thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các giao dịch bảo đảm,
chưa giải quyết vấn đề xác định thứ tự ưu tiên thanh
toán từ số tiền thu được do xử lý tài sản bảo đảm giữa bên nhận bảo đảm
với chủ thể khác có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm, (ví
dụ: người được thi hành án, Nhà nước trong trường hợp doanh nghiệp nợ
thuế) hay với các quyền ưu tiên khác liên quan đến tài sản bảo đảm (ví
dụ: quyền của người lao động trong doanh nghiệp; quyền của người cho vay
tiền mua tài sản…). Đồng thời, Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2005 mới chỉ
đề cập đến thuật ngữ “thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các giao dịch bảo đảm”. Theo chúng tôi, thuật ngữ nêu trên chưa phù hợp, vì nội hàm của khái niệm “thứ tự ưu tiên thanh toán”
thường chỉ nhằm xác định giữa các bên cùng nhận bảo đảm bằng một tài
sản khi xử lý tài sản bảo đảm, mà chưa bao hàm đầy đủ và toàn diện như
khái niệm “quyền ưu tiên” hiện đang được pháp luật nhiều nước quy định.
2.4. Vướng mắc trong các quy định về xác
định thời điểm phát sinh giá trị pháp lý đối với người thứ ba của hợp
đồng cầm cố tài sản và đối tượng của hợp đồng cầm cố tài sản
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “việc cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố”
(Điều 328), nhưng hợp đồng cầm cố nếu chưa đăng ký thì chưa phát sinh
giá trị pháp lý đối với người thứ ba. Vấn đề đặt ra là khi đã “chuyển giao” vật thì có cần thiết phải “đăng ký” để phát sinh giá trị pháp lý đối với người thứ ba không? Về nguyên lý, nếu “đăng ký” mới
phát sinh giá trị pháp lý đối với người thứ ba thì việc chuyển giao với
ý nghĩa, mục đích là nhằm công khai hóa thông tin về tình trạng pháp lý
của tài sản đối với người thứ ba sẽ phần nào bị giảm ý nghĩa pháp lý.
Tuy nhiên, nếu không quy định về đăng ký cầm cố thì giải quyết thứ tự ưu
tiên như thế nào trong trường hợp tài sản vừa được dùng để cầm cố, vừa
được dùng để thế chấp. Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật dân sự năm
2005 thì tài sản được dùng để cầm cố có thể là động sản hoặc bất động
sản, nhưng phải là “vật”. Điều này có nghĩa các bên không được cầm cố
quyền tài sản. Tuy nhiên, tham khảo Điều 362 Bộ luật Dân sự Nhật Bản thì
“quyền tài sản có thể trở thành đối tượng của cầm cố”. Quy
định của Bộ luật dân sự Nhật Bản liệu có phù hợp với bản chất “chuyển
giao” trong biện pháp cầm cố không? Cơ chế nào để công khai hóa thông
tin với người thứ ba trong trường hợp tài sản bảo đảm là “quyền tài
sản”?
2.5. Vướng mắc trong quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Luật Đất đai 2003 không có quy định về thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, mà vấn đề này được quy
định trong Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Theo quy định của
khoản 4 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, thì: “…hợp đồng thế chấp,bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.” Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật dân sự, thời điểm đăng ký được tính là thời điểm chuyển quyền sử dụng đất (khoản 1 Điều 168, khoản 2 Điều 439 và Điều 692), còn thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định là thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 405). Việc Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký có thể được xem là trường hợp pháp luật có quy định khác quy
định tại Điều 405 Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên, với quy định hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký, Nghị định
số 181/2004/NĐ-CP đã đồng nhất thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo
đảm với thời điểm có hiệu lực của vật quyền bảo đảm (thời điểm đăng ký).
Điều này chưa phù hợp với lý thuyết về đăng ký vật quyền và lý thuyết
về trái quyền, cũng như thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất tại Việt Nam.
2.6. Chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể (bao gồm cả Nhà nước) khi giải quyết những lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm
Bộ luật dân sự năm 2005 đã có những quy định nhằm xác
định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm, cụ thể là căn
cứ vào thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm (đối với trường hợp giao dịch
bảo đảm có đăng ký) hoặc thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm (đối với
trường hợp giao dịch bảo đảm không có đăng ký)[1]. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp quyền và lợi ích của bên nhận bảo đảm vẫn chưa được bảo
vệ thỏa đáng, ví dụ như: tài sản bảo đảm bị áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cần phải tìm hiểu
thông tin hoặc đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm để công
khai hóa các thông tin liên quan đến tài sản đó không? Nếu không đăng ký
để công khai hóa thì người dân sẽ không có đầy đủ thông tin cần thiết
phục vụ cho việc thiết lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài
sản. Theo chúng tôi, tính minh bạch về tình trạng pháp lý của tài sản
bảo đảm càng rõ ràng thì càng phục vụ cho sự vận động an toàn của các
giao dịch trên thị trường. Ngoài ra, “bên thứ ba” có bao gồm cả các cơ quan công quyền không? Nếu xác định “bên thứ ba”
bao gồm cả các cơ quan công quyền thì thứ tự thanh toán giữa nhà nước
và các tổ chức, cá nhân phải được giải quyết trên cơ sở bình đẳng về mặt
lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm. Về vấn đề này, pháp luật một số
nước trên thế giới mà chúng tôi được nghiên cứu quy định bên thứ ba
được hiểu bao gồm cả Nhà nước và lợi ích của Nhà nước liên quan đến tài
sản bảo đảm chỉ được bảo vệ tuyệt đối trong trường hợp tài sản bị tịch
thu sung công quỹ do hành vi vi phạm pháp luật hình sự của người có
quyền sở hữu, chiếm hữu và sử dụng hợp pháp tài sản.
Với việc pháp luật quy định rõ ràng, chính xác và
công bằng quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể (bao gồm cả Nhà nước)
có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các giao
dịch trong xã hội, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang từng bước thiết
lập một xã hội dân sự.
2.7. Chưa thực sự tạo cơ chế thuận lợi cho chủ nợ (bên cho vay) có bảo đảm thực thi tốt nhất quyền năng trên thực tế
Thực tiễn cho thấy, trong trường hợp bên bảo đảm
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm thì bên
nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm trong thời gian nhanh nhất,
ít tốn kém nhất nhưng vẫn phải khách quan, trung thực. Ngoài ra, cần
phải có sự thay đổi về quan điểm lập pháp khi điều chỉnh hành vi của các
bên ký kết hợp đồng bảo đảm, đó là: áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn đối
với những tranh chấp liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm; tăng
cường cơ chế, biện pháp để bên nhận bảo đảm dễ dàng tiếp cận và xử lý
tài sản bảo đảm hoặc chỉ cần chứng minh 02 chứng cứ là: (i) hợp đồng bảo đảm hợp pháp và (ii)bên
vay không có khả năng trả nợ theo đúng cam kết, thì bên cho vay có bảo
đảm hoàn toàn có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo như thoả thuận hoặc
theo pháp luật quy định. Hiện nay, “có 56 nước áp dụng quy trình tố
tụng giản lược này, nhờ đó thời gian để tiến hành xử lý tài sản thế chấp
ở những nước này ít hơn 50% so với những nước dùng các biện pháp xét xử
khác”[2].
3. Giải quyết một số vụ việc phát sinh trong thực tiễn áp dụng pháp luật
3.1. Theo phản ánh tại Công văn số
224/NHPT.PYE-KTT thì Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển Phú Yên (nay là Chi
nhánh Ngân hàng phát triển Phú Yên) và Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và
Phát triển Bình Định cùng cho vay và nhận thế chấp bằng tài sản là động
sản của Công ty TNHH Phương Lan. Trong đó, hợp đồng bảo đảm số 04/HĐBĐTV
ngày 25 tháng 4 năm 2005 giữa Công ty TNHH Phương Lan và Chi nhánh Ngân
hàng phát triển Phú Yên đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao
dịch, tài sản tại TP Đà Nẵng (Giấy chứng nhận đăng ký thế chấp tài sản
thể hiện: thời điểm đăng ký là 13h56’ phút ngày 14 tháng 4 năm 2006),
còn Hợp đồng bảo đảm số 02/2007/HĐ ngày 31 tháng 5 năm 2007 giữa Công
ty TNHH Phương Lan và Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và Phát triển Bình Định
cũng được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Đà
Nẵng với thời điểm đăng ký thể hiện trên đơn yêu cầu đăng ký là 15h21’ ngày 04 tháng 6 năm 2007. Tuy
nhiên, Bản án sơ thẩm số 05/2010/KDTM-ST ngày 9/7/2010 của Tòa án nhân
dân tỉnh Phú Yên khi xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa Chi nhánh
Ngân hàng phát triển Phú Yên và Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam –
Chi nhánh Bình Định cho rằng, do Chi nhánh Ngân hàng phát triển Phú Yên “không cầm, nắm giữ cơ sở pháp lý gốc của tài sản trùng lắp”
nên không thể phát mãi tài sản trùng lắp giữa hai Ngân hàng để bảo đảm
việc thanh toán nợ cho Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Phú Yên.
Về vấn đề này, theo quy định tại khoản 1 Điều 324 BLDS 2005 thì “Một
tài sản có thể bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị
tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa
vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác pháp luật có quy định
khác”. Trong trường hợp một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa
vụ và đều thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm thì thứ tự ưu tiên thanh
toán khi xử lý tài sản bảo đảm được pháp luật quy định như sau: “Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo quy định tại Điều 325 Bộ luật dân sự” (khoản 1 Điều 6 Nghị định sô 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm) và“Trong
trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký thì việc xác định thứ tự ưu
tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo thứ tự đăng
ký” (khoản 1 Điều 325 BLDS 2005). Ngoài ra, khoản 1 Điều 11 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định: “Giao
dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm
đăng ký. Thời điểm đăng ký được xác định theo quy định của pháp luật về
đăng ký giao dịch bảo đảm” và theo quy định tại khoản 1 Điều 350 Bộ luật Dân sự 2005 thì việc “nắm, cầm, giữ” giấy
tờ về tài sản thế chấp hoàn toàn do các bên thoả thuận (giấy tờ có thế
do bên thế chấp hoặc bên nhận thế chấp giữ). Như vậy, việc xác định thứ
tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm phải căn cứ vào thời
điểm đăng ký giao dịch bảo đảm (không căn cứ vào việc cầm, giữ giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm).
Do đó, nếu áp dụng các quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán trong việc
giải quyết vụ việc nêu trên thì tài sản bảo đảm khi xử lý phải được ưu
tiên thanh toán cho Chi nhánh Ngân hàng phát triển tỉnh Phú Yên trước
khi thanh toán cho Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và Phát triển tỉnh Bình
Định.
3.2. Theo phản ánh tại Công văn số
124/NHGL ngày 25/3/2011 của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Gia Lâm thì Công ty TNHH My Quý và Công ty cổ phần Quỳ
Leather là khách hàng vay từ năm 2008. Hiện tại, những hợp đồng tín dụng
mà 2 Công ty nêu trên vay của Ngân hàng đã bị quá hạn. Tuy nhiên, quá
trình xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng gặp phải một số khó khăn sau
đây: (i) Bên thứ ba dùng tài sản của mình để thế chấp tại Ngân hàng cho
02 công ty nêu trên vay vốn đã không đồng ý để Ngân hàng được xử lý tài
sản thuộc sở hữu của mình; (ii) Ông Lê Bá Quý (Giám đốc Công ty TNHH My
Quý kiêm Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty cổ phần Quỳ Leather) đã
bán 02 xe ô tô (Lesux và BMW) là tài sản thế chấp cho người khác, sau đó
lại cầm đồ 02 xe ô tô đó tại cửa hàng cầm đồ vào tháng 12/2009.
Về vấn đề nêu trên, theo chúng tôi nếu áp dụng quy
định tại Điều 355 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 1 Điều 58 Nghị định
số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm
(sau đây gọi là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) thì Ngân hàng có quyền lựa
chọn một trong các phương thức xử lý tài sản tài sản thế chấp đã được
thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba để
thu hồi n��. Việc xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng trong Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba chỉ không được thực hiện trong
trường hợp Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của bên thế chấp và
quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 6
và khoản 7 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 349 Bộ luật
Dân sự năm 2005 thì bên thế chấp không được bán, trao đổi, tặng cho tài
sản thế chấp, nếu không được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc nếu tài sản
thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất,
kinh doanh. Mặt khác, việc mua bán xe ô tô giữa ông Quỳ và bà Lan Hương
được thực hiện dưới hình thức viết tay, mà chưa thực hiện thủ tục sang
tên trước bạ theo quy định của pháp luật và chưa có sự đồng ý của Ngân
hàng. Do đó, hợp đồng mua bán 02 xe ô tô nêu trên giữa ông Quỳ và bà Lan
Hương là không phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật dân sự và
hành chính. Đối với trường hợp cầm đồ 2 xe ô tô (Lesux và BMW) sau khi
thế chấp tại ngân hàng thì việc cầm đồ được thực hiện theo các quy định
tại các điều từ Điều 326 đến Điều 340 của Bộ luật Dân sự về cầm cố tài
sản (Điều 341 Bộ luật Dân sự năm 2005). Áp dụng các quy định nêu trên
vào vụ việc của Ngân hàng NN&PTNT Gia Lâm thì Ngân hàng được ưu tiên
thanh toán trước so với bên nhận cầm đồ, vì lý do: Ngân hàng và ông Lê
Bá Quỳ đã ký kết hợp đồng thế chấp và thực hiện đăng ký hợp đồng thế
chấp đó tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Hà Nội từ tháng
03/2009, trong khi hợp đồng cầm đồ (giấy biên nhận cầm đồ) được ông Lê
Bá Quỳ và hiệu cầm đồ ký kết vào tháng 12/2009.
4. Kiến nghị
4.1. Nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện kết cấu trong Bộ luật Dân sự khi quy định về vật quyền bảo đảm
Tham khảo kỹ thuật lập pháp của một số nước thuộc hệ
thống pháp luật Civil law (ví dụ: Cộng hòa Pháp, CHLB Đức), chúng tôi
cho rằng có thể nghiên cứu để kết cấu chế định về vật quyền bảo đảm
trong Bộ luật Dân sự theo hướng: (i) Quy định chung về vật quyền, trong
đó có vật quyền bảo đảm và (ii) Quy định cụ thể về những vấn đề đặc
biệt, có tính riêng biệt của vật quyền bảo đảm, trong đó tập trung vào
các vấn đề như:
- Cách thức xác lập vật quyền bảo đảm;
- Nội dung, phạm vi của vật quyền bảo đảm;
- Các nguyên lý được áp dụng đối với vật quyền bảo đảm;
- Căn cứ chấm dứt vật quyền bảo đảm.
4.2. Bộ luật Dân sự cần khẳng định rõ các nguyên tắc pháp lý phản ánh bản chất của vật quyền bảo đảm, cụ thể là:
- Quyền theo đuổi: Nghĩa là người có quyền đối vật
(trong đó bao gồm cả vật quyền bảo đảm) được phép thực hiện quyền của
mình trên vật, mà không phụ thuộc vào chủ thể chiếm hữu tài sản.
- Quyền ưu tiên: Nghĩa là người có quyền đối vật được
ưu tiên thực hiện quyền của mình trên vật trước tất cả những người
khác. Trong trường hợp nhiều người có quyền đối vật cùng loại trên cùng
một tài sản, thì người có quyền đối vật được xác lập trước có quyền ưu
tiên so với những người có quyền đối vật được xác lập sau.
Để quyền theo đuổi và quyền ưu tiên được thực hiện
một cách có hiệu quả thì hệ thống đăng ký tài sản phải được thiết lập để
công khai hóa, cung cấp thông tin về các quyền đối với tài sản cho
người thứ ba.
4.3. Nghiên cứu, hoàn thiện các quy
định chưa phù hợp của Bộ luật Dân sự hiện hành về các vấn đề như: tăng
cường khai thác giá trị kinh tế của tài sản bảo đảm; mở rộng phạm vi tài
sản là đối tượng của quyền cầm cố; thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất và thời điểm xác lập quyền thế chấp; xác định
“bên thứ ba” trong mối quan hệ với hai bên trong quan hệ vật quyền bảo
đảm; tăng cường hiệu lực thực thi các quy định về xử lý tài sản bảo đảm
(quyền của bên nhận bảo đảm; thủ tục xét xử các vụ án tranh chấp về tài
sản bảo đảm)./.
[1] Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2005
[2] Theo ấn phẩm Môi trường kinh doanh năm 2006 do Ngân hàng thế giới và Công ty Tài chính quốc tế đồng xuất bản
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP - HỒ QUANG HUY – Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp
Trích dẫn từ:http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Lists/Nghin%20cu%20trao%20i/View_Detail.aspx?ItemID=4446
(SUNLAW FIRM:
Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý
kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT CỦA
SUNLAW FRIM:
1.
Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp:
2.
Tư vấn thành lập các loại hình doanh nghiệp:
3.
Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cảu doanh nghiệp:
4.
Tư vấn quản trị nội bộ doanh nghiệp:
5. Dịch vụ
tư vấn pháp luật Việt Nam:
6.
Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính cho doanh nghiệp:
7.
Tư vấn soạn thảo quy chế cho doanh nghiệp:
8.Dịch
vụ đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường Việt Nam
9.
Dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm máy tính:
10.
Đăng ký bảo hộ quyền tác giả:
11.
Tư vấn cấp phép đầu tư:
12.
Tư vấn điều chỉnh giấy phép đầu tư:
13.
Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất (tư vấn mua bán/chuyển nhượng nhà đất):
14.
Dịch vụ luật sư tranh tụng/giải quyết tranh chấp:
15.
Dịch vụ cung cấp văn bản pháp luật: