Về chế định miễn trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự (TNHS) là hậu quả pháp lý mà bản thân người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc thực hiện hành vi phạm tội. Nhà nước có quyền áp dụng chế tài hình sự đối với người phạm tội. Hậu quả là người phạm tội bị áp dụng biện pháp cưỡng chế (hình phạt, biện pháp tư pháp) của luật hình sự.
Miễn TNHS là chấm dứt TNHS đối với người phạm tội, là Nhà
nước không buộc người phạm tội phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự do việc
thực hiện hành vi phạm tội. Miễn TNHS khác với trường hợp không có TNHS hoặc không
phải chịu TNHS (vì đây là trường hợp không phạm tội). Miễn TNHS cũng khác với
miễn hình phạt về căn cứ và thẩm quyền áp dụng.
Miễn TNHS là chế định nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam. Thực hiện
những quy định này là nhằm tiết kiệm việc áp dụng chế tài của luật hình sự nhưng
vẫn đảm bảo được yêu cầu giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã
hội. Áp dụng đúng chế định này có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, đáp ứng mục tiêu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tuy vậy, không ít cán bộ tư pháp hiện nay chưa nhận thức đúng về chế định này,
chưa phân biệt chính xác, đầy đủ về những trường hợp “được” miễn TNHS và những
trường hợp “có thể được” miễn TNHS, dẫn đến sự lúng túng khi áp dụng vào quá
trình giải quyết vụ án hình sự.
Trước năm 1985, chế định miễn TNHS được ghi nhận trong các
văn bản pháp quy hình sự đơn hành (Sắc lệnh, Pháp lệnh, Thông tư) với nhiều tên
gọi khác nhau như “tha miễn TNHS”, “miễn tố”, “miễn hết cả tội”… Trong Bộ luật Hình
sự (BLHS) năm 1985, chế định miễn TNHS được quy định tại các Điều 16, 48, 74,
227 và 247. Qua thực tiễn áp dụng, chế định miễn TNHS đã được sửa đổi, bổ sung
và hoàn thiện hơn. Trong BLHS năm 1999, chế định miễn TNHS được ghi nhận tại
các Điều 19, 25, 69, 80, 289, 290 và 314. Theo đó, các quy định về miễn TNHS
bao gồm hai loại: quy định có tính chất bắt buộc, tức là dứt khoát “được miễn
TNHS” và quy định có tính chất tuỳ nghi, tức là “có thể được miễn TNHS”. Với
quy định có tính chất bắt buộc thì khi gặp những trường hợp phù hợp với
nội dung của điều luật, cơ quan có thẩm quyền phải miễn TNHS cho người phạm
tội. Với quy định có tính chất tuỳ nghi thì cơ quan có thẩm quyền căn cứ
vào từng trường hợp cụ thể mà đánh giá tính chất, mức độ của sự việc và đi đến
quyết định miễn TNHS hoặc không miễn TNHS cho người phạm tội.
Các trường hợp được miễn TNHS
Theo quy định của BLHS hiện hành, trong các trường hợp sau
đây, người phạm tội “được miễn TNHS”:
+ Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS
về tội định phạm (đoạn 2 Điều 19 BLHS).
+ Người phạm tội được miễn TNHS, nếu khi tiến hành điều tra,
truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc
người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 1 Điều 25 BLHS).
+ Người phạm tội được miễn TNHS khi có quyết định đại xá (khoản
3 Điều 25 BLHS).
+ Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm
vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
thì được miễn TNHS (khoản 3 Điều 80 BLHS).
Khi có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để xác định rằng người
phạm tội thuộc một trong bốn trường hợp này thì cơ quan có thẩm quyền phải miễn
TNHS cho họ.
Khoản 1 Điều 23 BLHS quy định: “Thời hiệu truy cứu TNHS là
thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội
không bị truy cứu TNHS”. Những trường hợp “không bị truy cứu TNHS” do đã hết thời
hiệu được quy định tại khoản 2 Điều 23 BLHS là những trường hợp mà lẽ ra người
phạm tội phải chịu TNHS (vì có cơ sở của TNHS) nhưng Nhà nước quy định là không
truy cứu TNHS đối với họ thể hiện tính nhân đạo của pháp luật vì qua một thời
hạn nhất định họ đã không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, không cần thiết phải áp
dụng biện pháp cưỡng chế của luật hình sự.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 105, điểm b khoản 1 Điều 164,
khoản 1 Điều 169 và Điều 180 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, thì những vụ
án hình sự (về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106,
108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của BLHS) đã được khởi tố theo yêu cầu
của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người
chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; nếu người đã yêu
cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, thì vụ án phải
được đình chỉ (trừ trường hợp người rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức).
Trong trường hợp này, thực chất Nhà nước cũng không truy cứu TNHS với người đã
phạm tội.
Miễn TNHS là việc không buộc người phạm tội phải chịu TNHS
mà lẽ ra họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự do việc thực hiện tội phạm.
Do đó, tất cả những trường hợp mà Nhà nước không truy cứu TNHS mặc dù đã có hành
vi phạm tội đều thuộc trường hợp miễn TNHS. Vì vậy, cần bổ sung vào Điều 25
BLHS về miễn TNHS cho “những trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu TNHS và những
trường hợp đã khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại nhưng người
bị hại rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm”.
Các trường hợp có thể được miễn TNHS
Theo quy định của BLHS hiện hành, trong các trường hợp sau
đây, người phạm tội “có thể được miễn TNHS”:
+ Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác,
người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát
hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm,
thì cũng có thể được miễn TNHS (khoản 2 Điều 25 BLHS).
+ Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn TNHS, nếu
người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có
nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát,
giáo dục (khoản 2 Điều 69 BLHS).
+ Người
đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát
giác, thì có thể được miễn TNHS và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã
dùng để đưa hối lộ (khoản 6 Điều 289 BLHS).
+ Người
môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được
miễn TNHS (khoản 6 Điều 290 BLHS).
+ Người
không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại
của tội phạm, thì có thể được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt (khoản 3 Điều 314
BLHS).
Mặc dù, các trường hợp “có thể được miễn TNHS” được quy định
trong 5 điều luật nhưng tính chất pháp lý của các trường hợp này khác nhau. Quy
định tại khoản 2 Điều 25 BLHS là quy định chung cho mọi tội phạm và người
phạm tội (gọi tắt là quy định chung). Xét về logic thì bất cứ tội phạm nào,
người phạm tội nào nếu thoả mãn các tình tiết được quy định ở đây thì đều có
thể được miễn TNHS không kể tội phạm đó là loại tội phạm nào, tội danh gì… Tuy
vậy, trong thực tiễn khi áp dụng điều khoản này, cơ quan có thẩm quyền thường
miễn TNHS đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, còn
với loại tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì rất ít
trường hợp người phạm tội được miễn TNHS, mà chỉ được hưởng các tình tiết giảm
nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt.
Tại khoản 2 Điều 69, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và
khoản 3 Điều 314 của BLHS quy định cho bốn trường hợp cụ thể (gọi tắt
quy định cụ thể) để áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội hoặc một số tội
phạm nhất định được nêu trong điều luật. Thực tiễn đã gặp nhiều tình huống mà
người phạm tội có những tình tiết chỉ thoả mãn quy định cụ thể mà không thoả
mãn quy định chung (khoản 2 Điều 25 BLHS); lại có trường hợp thoả mãn cả quy
định chung và quy định cụ thể.
Phân tích quy định tại khoản 2 Điều 25 BLHS thì thấy rằng,
những tình tiết dùng làm căn cứ để “có thể được miễn TNHS” nhiều hơn những tình
tiết được quy định trong bốn trường hợp cụ thể. Bốn trường hợp cụ thể được nhà
làm luật quy định ít các tình tiết hơn là nhằm tạo cơ hội áp dụng được nhiều
hơn vào thực tiễn, mở rộng diện khoan hồng, khuyến khích những người dù đã phạm
tội (thuộc những trường hợp cụ thể này) nhưng nếu biết hối lỗi… thì vẫn có cơ
hội được miễn TNHS.
Tuy nhiên, khi phân tích các quy định hiện hành thì thấy
rằng, dù người phạm tội thuộc bốn trường hợp cụ thể nêu trên mà có thêm các tình
tiết thoả mãn cả quy định chung (khoản 2 Điều 25 BLHS) thì họ vẫn chỉ “có thể
được” miễn TNHS. Rõ ràng, như vậy là chưa đảm bảo tính công bằng, hợp lý và
chưa thực sự khuyến khích người phạm tội thuộc bốn trường hợp cụ thể này có thể
yên tâm về khả năng được miễn TNHS để họ ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần
có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức
thấp nhất hậu quả của tội phạm. Qua thực tiễn áp dụng cho thấy, với những người
phạm tội thuộc bốn trường hợp cụ thể nêu trên mà lại thoả mãn các tình tiết quy
định tại khoản 2 Điều 25 BLHS thì cơ quan có thẩm quyền thường miễn TNHS
đối với họ.
Do đó, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 69, khoản 6 Điều 289,
khoản 6 Điều 290 và khoản 3 Điều 314 của BLHS thêm một quy định nữa như sau:
“Nếu thoả mãn những tình tiết nêu tại khoản 2 Điều 25 của Bộ luật này thì người
phạm tội được miễn TNHS”.
Thẩm quyền miễn TNHS
Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định cụ thể
về thẩm quyền miễn TNHS, nhưng thông qua các quy định về thẩm quyền và căn cứ
đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án, thẩm quyền của Toà án được ghi nhận tại
các Điều 164, 169, 180, 227, 249, 251, 286 và 314 của Bộ luật Tố tụng hình sự
thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có quyền miễn TNHS.
Như trên đã nêu, chế định miễn TNHS được quy định tại Điều
19, Điều 25, khoản 2 Điều 69, khoản 3 Điều 80, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều
290 và khoản 3 Điều 314 của BLHS. Nhưng theo khoản 2 Điều 164 và khoản 1 Điều 169
của Bộ luật Tố tụng hình sự thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều
tra và Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ
quy định “tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của BLHS” mà không đề cập đến
các trường hợp miễn TNHS khác đã được quy định trong BLHS. Cho nên, khi gặp các
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 80, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và
khoản 3 Điều 314 của BLHS thì các cơ quan này không có căn cứ pháp luật tố tụng
hình sự để ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, dẫn
đến khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, cần bổ sung, sửa đổi điểm
a khoản 2 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự là Cơ quan điều tra ra quyết định
đình chỉ điều tra khi: “Có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105
và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25, khoản 2 Điều 69,
khoản 3 Điều 80, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và khoản 3 Điều 314 của
BLHS”; sửa đổi khoản 1 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự như sau: “Viện kiểm sát
ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2
Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25, khoản 2 Điều
69, khoản 3 Điều 80, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và khoản 3 Điều 314 của
BLHS”. /.
Ths Nguyễn Văn Cừ - Bài viết đăng
trên TCNCLP
(SUNLAW FIRM: Bài
viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ
có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại
thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi
đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp
dụng vào thực tế.)
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------