Việt nam đang hướng hệ thống anh sinh xã hội năng động và hiệu quả
Diễn đàn An sinh xã hội thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Mát-xcơ-va năm 2007. Tham dự diễn đàn này có gần 1300 đại biểu của các tổ chức an sinh xã hội đến từ 129 quốc gia. Hiệp hội An sinh xã hội thế giới (ISSA) ra đời năm 1927, được tổ chức tại Bra-xin với sự tham gia của 17 tổ chức đại diện cho 20 triệu đối tượng từ nhiều nước trên thế giới.
82 năm qua, từ một tổ chức nhỏ đại diện cho các liên đoàn quốc gia của các
quỹ bảo hiểm ốm đau của 9 nước châu Âu, ISSA đã trở thành một đối tác có tầm
ảnh hưởng quan trọng và có vị thế lớn trên các diễn đàn và hợp tác quốc tế, đại
diện cho hàng triệu đối tượng được bảo hiểm và bảo trợ trong mọi lĩnh vực của
hệ thống an sinh xã hội.
Cùng với thời gian, ISSA đã chứng tỏ được sự lớn mạnh và hoạt động của mình
trong lĩnh vực vận động xã hội, và tăng cường kiến thức về tầm quan trọng sống
còn của an sinh xã hội trong các nền kinh tế đương đại. ISSA giờ đây đã là tổ
chức hàng đầu thế giới chuyên về tập hợp các ý tưởng và kiến thức chuyên môn
liên quan đến các vấn đề an sinh xã hội. Hiệp hội thường xuyên xây dựng các
diễn đàn quy mô toàn cầu nhằm trao đổi thông tin và trao đổi về những vấn đề
liên quan đến an sinh xã hội. ISSA có tầm bao phủ toàn cầu nhờ số lượng thành
viên của mình, bao gồm 360 tổ chức, cơ quan an sinh xã hội của 150 nước trên
thế giới.
Ngày nay, khái niệm về hệ thống an sinh xã hội được mở rộng. Vai trò của an
sinh xã hội không chỉ còn giới hạn trong việc tái phân bổ thu nhập và trợ cấp
để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho người dân. An sinh xã hội cần phải năng động hơn
và chuyển từ tư duy cho rằng, an sinh xã hội là phương tiện bảo trợ, là một số
khoản trợ cấp xã hội sang nhận thức mới về an sinh xã hội: an sinh xã hội là
phương tiện phòng tránh và bảo vệ từng cá nhân trước những rủi ro và sự yếu
thế. Phương pháp tiếp cận mang tính đổi mới này được gọi là “Hệ thống an sinh
xã hội năng động”. An sinh xã hội có vai trò không chỉ đơn thuần là phương tiện
bồi thường và khắc phục khó khăn cho đối tượng, mà là sự đầu tư vào yếu tố con
người “vốn con người”.
Mục tiêu chính của hệ thống an sinh xã hội năng động là phát triển dịch vụ
xã hội bền vững và dễ tiếp cận hơn, không chỉ chú trọng đến dịch vụ bảo trợ mà
còn tăng cường các biện pháp phòng tránh và hỗ trợ hoà nhập việc làm, nhằm xây
dựng xã hội hiệu quả về kinh tế, xã hội và hoà nhập cộng đồng tốt hơn.
Hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động sẽ mở rộng phạm vi, diện bao phủ
và cung cấp dịch vụ đồng bộ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, giảm được chi phí quản
lý, và áp dụng một cơ chế quản lý hành chính chung cho các loại hình dịch vụ,
đơn giản hoá thủ tục. Các quốc gia cùng xây dựng một tầm nhìn chung về sự phát
triển, xu hướng và vai trò của hệ thống an sinh xã hội trong bối cảnh chung của
nền kinh tế toàn cầu. Trong đó, tập trung vào các chủ đề chính: sự phát triển
và các xu hướng an sinh xã hội; hỗ trợ một hệ thống An sinh xã hội năng động;
áp dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy tác động của hệ thống an sinh xã hội;
chế độ trợ cấp gia đình; quản lý hành chính; công nghệ thông tin và truyền
thông là một công cụ hỗ trợ chuyển đổi; thách thức về bệnh hiểm nghèo, bệnh
nghề nghiệp, tai nạn lao động đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; thách
thức về đầu tư của các quỹ bảo hiểm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý trường hợp
nhằm tái hoà nhập việc làm; các giả định về nhân khẩu học và kinh tế được sử
dụng trong đánh giá thống kê bảo hiểm đối với chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Hệ thống an sinh xã hội bền vững thực chất là nhu cầu đối phó với vấn đề già
hoá dân số và xu hướng toàn cầu hoá. An sinh xã hội dễ tiếp cận là an sinh xã
hội phải mang tính phổ cập với hàm ý mở rộng độ bao phủ dịch vụ, ví dụ như bảo
hiểm y tế phải hướng tới toàn dân. Việc thực hiện các chương trình trợ cấp đối
với nước ta, chính là trợ cấp xã hội cho các đối tượng khó khăn) là phương án
khả thi để mở rộng độ bao phủ các dịch vụ và giảm tỷ lệ người nghèo và nhóm dễ
bị tổn thương như nhóm dân cư nghèo khổ, người già cả cô đơn, người tàn tật,
trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/ AIDS…
Xu hướng chung của hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia là, nỗ lực hướng
tới cải thiện hiệu quả hoạt động: phương thức mới trong quản lý rủi ro, quản lý
và có biện pháp đón đầu đối với những thay đổi, biến động trong xã hội và thị
trường lao động; phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế,
hợp lý hoá chi tiêu cho y tế và tăng cường biện pháp quản lý chất lượng dịch
vụ; cải thiện hiệu quả hoạt động và quản lý nhà nước của các chương trình trợ
cấp bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó là việc hỗ trợ các phương pháp tiếp cận và
phòng tránh chủ động. Đây là phương pháp đầu tư vào đối tượng cá thể và từ đó,
đáp ứng cho cả mục tiêu phát triển nguồn nhân lực như chuyển đổi chương trình
bảo hiểm bệnh tật sang bảo hiểm y tế; các chương trình phát triển và xây dựng
lối sống lành mạnh, trao quyền cho các đối tượng; xây dựng quan hệ đối tác giữa
bên cung cấp dịch vụ và người nhận dịch vụ.
Để hướng tới xây dựng một hệ thống an sinh xã hội năng động và hiệu
quả, cần tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
Bảo đảm thu nhập, ổn định cuộc sống cho người già
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, già hoá dân số, người già ở các nước đang phát
triển đang phải đối mặt với nhiều khó khăn để bảo đảm thu nhập, ổn định cuộc
sống. Nguyên nhân của tình trạng này là do những thay đổi về nhân khẩu học,
kinh tế và xã hội. Các loại bệnh tật phổ biến, đặc biệt là những bệnh hiểm
nghèo, bệnh mới, HIV/AIDS và việc di dân cũng như xu hướng đô thị hoá đã đem
lại tác động tiêu cực đến đời sống của người già, vì họ phải chịu gánh nặng
chăm sóc cháu chắt, trẻ em có bố mẹ đi làm ăn xa hoặc mồ côi vì HIV/AIDS.
Xu hướng chung được nhiều quốc gia xem xét và áp dụng nhằm bảo đảm thu nhập
cho người già là cung cấp các loại trợ cấp (hưu trí không đóng góp) cho người
già. Chẳng hạn, ở nước ta, đó là việc trợ cấp cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở
lên và trợ cấp thường xuyên đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Xu hướng này phản ánh quan điểm chuyển đổi cách tiếp cận về vai trò an sinh
xã hội, đó là chuyển sang phòng tránh chủ động và bảo vệ để cân bằng các nhu
cầu khác nhau về phát triển kinh tế, xã hội. Cụ thể, nó phản ánh một thực tế:
người già là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt là
ở các nước đang phát triển, do những thay đổi về hình thái gia đình, mạng luới
xã hội và người già phải gánh vác thêm nhiều trách nhiệm xã hội và gia đình.
Đồng thời, nó củng cố quan điểm cho rằng, việc giành các khoản tiền trợ cấp cho
người già, đặc biệt là từ nguồn ngân sách nhà nước có thể góp phần cải thiện
phúc lợi cho các hộ gia đình và giúp thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Xu hướng này cũng ghi nhận một thực tế là, sự già hoá dân số là một hiện
tượng toàn cầu, và ngày càng có nhiều người già đang sinh sống ở các nước chậm
phát triển, mà ở đó, diện bao phủ của hệ thống hưu trí dựa vào sự đóng góp còn
rất thấp. Và bởi vây, xu hướng này phù hợp với mục tiêu chung của thế giới là
giảm nghèo đói, khẳng định an sinh xã hội là một quyền của con người.
Tăng ý nghĩa bảo vệ và giảm thiểu chi phí của bảo hiểm thất nghiệp:
Thực tế ở nhiều nước, tình trạng thất nghiệp vẫn gia tăng cho dù có nỗ lực
xây dựng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp với các biện pháp hữu hiệu nhằm giúp
người lao động trở lại làm việc. Có quan điểm cho rằng, bảo hiểm thất nghiệp
không chỉ tốn kém mà còn kém hiệu quả.
Không chỉ những nước có nền kinh tế chậm phát triển mà cả những nước có nền
kinh tế phát triển vẫn còn một bộ phận lao động thất nghiệp, thiếu việc làm, do
sự chuyển đổi nền kinh tế, thay đổi kỹ thuật, công nghệ sản xuất, trình độ
người lao động không còn phù hợp, doanh nghiệp phải sắp xếp lại. Bởi vậy, phải
có chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho người lao động ổn định cuộc
sống, bớt khó khăn hoặc tham gia các khoá dạy nghề, nâng cao nghiệp vụ chuyên
môn để chuyển nghề mới. Trong các nước phát triển, bảo hiểm dựa vào cộng đồng
đang phát triển, mở rộng phạm vi bao phủ, tăng khả năng chống chọi của mỗi cá
nhân – từ việc cung cấp dịch vụ bảo vệ sang dịch vụ phòng ngừa, quản lý rủi ro,
mở rộng phạm vi.
Cũng có quan điểm cho rằng, hiện nay đối tượng tham gia thị trường lao động
có xu hướng giảm, còn đối tượng hưởng trợ cấp lại gia tăng. Vì quyền có việc
làm là quyền con người, nên người lao động có quyền làm việc hay không làm
việc. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, phải có cơ chế, chính sách khuyến khích họ
tham gia vào thị trường lao động.
Đối với những nước có nền kinh tế chậm phát triển hoặc đang phát triển,
không thể thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp như những nước có nền kinh tế
phát triển. Người lao động muốn nhận được trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trước
hết phải có quan hệ lao động, phải có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp,
theo nguyên tắc đóng – hưởng, có san sẻ, số đông bù số ít. Trên thực tế, đều có
những rủi ro, bởi vậy, vấn đề cơ bản là đặt lưới an toàn ở đâu. Xác định lưới
an toàn ở đâu là do Chính phủ và thiết kế lưới này thế nào tuỳ thuộc vào nhận
thức của cơ quan chức năng để tham mưu cho Chính phủ.
Có một xu hướng chung là, thiết kế bảo hiểm thất nghiệp phải tinh vi hơn,
quản lý bảo hiểm thất nghiệp sẽ phức tạp hơn, chi phí cao hơn. Điều đó đòi hỏi
các quốc gia phải hướng tới sự hoàn thiện nền kinh tế của thị trường lao động,
toàn cầu hoá, phi chính thức, phù hợp với “cuộc chơi” chung, trong đó, phải có
cách nhìn khác hơn đối với bảo hiểm thất nghiệp ở các nước đang phát triển, các
nước có điều kiện kinh tế khác nhau. Nhưng sự thống nhất cao là phải làm thế
nào để bảo hiểm thất nghiệp mang ý nghĩa bảo vệ nhiều nhất, giảm thiểu chi phí.
Tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân:
Bảo hiểm y tế là rất quan trọng, bởi vậy, nó đang được các nước thực hiện
đúng cam kết quốc tế, từng bước bao phủ đến người dân, mở rộng đến cả người ăn
theo của đối tượng. Bảo hiểm y tế đang gặp trở ngại và thách thức lớn như: diện
bao phủ thấp, đối tượng đóng chưa phải là toàn dân, nguy cơ bệnh hiểm nghèo gia
tăng, ngân quỹ không đáp ứng đủ. Bởi vậy, phải tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân,
lấy số đông bù đắp, san sẻ số ít, xác định mức đóng phù hợp mới có khả năng trợ
giúp kịp thời cho những người không may mắn bị bệnh hiểm nghèo có cơ hội được
cứu chữa. Vấn đề quan trọng là nhận thức của mọi người – phải hướng tới sự tham
gia bảo hiểm y tế toàn dân – khắc phục tình trạng khi biết bệnh rồi mới tham
gia.
Giải quyết tốt thách thức về bệnh nghề nghiệp:
Có nhiều cách hiểu khác nhau về bệnh nghề nghiệp. Về bản chất, việc định
nghĩa bệnh nghề nghiệp là “thuật ngữ pháp lý” hay “thuật ngữ y học” sẽ tác động
đến cách thiết kế chế độ bảo hiểm này. Bệnh nghề nghiệp trở thành một thách
thức đối với bảo hiểm xã hội do sự xác định nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp,
đặc biệt là xác định các yếu tố liên quan đến công việc và không liên quan đến
công việc.
Thách thức thứ nhất hiện nay là những khó khăn trong công tác báo
cáo và thống kê bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là những bệnh có thời gian ủ bệnh
lâu. Vấn đề này phức tạp ở chỗ, có nhiều căn bệnh mới hoặc đang xuất hiện, khó
có thể xác định là do điều kiện làm việc gây ra, như bệnh rối loạn thần kinh.
Thách thức thứ hai là mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm bệnh nghề
nghiệp và tai nạn lao động trong khu vực phi chính thức, mở rộng cơ hội tiếp
cận hệ thống kiểm tra sức khoẻ, khám bệnh nghề nghiệp và bồi thường thương tật.
* *
*
Việt Nam
tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên thế giới để hướng tới xây dựng hệ thống
an sinh xã hội năng động, hiệu quả hơn, góp phần vào công cuộc giảm nghèo bền
vững. Do nhiều nguyên nhân nên Việt Nam chưa tham gia Hiệp hội An sinh xã hội
thế giới, nhưng những gì mà Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang đang thực
hiện trong nhiều thập kỷ qua đều hàm chứa những nội dung cơ bản của hệ thống an
sinh xã hội, bao gồm: các hoạt động phòng ngừa rủi ro; phát triển hệ thống bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp… cả về chiều rộng và chiều sâu, tăng cường mức độ bao phủ, cải
thiện chất lượng dịch vụ; từng bước mở thêm các hình thức bảo hiểm nhằm bảo đảm
an toàn cho người lao động, phòng ngừa rủi ro.
Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đang hướng tới bảo đảm công bằng trong
các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng, nhằm bảo đảm cho mọi thành viên
trong xã hội được bảo vệ về cuộc sống. Đa dạng hoá các hình thức hỗ trợ, đáp
ứng tốt hơn nhu cầu của đối tượng trên cơ sở mở rộng sự tham gia của các đối
tượng vào các hoạt động trợ giúp. Các hoạt động trợ giúp đột xuất bảo đảm đến
đúng đối tượng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của đối tượng. Linh hoạt trong hoạt
động cứu trợ và huy động được sự tham gia rộng rãi của công đồng nhưng trách
nhiệm chính vẫn thuộc về Nhà nước.
Như vậy, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam ngoài việc tuân thủ nguyên tắc
đóng và hưởng còn có trách nhiệm của Nhà nước cùng cộng đồng xã hội đối với
những người có hoàn cảnh khó khăn không trực tiếp tham gia các hình thức bảo
hiểm, bảo đảm an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, bền vững về tài chính,
đồng thời, kết hợp giữa phòng ngừa rủi ro có hiệu quả với giảm thiểu và khắc
phục rủi ro. Tạo môi trường để khu vực phi chính thức tham gia vào quá trình
cung cấp các dịch vụ của an sinh xã hội. Hướng tới bảo đảm công bằng và ổn định
xã hội tạo môi trường cho phát triển bền vững./.
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 13 (181) NĂM 2009 - TS. ĐÀM HỮU ĐẮC –
Thứ trưởng Thường trực Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội