Về thời hạn của thỏa ước lao động tập thể
Thoả ước lao động tập thể (thoả ước tập thể) là một trong những hiện tượng đặc thù của nền kinh tế thị trường. Trên thế giới, những thoả ước tập thể đầu tiên đã xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ 19, khi các nền kinh tế tư bản đang trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ, nhất ở một số khu vực như Anh, Mỹ, Tây Đức. Đối với nhiều quốc gia, thoả ước tập thể đã có những đóng góp quan trọng làm nên một xã hội thịnh vượng.
Theo
Khuyến nghị số 91 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thoả ước tập
thể là tất cả những bản thoả thuận viết liên quan đến việc làm và điều kiện lao
động được ký kết giữa một một bên là người sử dụng lao động, một hoặc một nhóm
hiệp hội giới chủ với bên kia là một hoặc nhiều tổ chức của người lao động. Khi
không có tổ chức đại diện cho bên lao động thì những người được tập thể lao
động bầu ra và được trao quyền một cách hợp thức theo pháp luật của quốc gia
cũng có quyền ký kết thoả ước tập thể 1.
Ở nước
ta, một định nghĩa khá khái quát về thoả ước tập thể được nêu ở Điều 44 Bộ luật
Lao động hiện hành. Do nền kinh tế thị trường ở nước ta còn mới, các thoả ước
tập thể chỉ chủ yếu được ký kết ở cấp cơ sở2. Thoả ước tập thể được
ví như một “bộ luật lao động con” tại mỗi doanh nghiệp.
Thỏa
ước tập thể được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai. Nội
dung của thỏa ước có thể bao gồm bất cứ vấn đề nào liên quan đến quan hệ lao
động, nhưng chủ yếu vẫn là: việc làm và bảo đảm việc làm; thời giờ làm việc và
thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương và các chế độ phúc
lợi; an toàn vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội... Ở nhiều quốc gia có nền
kinh tế thị trường phát triển, thoả ước tập thể là phương tiện hàng đầu để ghi
nhận nghĩa vụ giữ ổn định quan hệ lao động (peace obligation), hạn chế hành
động của công đoàn và thống nhất về cách thức giải quyết tranh chấp lao động
giữa các bên3.
Thoả
ước tập thể cần được thương lượng lại sau một thời gian thực hiện để cập nhật
những thay đổi. Vì các vấn đề được xử lý trong thoả ước tập thể rất phong phú
và độ ổn định của chúng khác nhau, thời hạn của thoả ước tập thể cũng được ấn
định khác nhau. Có hai nhóm thoả ước tập thể - nếu phân biệt chúng thông qua
loại thời hạn: thoả ước tập thể xác định thời hạn và thoả ước tập thể không xác
định thời hạn. Khi chứa đựng những vấn đề nhanh thay đổi, định kỳ cần xem xét
lại thì thoả ước tập thể thường là xác định thời hạn. Trái lại, nếu thoả ước
tập thể được sử dụng để quy định các nguyên tắc và điều kiện nền tảng cho thị
trường lao động, nhằm vào những vấn đề có tính chất tương đối ổn định, lâu dài
như môi trường lao động, bình đẳng cơ hội, các nguyên tắc giải quyết tranh
chấp... thì thời hạn có thể không cần xác định rõ.
Một thoả
ước xác định thời hạn thường có điều khoản quy định thời điểm kết thúc hiệu lực
của nó, trong khi thoả ước không xác định thời hạn không có điều khoản này.
Ngay
đối với thoả ước tập thể xác định thời hạn thì khoảng thời gian tồn tại của
chúng cũng rất khác nhau. Với những thoả ước tập thể về tiền lương, thời hạn
thường ngắn hơn. Ở nhiều quốc gia, thoả ước tập thể điều chỉnh tiền lương chỉ
có thời hạn một năm, như Đức, Bỉ, Hàn Quốc4... Ở Pháp, một thoả ước
tập thể có thể ký kết với một thời hạn năm năm hay dài hơn, nhưng với các quy
định về một số vấn đề có tính bắt buộc như tiền lương, thời giờ làm việc và tổ
chức lao động... thì người sử dụng lao động phải thương lượng lại hàng năm5.
Tuy nhiên,
không phải khi nào những thoả ước tập thể về tiền lương cũng được ký kết với
một thời gian ngắn. Thoả ước chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có sự
ổn định của nền kinh tế và thị trường lao động. Thêm vào đó, bên cạnh vấn đề
tiền lương, thoả ước tập thể cũng có thể chứa đựng cả những nội dung khác. Bởi
thế, khi xác định thời hạn của một bản thoả ước tập thể, các bên của thoả ước
thường linh hoạt chứ không thể cứng nhắc. Có lẽ với quan điểm như vậy mà ở Anh,
nhiều thoả ước tập thể không có quy định khi nào hết hạn. Chỉ khi nào có vấn đề
mới nảy sinh thì khi đó việc xử lý thoả ước mới được tính đến6.
Trung
bình, một thoả ước tập thể xác định thời hạn có thể được áp dụng trong khoảng
thời gian từ một đến ba năm. Ở Nhật, hầu hết các thoả ước tập thể được ký kết
với thời hạn một năm và thường được thương lượng lại vào mùa xuân7.
Ở Mỹ, thời hạn phổ biến của thoả ước tập thể từ một đến ba năm8. Độ
dài tương tự cũng được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia như
Singapore9, Thái Lan10 hay Trung Quốc11... Ở
Thụy Điển, thời hạn của thoả ước tập thể hoàn toàn do các bên định đoạt12.
Không có quy định bắt buộc nào của nhà nước về thời hạn của thoả ước tập thể,
mặc dù trên thực tế thời hạn thông thường của các bản thoả ước tập thể là hai
năm. Ở một số ngành, thoả ước tập thể có thể được ký kết với thời hạn ba năm
(như trong ngành hoá chất, dược, than và khai thác quặng, cao su, nhựa, thuỷ
tinh, đồ gốm, xi măng, năng lượng)13. Ở Việt Nam, một bản
thoả ước tập thể được ký kết từ một đến ba năm. Với doanh nghiệp lần đầu ký kết
thoả ước tập thể thì thời hạn có thể dưới một năm14.
Đôi khi
thoả ước tập thể được ký với thời hạn ngắn hơn hoặc dài hơn khoảng thời gian
nêu trên. Ví dụ ở một số nước châu Âu, nhiều thoả ước tập thể được ký kết với
thời hạn khá dài. Thoả ước tập thể có thời hạn bốn năm có thể thấy ở Ý (trong
tất cả các ngành), Latvia
(trong một số ngành như ngành điện và năng lượng)15, Đan Mạch (trong
một số ngành thuộc khu vực tư nhân)16. Thoả ước tập thể có thời hạn
năm năm có thể thấy ở Pháp17, Thuỵ Sỹ18. Thoả ước tập thể
có thời hạn dài nhất là ở Canada với 117 tháng, được ký kết cho khu vực nhà
nước19 và một số thoả ước tập thể 72 tháng được ký kết cho khu vực
tư nhân20. Một số thoả ước tập thể có thời hạn rất ngắn cũng có thể
xuất hiện như thoả ước tập thể bốn tháng trong ngành công nghiệp hoá chất và
sáu tháng trong ngành dược ở Pháp21.
Khi quyết định độ dài thời gian áp dụng thoả ước,
bên cạnh yếu tố luật pháp, tính ổn định của vấn đề được điều chỉnh trong thoả
ước tập thể thì bối cảnh kinh tế cũng chi phối mạnh mẽ quá trình này. Ví dụ, ở
thời kỳ kinh tế thị trường phát triển thịnh vượng, thời hạn của các thoả ước
tập thể có xu hướng ngắn hơn, do công đoàn triệt để khai thác sự khan hiếm lao
động trên thị trường và khả năng chi trả cao hơn của bên doanh nghiệp22.
Nhưng ở những thời điểm kinh tế suy thoái, công đoàn mong muốn kéo dài thời hạn
của thoả ước tập thể để duy trì sự đảm bảo tiền lương cũng như các chế độ khác.
Vấn đề lạm phát cũng tác động đến thời hạn của thoả ước tập thể bởi vì mức lạm
phát cao khiến cho đời sống của người lao động trở nên bấp bênh ngay khi các
chế độ được quy định trong thoả ước không hề thay đổi. Để đảm bảo mức thu nhập
thực tế (ví dụ khắc phục tình trạng tiền lương thực tế giảm sút...) công đoàn thường
đề xuất yêu cầu thương lượng lại các chế độ để điều chỉnh chúng theo kịp mức
tăng vọt của giá cả tiêu dùng. Tất cả những yếu tố này làm cho thời hạn của
thoả ước tập thể được thoả thuận ngắn hơn23.
Về nguyên
tắc, một thoả ước tập thể sẽ chấm dứt hiệu lực khi nó hết hạn mà không cần đến
một thủ tục đặc biệt nào. Pháp luật của một số nước không yêu cầu các bên phải
trao thông báo chấm dứt thoả ước tập thể nếu như thoả ước tập thể được ký kết
với một thời hạn xác định, như Bỉ24, Niu-zi-lân25, Thái
Lan26 hay Malaysia27... Tuy nhiên, ngày hết hạn của thoả
ước tập thể thường chỉ là ngày sớm nhất mà ở đó thoả ước tập thể có thể sẽ được
chấm dứt, bởi vì cơ chế luật pháp ở nhiều quốc gia cho phép thoả ước tập thể
duy trì hiệu lực ngay cả khi nó đã hết hạn. Thông thường các bên có thể thống
nhất về một khoảng thời gian tiếp tục áp dụng thoả ước tập thể.
Gia hạn
hiệu lực của thoả ước tập thể là một vấn đề khá quan trọng được pháp luật cũng
như các bên của quan hệ lao động quan tâm. Ở một số nước, thủ tục báo trước là
bắt buộc và liên quan đến việc gia hạn hiệu lực cho thoả ước. Khi một thoả ước
tập thể hết hạn mà chưa có thông báo chấm dứt thoả ước của các bên thì coi như
chưa thể chấm hết hiệu lực. Ví dụ, ở Tây Ban Nha, nếu không được thông báo chấm
dứt, thoả ước tập thể sẽ được gia hạn hết năm này đến năm khác...28;
ở Lúc-xăm-bua, khi một thoả ước tập thể hết hạn, nếu nó chưa được chấm dứt
(theo thủ tục) và cũng chưa được sửa đổi, bổ sung thì coi như nó được ngầm định
được ký lại và tiếp tục có hiệu lực cho đến khi nào các bên chấm dứt nó29.
Liên
quan đến vấn đề gia hạn hiệu lực của thoả ước, một hiện tượng khá thú vị cần
được nhắc tới đó là pháp luật ở nhiều quốc gia cố gắng đảm bảo sự điều chỉnh
của thoả ước tập thể được duy trì liên tục trên thị trường lao động, nghĩa là
thị trường sẽ không khi nào bị bỏ ngỏ. Đôi khi bản thân các thoả ước tập thể cũng
chứa đựng điều khoản về kéo dài hiệu lực cho đến khi nó được thay thế. Bên cạnh
đó, các án lệ cũng củng cố thêm quy tắc này. Đối với những quốc gia có cơ chế
như vậy, việc các bên trao thông báo chấm dứt một thoả ước không có nghĩa rằng
các bên đó sẽ hoàn toàn được giải phóng và không còn bị ràng buộc vào thoả ước
tập thể nào, mà chỉ có nghĩa là các bên phải thương lượng thoả ước tập thể mới,
nếu không, bản thoả ước tập thể đã ký sẽ không mất hiệu lực. Ở Đan Mạch, Thoả
ước Cơ bản (The Basic Agreement) quy định, ngay cả trường hợp thông báo chấm
dứt thoả ước tập thể đã được trao, thoả ước tập thể cũng vẫn tiếp tục được áp
dụng cho đến khi nó được thay thế bằng bản thoả ước tập thể mới30. Ở
Pháp, thời hạn để các bên thương lượng và xây dựng thoả ước mới là 15 tháng.
Nếu hết thời hạn đó mà việc thương lượng không đi đến kết quả thì người lao
động sẽ tiếp tục được hưởng các quyền lợi theo quy định của thoả ước tập thể đã
ký31. Ở Đức, chừng nào thoả ước tập thể mới chưa được ký kết thì
thoả ước tập thể cũ vẫn tiếp tục được thực hiện. Ở Thụy Điển, nguyên tắc tương
tự cũng được toà án đưa ra, trong khoảng thời gian thoả ước tập thể mới chưa có
hiệu lực thì nội dung cũng của thoả ước tập thể cũ vẫn được áp dụng...32.
Tuy nhiên,
ở một số nước, khi hết thời hạn quy định trong thoả ước tập thể, nếu các bên
không báo trước việc chấm dứt thoả ước, không thương lượng lại, hoặc thương
lượng không thành công, thì thoả ước lao động chỉ được áp dụng thêm một thời
gian. Ví dụ, ở Phần Lan, nếu các bên không báo trước hai tháng trước khi thoả
ước tập thể hết hạn, thoả ước sẽ tự động được gia hạn một năm33. Ở
Thái Lan, nếu các bên không thương lượng lại, thoả ước tập thể cũng sẽ được gia
hạn một năm34. Ở Việt Nam, trước ngày thoả ước tập thể
hết hạn, hai bên có thể thương lượng để kéo dài thời hạn thoả ước tập thể hoặc
ký kết thoả ước tập thể mới. Tuy nhiên, sau ba tháng kể từ ngày thoả ước tập
thể hết hạn, thoả ước tập thể sẽ đương nhiên hết hiệu lực, bất kể việc thương
lượng của các bên có đạt được kết quả hay không35.
Một thoả
ước tập thể có thể bị kết thúc trước thời hạn khi có sự đồng thuận của các bên.
Thoả ước tập thể cũng có thể bị đơn phương chấm dứt khi có hành vi vi phạm
nghiêm trọng của một bên và bên khác mong muốn chấm dứt thoả ước tập thể. Nhưng
để tránh sự lạm dụng, một thủ tục chấm dứt thoả ước tập thể phải được tiến
hành. Thông thường các bên không thể tự mình làm cho thoả ước tập thể mất hiệu
lực mà cần có phán quyết của một cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ, ở Thuỵ Điển, toà
án là cơ quan có thẩm quyền tuyên bố thoả ước tập thể không còn hiệu lực đối
với bên bị vi phạm.
Bên cạnh
các thoả ước tập thể xác định thời hạn, thoả ước tập thể không xác định thời
hạn cũng tồn tại ở rất nhiều quốc gia. Nói chung, những thoả ước tập thể điều
chỉnh những vấn đề đặc biệt quan trọng cấu thành khuôn khổ pháp lý cho các thoả
ước tập thể cấp thấp hơn sẽ được ký kết với khoảng thời gian dài, thậm chí
không xác định. Những thoả ước tập thể này đặc biệt phổ biến ở những quốc gia
có hệ thống thoả ước tập thể phát triển cao và chúng thường là những thoả ước
tập thể cấp quốc gia hoặc thoả ước tập thể liên ngành.
Một thoả
ước tập thể không xác định thời hạn thì không thể chấm dứt một cách tự động. Nó
luôn cần có một thủ tục chấm dứt hiệu lực kèm theo. Thoả ước tập thể không xác
định thời hạn cũng có thể được chấm dứt bằng một thoả thuận chung giữa các bên
hoặc sự đơn phương chấm dứt của một bên. Khi muốn chấm dứt thoả ước tập thể,
các bên phải báo trước một thời gian quy định. Ví dụ ở Phần Lan và ở Pháp, thời
gian báo trước theo luật định là ba tháng36. Đối với Thụy Điển, thời
gian báo trước do các bên thoả thuận. Các bên có quyền rút khỏi thoả ước tập
thể nếu họ không muốn tiếp tục thực hiện thoả ước đó, không có điều kiện đặc biệt
nào đặt ra với họ, nhưng nhất thiết phải báo trước. Nếu một bên gửi thông báo
chấm dứt thoả ước tập thể thì các bên khác cũng có quyền đồng thời chấm dứt
hiệu lực của thoả ước37. Ở Việt Nam và nhiều quốc gia ở châu Á,
thoả ước tập thể không xác định thời hạn là bất hợp pháp. Do đó những vấn đề
như thông báo chấm dứt thoả ước tập thể cũng không được nhắc đến trong pháp
luật.
Thời
hạn của thoả ước lao động tập thể nếu được quy định hợp lý sẽ góp phần giải
quyết thoả đáng lợi ích của các bên, giúp khắc phục phần nào sự không hoàn hảo
của thị trường lao động, thúc đẩy các bên sử dụng thoả ước tập thể một cách
kinh tế và giúp ổn định quan hệ lao động. Từ việc nghiên cứu trên, tác giả nhận
thấy có một số vấn đề nên được xem xét nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật hiện hành ở Việt Nam
về thời hạn của thoả ước tập thể.
Thứ nhất, về loại
thời hạn của thoả ước:
Hiện tại Bộ luật lao động xác định thoả ước tập thể
là có thời hạn và thời hạn
đó không quá 3 năm. Nói chung trong bối cảnh của Việt Nam khi thoả ước tập thể chủ yếu chỉ được
ký kết ở cấp doanh nghiệp, được sử dụng để giải quyết những tình huống thực tế
phát sinh trong quá trình sử dụng lao động ở đơn vị cơ sở thì quy định này về
cơ bản là phù hợp và có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa tình trạng
“lười” ký lại thoả ước tập thể ở nhiều doanh nghiệp.
Tuy
nhiên, có một vấn đề cần tính đến đó là các nội dung của quan hệ lao động rất
rộng. Những nội dung đó khác nhau về bản chất cũng như mức độ ổn định.
Thêm vào đó, hiện nay ý tưởng về ký kết thoả ước tập thể cấp ngành theo đó có
thể có những thoả ước mang tính chất khung, bền vững... đã được hình thành. Do
đó, để làm đồng bộ các quy định của pháp luật lao động và khuyến khích các bên
quan hệ lao động sử dụng thoả ước tập thể một cách thường xuyên, linh hoạt và
hữu hiệu, Nhà nước nên cho phép các bên ký kết thoả ước tập thể với cả hình
thức không xác định thời hạn, tuỳ thuộc vào
nội dung được xử lý trong thoả ước tập thể. Nếu thấy cần thiết, Nhà nước có thể
giới hạn những vấn đề được ký kết dưới hình thức không xác định thời hạn. Ví
dụ, với những nguyên tắc cơ bản của quan hệ lao động, quyền, nghĩa vụ của các
bên, cơ chế ký kết, sửa đổi bổ sung và thực hiện thoả ước tập thể, cách thức xử
lý xung đột... các bên có thể lựa chọn thoả ước không xác định thời hạn. Điều
này cũng có nghĩa, các bên có thể ký kết hai hay nhiều thoả ước tập thể và áp
dụng đồng thời. Mỗi thoả ước tập thể chuyên sâu về một (hoặc vài) nội dung, với
thời hạn khác nhau.
Thứ hai, xử lý thoả
ước tập thể hết hạn:
Theo
điều 51 của Bộ luật Lao động, trước khi thoả ước tập thể hết hạn, hai bên có
thể thương lượng để kéo dài thời hạn thoả ước tập thể hoặc ký kết thoả ước tập
thể mới. Nếu quá ba tháng, kể từ ngày thoả ước tập thể hết hạn mà thương lượng
không đi đến kết quả, thì thoả ước tập thể đương nhiên hết hiệu lực. Thực ra
việc quy định sự gia hạn tương đối ngắn (ba tháng) ở nước ta nhằm mục đích vừa
tạo cơ hội cho các bên tiếp tục hưởng các quy định của thoả ước, vừa tạo ra một
sức ép nhất định để các bên buộc phải khẩn trương hoàn thành quá trình thương
lượng và đi đến ký kết thoả ước tập thể mới. Tuy nhiên điều này cũng chỉ có ý
nghĩa khi cả hai bên cùng có thái độ tích cực đối với việc sử dụng thoả ước bởi
thoả ước tập thể chỉ là văn bản được lập trên cơ sở tự nguyện.
Dự thảo
Bộ luật Lao động đưa ra quy định mới với một vài sửa đổi, theo đó thời hạn nêu
trên còn được rút ngắn hơn, chỉ là 30 ngày, trường hợp hai bên không ký kết
thỏa ước lao động tập thể mới thì thoả ước lao động tập thể cũ đương nhiên hết
hiệu lực38. Trên thực tế, việc quá hạn này thường xuyên xảy ra. Nếu
xử lý máy móc như trên, làm thoả ước mất hiệu lực thì chỉ người lao động bị
thiệt hại còn doanh nghiệp thì không, và vì thế doanh nghiệp sẽ càng bỏ mặc
không ký kết lại thoả ước tập thể39. Theo ý kiến của tác giả, khi
một thoả ước tập thể hết hạn, các chế độ cho người lao động theo thoả ước tập
thể nên được tiếp tục thực hiện đến chừng nào có thoả ước tập thể mới thay thế.
Tuy nhiên, nghĩa vụ duy trì “hoà bình công nghiệp” (industrial peace obligation)
của công đoàn nên được coi là đã hoàn thành để họ có thể chủ động tổ chức đình
công với ý nghĩa là biện pháp gây áp lực nhằm giải quyết bế tắc trong quá trình
thương lượng nhằm xây dựng thoả ước tập thể mới.
Nói chung, quy định về thời hạn của thoả ước tập thể nên linh
hoạt. Nhà nước cố gắng đảm bảo lợi ích chung thông qua những can thiệp nhất
định vào hoạt động thương lượng nhưng mặt khác cũng dành sự tự chủ nhất định cho
các bên. Điều này một mặt cho phép các bên của quan hệ lao động kịp thời điều
chỉnh và cân đối lại lợi ích giữa họ sau một thời gian thực hiện thoả ước tập
thể, mặt khác cũng đảm bảo tính ổn định cần thiết của quan hệ lao động.
(1) Xem Mục II
của Khuyến nghị về Định nghĩa thoả ước tập thể.
(2) Hiện nay ở
nước ta, thoả ước tập thể cấp ngành đầu tiên (và là thoả ước tập thể thử
nghiệm) đã được ký trong ngành dệt may ngày 26/4/2010.
(3) Vấn đề này được đề cập đến trong
nhiều tài liệu, ví dụ, Sriyan de Silva (1996), Thương lượng tập thể, Tài liệu
được xuất bản bởi Văn phòng Các hoạt động của giới chủ (ILO).
(4) Xem:
Blanpain (2007) Luật Lao động so sánh và quan hệ lao động ở các quốc gia có nền
kinh tế thị trường đã công nghiệp hoá, Wolters Kluwer, trang 621.
(5) Xem: Thoả
ước tập thể, Jus Laboris ấn hành năm 2005, trang 12.
(6) Xem:
Blanpain (2007), sđd,
(7) Xem:
Blanpain (2007), sđd,
(8) Xem:
Blanpain (2007), sđd..
(9) Xem Điều
25 Luật Quan hệ công nghiệp của Singapore.
(10) Xem Điều
12 Luật Quan hệ lao động (BE 2518) 1975.
(11) Xem Điều
38 Luật Hợp đồng tập thể của Trung Quốc 2004.
(12) Thương
lượng tập thể ở châu Âu, Ấn hành bởi Ministerio de Trabajo y Asuntos Sociales,
Tây Ban Nha, 2004, trang 249.
(13) Vera
Glassner and Bela Galgoczi (2008), Tài liệu trình bày tại Hội thảo “Làm thế nào
để cải thiện thương lượng tập thể ở châu Âu”, Budapest 17-19/10/2008.
(14) Đoạn 1, Điều 50, Bộ luật Lao
động năm 2002 và các sửa đổi, bổ sung.
(15) Vera
Glassner and Bela Galgoczi (2008), tlđd.
(16) Xem: Tả
ước tập thể - Jus Laboris ấn hành năm 2005, trang 9.
(17) Xem:
Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 125.
(18) Blanpain
(2007) Luật Lao động so sánh và Quan hệ lao động ở Các quốc gia có nền kinh tế
thị trường đã công nghiệp hoá, Wolters Kluwer, trang 621.
(19)Đây là
thoả ước tập thể được ký kết giữa Société des alcools du Québec và Syndicat du
personnel technique et professionnel de la Société des alcohols du Québec.
Xem:Innovation Workplace Practices in 2008-ww.hrsdc.
gc.ca/eng/labour/labour.../info.../Overview_2008.shtml.
(20) Thoả ước
tập thể này được ký kết bởi một tập thể các tổ chức sử dụng lao động ở Québec
và bên công đoàn. Xem: Innovation Workplace Practices in
2008-ww.hrsdc.gc.ca/eng/labour/labour.../info.../Overview_2008.shtml.
(21)Vera
Glassner and Bela Galgoczi (2008), tlđd.
(22)Xem:
Blanpain (2007), sđd,
(23)Xem:
Blanain (2007), sđd,
(24)Xem:
Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 53.
(25)Xem:
Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 151.
(26)Xem: Luật
Quan hệ lao động (BE 2518)1975
(27) Xem Luật Quan hệ công nghiệp
1967.
(28) Xem:
Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 291.
(29) Xem: Thoả
ước tập thể - Jus Laboris ấn hành năm 2005, trang 26.
(30) Điều 7.2.
Thoả ước tập thể Cơ bản (Basic Agreements) 1992. Xem: Ole Hasselbalch,
Monica Smith, Sylvia van Oosten-Rosman (2005) Luật Lao động ở Đan Mạch, đoạn
758.
(31) Nguồn
Thoả ước tập thể - Jus laboris ấn hành năm 2005, trang 12.
(32)Xem án số
NJA 1958 trang 196, NJA 1959 trang 562, cf. AD 1978 Số 134. (Nguồn:
Adlercreutz, A./Nyström, B., (2009) Thụy Điển, đoạn 568).
(33) Xem:
Thương lượng tập thể ở châu Âu, tlđd, trang 88.
(34) Xem Điều
12 của Luật Quan hệ lao động (BE 2518) 1975.
(35) Điều 51.
Bộ luật Lao động năm 2002 và các sửa đổi, bổ sung.
(36) Với Phần
Lan, xem: Niklas Bruun, Helsinki, Thoả ước tập thể ở Phần Lan, trong Thương
lượng tập thể ở châu Âu, Ấn hành bởi Ministerio de Trabajo y Asuntos Sociales,
Tây Ban Nha/2004, trang 89. Với Pháp, xem: Thương lượng tập thể ở châu Âu,
tlđd, trang 126.
(37) Ở Thụy Điển, một thoả ước tập
thể có thể có nhiều bên cùng tham gia. Ví dụ, Thoả ước tập thể cấp ngành/quốc
gia (industrial/national level collective agreements) của Thụy Điển được ký kết
giữa 12 hiệp hội giới chủ là thành viên của SAF (tổ chức giới chủ) và 8 Công
đoàn thành viên của LO (công đoàn của lao động chân tay), TCO (công đoàn của
lao động văn phòng) và SACO (lao động chuyên nghiệp). Nguồn: Thoả ước tập thể ở
Thụy Điển, Trang thông tin điện tử EMIRE /industrial relations
/collective agreements/, Thụy Điển, 10/2007. Khi một bên không muốn tiếp tục
tham gia thoả ước tập thể, bên đó có thể rút khỏi thoả ước. Các bên còn lại vẫn
tiếp tục thực hiện thoả ước.
(38) Xem điều
86, Dự luật lần 2.
(39) Hiện nay đây cũng là một trong
những nội dung được tranh luận trong quá trình hoàn thiện Dự thảo Bộ luật Lao
động. Xem: Trương Thanh Đức (2010), Ràng buộc lệch chuẩn, Thời báo Kinh tế Sài
Gòn 25/3/2010, tr.48.
ThS. Hoàng Thị Minh (*) Ths, Giảng viên Khoa Pháp luật kinh
tế - Đại học Luật Hà Nội.
Nguồn: http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/ve-thoi-han-cua-thoa-uoc-lao-111ong-tap-the
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------