Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam
Nhằm bù đắp cho những nỗ lực sáng tạo của chủ thể đã tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp, chủ thể sáng tạo được trao những độc quyền trong một thời hạn nhất định. Việc thực hiện những độc quyền này, tuy nhiên, có thể gây ra những tác động tiêu cực cho khả năng tiếp cận hàng hoá của người tiêu dùng, cho sự lưu chuyển bình thường của hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và cho cạnh tranh lành mạnh.
1. Quy định về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền
sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam[1]
Chủ thể
nắm giữ quyền sở hữu công nghiệp được trao độc quyền, bởi vậy, họ dễ
dàng lạm dụng quyền để cản trở hoạt động thương mại, gây tổn hại cho
người tiêu dùng.[2] Hơn nữa, xuất phát từ giá trị thương mại của đối
tượng sở hữu công nghiệp, chủ thể kinh doanh thường nghĩ đến việc sử
dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của đối thủ cạnh tranh (đây được coi
như một trong những thành quả đầu tư của đối thủ cạnh tranh) để kiếm
lời và gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Bởi vậy, việc xuất hiện
các hành vi cạnh tranh liên quan đến sở hữu công nghiệp là tất yếu.
Những hành vi này vừa vi phạm pháp luật cạnh tranh vừa vi phạm pháp
luật sở hữu trí tuệ và được chia thành hai loại: hành vi hạn chế cạnh
tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu
công nghiệp. Khi nền kinh tế càng phát triển thì loại việc này càng
nhiều. Thực tế này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa pháp luật cạnh
tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, sự cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ và chính sách đảm bảo cạnh tranh lành mạnh.[3]
Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp
trước hết là việc cạnh tranh, bên cạnh đó còn có đặc điểm riêng biệt
gắn liền với quyền sở hữu công nghiệp. Đó là, đối với cạnh tranh liên
quan đến quyền sở hữu công nghiệp, việc cạnh tranh liên quan đến sử
dụng và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Hành vi cạnh tranh bất
hợp pháp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp vi phạm cả pháp luật
cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.
Các quốc gia trên thế giới nhìn nhận được mối
quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, cho nên,
đã có chính sách cũng như pháp luật giải quyết các vụ việc cạnh tranh
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Vấn đề cạnh tranh liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Công ước Paris về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp năm 1883 (khoản 2, khoản 3 Điều 10bis) và Hiệp định
về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ-TRIPS năm 1994
(Điều 8.2 và Điều 40).
Ở Việt Nam, cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu
công nghiệp lần đầu tiên được quy định tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP về
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa
lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
liên quan tới sở hữu công nghiệp. Hiện nay, vấn đề này được điều chỉnh
bởi nhiều văn bản khác nhau như: Luật cạnh tranh năm 2004 (sau đây viết
tắt là LCT); Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sau đây viết tắt là LSHTT);
Luật chuyển giao công nghệ năm 2007; Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày
15/9/2005 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của LCT;
Nghị định 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định về xử phạt vi phạm
hành chính về sở hữu công nghiệp. Ở nước ta, mặc dù loại việc này đã
xuất hiện và được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tuy nhiên đây
vẫn là vấn đề mới, quy định pháp luật chưa rõ ràng và kinh nghiệm của
các cơ quan có thẩm quyền giải quyết loại việc này còn thiếu.
1.1. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp[4]
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến
quyền sở hữu công nghiệp là hành vi có những đặc điểm sau đây: do doanh
nghiệp tiến hành trong quá trình kinh doanh; trái với các chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh; liên quan đến sử dụng hoặc chuyển
giao quyền sở hữu công nghiệp; gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại
đến lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Theo quy định của LCT năm 2004 và LSHTT năm 2005,
hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công
nghiệp bao gồm: (i) hành vi chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn; (ii) hành
vi xâm phạm bí mật kinh doanh; (iii) hành vi sử dụng nhãn hiệu được bảo
hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm
người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu
đó; (iv) hành vi đăng ký, chiếm giữ, sử dụng tên miền bất hợp pháp.
Trong đó, LCT quy định hành vi (i) và (ii) là những hành vi cạnh tranh
không lành mạnh; LSHTT quy định hành vi (i), (iii), (iv) là những hành
vi cạnh tranh không lành mạnh, còn hành vi (ii) quy định trong LSHTT là
hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh.
1.1.1. Hành vi chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
LCT quy định về hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn tại
Điều 39 và Điều 40 và LSHTT quy định về hành vi sử dụng chỉ dẫn thương
mại gây nhầm lẫn tại Điều 130.
Theo quy định của LCT và LSHTT, chỉ dẫn gây nhầm lẫn
bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi: (a) sử dụng chỉ dẫn
thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh,
nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ ((Khoản 1 Điều 40 LCT và
Điểm a Khoản 1 Điều 130 LSHTT); (b) sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm
lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc
điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch
vụ (Điểm b, Khoản 1 Điều 130 LCT); (c) kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có
sử dụng chỉ dẫn địa lý gây nhầm lẫn (Khoản 2 Điều 40 LCT).
Chỉ dẫn thương mại là: Các dấu hiệu, thông tin nhằm
hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương
mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu
dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá (Khoản 2 Điều 130 LSHTT). Hành
vi sử dụng chỉ dẫn thương mại bao gồm (Khoản 3 Điều 130 LSHTT): Gắn chỉ
dẫn thương mại lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy
tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; Bán, quảng cáo để bán,
tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại.
Ví dụ: Cơ sở cà phê Mê Hy Cô sử dụng biển hiệu gây
nhầm lẫn với biển hiệu của Xí nghiệp Trung Nguyên[5]. Cụ thể, Xí nghiệp
Trung Nguyên hoạt động kinh doanh với ngành nghề chế biến cà phê bột
(đăng ký kinh doanh năm 1996). Xí nghiệp này sử dụng rộng rãi biển
hiệu: ”Trung Nguyên – cho bạn nguồn cảm hứng sáng tạo mới”
trong hoạt động kinh doanh. Biển hiệu này được sử dụng tại các quán cà
phê ở những địa điểm cung ứng cà phê của Trung Nguyên. Biển hiệu của Xí
nghiệp Trung Nguyên có những đặc điểm chính như sau (theo bố cục của
biển hiệu từ trên xuống): dòng chữ ”cà phê hàng đầu Buôn Mê Thuột” màu
vàng; dòng chữ ”Trung Nguyên” ở giữa màu trắng; dòng chữ ”mang lại
nguồn cảm hứng sáng tạo mới” được thể hiện theo đường uốn khúc (chữ đỏ
trên nền vàng); góc bên phải có hình mũi tên viền trắng hướng lên trên;
góc bên trái là hình tách cà phê trên nền các hạt cà phê. Cơ sở cà phê
Mê Hy Cô hoạt động kinh doanh từ năm 1999 có cùng ngành nghề chế biến
cà phê với xí nghiệp Trung Nguyên và hoạt động tại địa bàn tỉnh Đắc
Lắc. Cơ sở Mê Hy Cô sử dụng biển hiệu ”Mê Hy Cô – Cho bạn cảm giác sáng tạo mới”
tại một số địa điểm kinh doanh của cơ sở và tại những địa điểm đã đặt
biển hiệu của xí nghiệp Trung Nguyên. Biển hiệu của cơ sở Mê Hy Cô có
những đặc điểm chính sau đây: dòng chữ ”hãng cà phê hàng đầu Buôn Mê
Thuột” màu vàng ở phía trên; dòng chữ ”Mê Hy Cô” ở giữa màu trắng; dòng
chữ ”hương vị cho bạn cảm giác sảng khoái mới” được thể hiện theo đường
uốn khúc (chữ đỏ trên nền vàng); góc bên phải có hình mũi tên viền
trắng hướng lên trên; góc bên trái là hình tách cà phê trên nền các hạt
cà phê.
Theo quy định của LCT và LSHTT, sử dụng nhãn hiệu
hoặc/và tên thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động
kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ bị coi là hành
vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong khi đó, hành vi sử dụng dấu hiệu
trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc
liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn
hiệu đó và hành vi sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ
cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch
vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó có khả năng gây nhầm
lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối
với nhãn hiệu (điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 129 LSHTT). Cũng theo quy
định của LSHTT, mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương
tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng
loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm
lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới
tên thương mại đó đều bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với tên
thương mại (Khoản 2 Điều 129). Cho nên, nếu chỉ dựa vào những quy định
này của pháp luật, rất khó xác định khi nào hành vi sử dụng nhãn hiệu
hoặc sử dụng tên thương mại gây nhầm lẫn là hành vi xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ và khi nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
1.1.2. Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được quy định tại
Điều 39 và Điều 41 LCT. Theo đó, doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành
vi sau đây: (a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh
bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí
mật kinh doanh đó; (b) Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh
doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh; (c) Vi phạm
hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ
bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh
doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó; (d) Tiếp cận, thu thập thông
tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục
theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu
hành sản phẩm hoặc bằng chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà
nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp
giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.
Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh không được liệt
kê trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh quy định tại Điều 130
LSHTT. Tuy nhiên, quy định tại Điều 41 về các hành vi xâm phạm bí mật
kinh doanh trong LCT lại tương tự với quy định về hành vi xâm phạm
quyền đối với bí mật kinh doanh tại Điều 127 LSHTT. Bên cạnh bốn hành
vi được quy định trong LCT, LSHTT quy định thêm hai hành vi tại điểm đ,
e khoản 1 Điều 127. Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP tách hành vi xâm
phạm bí mật kinh doanh ra khỏi hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hơn
nữa, khoản 2 Điều 5 LSHTT lại quy định rằng: “Trong trường hợp có sự
khác nhau giữa quy định về sở hữu trí tuệ của Luật này với quy định của
luật khác thì áp dụng quy định của Luật này”. Vậy xâm phạm bí mật kinh
doanh có thể là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ hay không?
1.1.3. Hành vi sử dụng nhãn hiệu
được bảo hộ tại một nước thành viên là thành viên của điều ước quốc tế
có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử
dụng nhãn hiệu đó
Theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 130 LSHTT,
hành vi sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước thành viên là thành
viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý
của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó bị coi là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh khi thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau đây: Nhãn
hiệu được sử dụng được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Việt Nam cũng là
thành viên; Điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý
của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu; Người sử dụng nhãn hiệu là
người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu; Việc sử dụng không
được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng.
1.1.4. Hành vi đăng ký, chiếm giữ, sử dụng tên miền bất hợp pháp
Tên miền không phải là một đối tượng sở hữu trí tuệ
theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất
nhiều doanh nghiệp đăng ký, sử dụng tên miền trùng với tên thương mại,
nhãn hiệu được bảo hộ mà họ là chủ sở hữu, hoặc trùng với chỉ dẫn địa
lý mà họ có quyền sử dụng hợp pháp.
Theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 130 LSHTT,
hành vi ” ăn cắp” tên miền bị coi là một trong những hành vi cạnh tranh
không lành mạnh. Cụ thể, đó là hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng
hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu,
tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý của mình
không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc
làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ
dẫn địa lý tương ứng.
Vậy trường hợp một cá nhân lợi dụng danh tiếng của
một nhãn hiệu (của người khác) đã được bảo hộ, sử dụng tên miền trùng
với nhãn hiệu này để truyền tải các thông tin cá nhân chứ không nhằm
mục đích kinh doanh có được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh
không? Nếu chỉ dựa vào quy định của Điều 130 LSHTT, câu trả lời là có
thể. Tuy nhiên, nếu xem xét chủ thể thực hiện hành vi và mục đích của
chủ thể khi thực hiện hành vi này, chúng ta không thể cho đây là hành
vi cạnh tranh không lành mạnh. Bởi vì: chủ thể tiến hành hành vi không
phải là một chủ thể kinh doanh và chủ thể thực hiện hành vi không nhằm
mục đích cản trở cạnh tranh lành mạnh, không nhằm mục đích gây thiệt
hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hay người tiêu dùng sản phẩm gắn nhãn hiệu.
1.2. Hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp[6]
Hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở
hữu công nghiệp là hành vi có những đặc điểm sau đây: do doanh nghiệp
tiến hành; làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường; liên
quan đến sử dụng hoặc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp;[7] thể hiện
ở ba dạng: thoả thuận hạn chế cạnh tranh; lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền; và tập trung kinh tế.
Nếu như LSHTT có quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 130 thì Luật này lại không có quy định cụ thể nào về hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
Về nguyên tắc, những thoả thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại Điều 8,
Điều 9 LCT, những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm
dụng vị trí độc quyền quy định từ Điều 11 đến Điều 14 LCT, những hành
vi tập trung kinh tế quy đinh từ Điều 16 đến Điều 19 LCT mà liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp đều có thể bị coi là hành vi hạn chế cạnh
tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
Theo quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật
sở hữu trí tuệ, những hành vi sau đây bị coi là hành vi hạn chế cạnh
tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ: (a) Thoả thuận hạn chế phát
triển kĩ thuật, công nghệ khi các bên tham gia thoả thuận có thị phần
kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên (khoản 4 Điều 8, khoản
2 Điều 9 LCT); (b) Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
thị trường thực hiện hành vi cản trở sự phát triển kĩ thuật, công nghệ
gây thiệt hại cho khách hàng (khoản 3 Điều 13 LCT). Theo Nghị định số
116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của LCT, các hành vi nêu trên được giải thích là việc mua
sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu huỷ hoặc
không sử dụng (khoản 1 Điều 17 và điểm a khoản 3 Điều 28); (c) Ghi nhận
những điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng sử dụng đối tượng sở
hữu công nghiệp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 144 LSHTT, hợp đồng
sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp không được có các điều khoản hạn
chế bất hợp lí quyền của bên được chuyển quyền, đặc biệt là các điều
khoản không xuất phát từ quyền của bên chuyển quyền, bao gồm: (i) Cấm
bên được chuyển quyền cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp, trừ nhãn
hiệu; buộc bên được chuyển quyền phải chuyển giao miễn phí cho bên
chuyển quyền các cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp do bên được
chuyển quyền tạo ra hoặc quyền đăng ký sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu
công nghiệp đối với các cải tiến đó; (ii) Trực tiếp hoặc gián tiếp hạn
chế bên được chuyển quyền xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được sản xuất
hoặc cung cấp theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp sang
các vùng lãnh thổ không phải là nơi mà bên chuyển quyền nắm giữ quyền
sở hữu công nghiệp tương ứng hoặc có độc quyền nhập khẩu hàng hoá đó;
(iii) Buộc bên được chuyển quyền phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất
định các nguyên liệu, linh kiện hoặc thiết bị của bên chuyển quyền hoặc
của người thứ ba do bên chuyển quyền chỉ định mà không nhằm mục đích
bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do bên được chuyển quyền sản xuất
hoặc cung cấp. Bên cạnh đó, Điều 20 (khoản 2, điểm e) Luật chuyển giao
công nghệ cũng quy định rõ: Bên giao công nghệ ”không được thoả thuận
về điều khoản hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của LCT”.
2. Một số lưu ý khi xác
định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp
Vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công
nghiệp là loại việc phức tạp vì có sự gắn kết giữa hai lĩnh vực cạnh
tranh và sở hữu trí tuệ, là sự giao thoa giữa pháp luật cạnh tranh và
pháp luật sở hữu trí tuệ. Vấn đề cốt lõi trong giải quyết loại việc này
là phân biệt rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và hành vi
cạnh tranh bất hợp pháp liên quan đến quyền sở hữu sở hữu công nghiệp.
Thực tế, hai loại hành vi này dễ gây nhần lẫn và khó phân biệt. Để xác
định chính xác hành vi, trước tiên, cần xem xét chính sách cạnh tranh,
chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của nhà nước và áp dụng hài hoà
pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, đồng thời xem xét kỹ
lưỡng các trường hợp miễn trừ.[8] Về nguyên tắc, bất kỳ hành vi sử dụng
quyền sở hữu công nghiệp hoặc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nào
dẫn đến chia cắt thị trường, duy trì mức giá giả tạo, hoặc bắt buộc
những điều kiện mang tính chất phân biệt, không công bằng đối với đối
tác kinh doanh khác đều có thể bị coi là hành vi cạnh tranh bất hợp
pháp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.[9] Tuy nhiên, một hành vi chỉ
có thể bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp hoặc cạnh tranh bất
hợp pháp (có thể là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc hành vi hạn
chế cạnh tranh). Cho nên, không thể áp dụng cả hai loại chế tài (chế
tài theo pháp luật sở hữu trí tuệ và theo pháp luật cạnh tranh) cho một
hành vi liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp hoặc đối tượng sở hữu
công nghiệp và cản trở hoặc hạn chế cạnh tranh. Bên cạnh đó, để giải
quyết đúng vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp,
cần lưu ý những vấn đề sau:
Thứ nhất, nắm rõ những đặc điểm của hành vi cạnh
tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp và hành vi
hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp (xem phần
viết trên).
Thứ hai, hành vi xâm phạm quyền đối với đối tượng sở
hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng bảo hộ: coi là hành vi xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp.
Thứ ba, hành vi xâm phạm quyền đối với những đối
tượng sở hữu công nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký bảo
hộ (chưa được cấp Văn bằng bảo hộ) hoặc chưa tiến hành đăng ký bảo hộ:
coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc hành vi hạn chế cạnh
tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
Thứ tư, trường hợp hai sản phẩm mang hai nhãn hiệu
không gây nhầm lẫn nhưng sự trình bày tổng thể trên sản phẩm/bao bì sản
phẩm lại gây nhầm lẫn: coi là hành vi cạnh tranh bất hợp pháp liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp. Ví dụ: nhãn hiệu “GASTROPULGITE”
được bảo hộ tại Việt Nam (đăng ký quốc tế số 314437 của Công ty SCRAS).
Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây bán thuốc điều trị các bệnh về rối
loạn tiêu hoá mang nhãn hiệu “GASTRODIC”. Chỉ riêng nhãn
hiệu GASTRODIC mà Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây sử dụng không gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu GASTROPULGITE, tuy nhiên, chữ viết, màu sắc, sự
phối hợp của các yếu tố này và sự trình bày hộp của sản phẩm GASTRODIC
gây nhầm lẫn với sản phẩm GASTROPULGITE của SCRAS. Vì vậy, Công ty cổ
phần dược phẩm Hà Tây bị coi đã thực hiện hành vi cạnh tranh không lành
mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
Xác định một hành vi là xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp hay cạnh tranh không lành mạnh hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì:
biện pháp xử lý hai loại hành vi này khác nhau dẫn đến hệ quả pháp lý
đối với các chủ thể liên quan cũng khác nhau. Chẳng hạn, mức phạt tiền
trong xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành
mạnh từ năm triệu đến hai mươi triệu đồng (Điều 30 Nghị định
120/2005/NĐ-CP); trong khi đó, mức phạt tiền đối với hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ tối thiểu bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát
hiện được và tối đa bằng năm lần giá trị hàng hoá vi phạm (khoản 4 Điều
214 LSHTT). Khi ban hành văn bản pháp luật, mối quan hệ giữa pháp luật
cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ đối với quy định về cạnh tranh
liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ chưa được giải quyết thấu đáo. Cho
nên, nếu dựa vào các quy định hiện hành, rất khó để phân định giữa hành
vi xâm phạm quyền sở công nghiệp và hành vi cạnh tranh bất hợp pháp
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Điều này gây khó khăn cho công
việc giải quyết các vụ việc cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công
nghiệp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và ảnh hưởng đến lợi ích
của các chủ thể liên quan. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành sửa đổi
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 – đây là một trong những nội dung nên xem
xét trong quá trình sửa đổi Luật này./.
[1] Về nguyên tắc, hành vi cạnh tranh có thể liên
quan đến quyền sở hữu trí tuệ nói chung, tức là bao gồm cả quyền tác
giả và quyền sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất của
các đối tượng quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp thì hành vi
cạnh tranh chủ yếu liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Bởi vì, đối
tượng của quyền sở hữu công nghiệp gắn liền với hoạt động thương mại,
có giá trị thương mại cao. Cho đến nay, pháp luật nước ta cũng chỉ quy
định về cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Trong phạm
vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung xem xét cạnh tranh liên quan đến
quyền sở hữu công nghiệp.
[2] Bàn về tác động của độc quyền sở hữu trí tuệ đối
với cạnh tranh, David T. Keeling cho rằng: “Nếu chủ sở hữu quyền sở hữu
trí tuệ dựa vào những quyền này để tiếp tục kiểm soát hàng hoá mà họ đã
đưa ra thị trường, những chủ thể này đã có một công cụ đặc biệt để chia
cắt thị trường, phân biệt giá, kiềm chế cạnh tranh với cùng một nhãn
hiệu và thường liên quan đến hành động chống cạnh tranh.” Xem: David T.
Keeling, IPRs in EU Law, Volume I Free Movement and Competition Law, Oxford University Press, 2003, trang 75.
[3] Mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ và pháp
luật cạnh tranh là vấn đề phức tạp và được xem xét từ nhiều năm nay tại
các diễn đàn pháp lý và kinh tế. Về mối quan hệ này, xem: Luc
Peeperkorn, IP Licences and Competition Rules: Striking the Right Balance, 26(4) World Competition (2003); Steven D. Anderman, The Interface Between Intellectual Property Rights and Competition Policy,
Cambridge University Press, 2007.
[4] Theo quy định của LCT, “hành vi cạnh tranh không
lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trong qúa trình kinh doanh trái
với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại
hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (khoản 4 Điều 3).
[5] Trong phần viết về ví dụ này, tác giả có tham
khảo nội dung bài viết “Xử lý các tranh chấp về cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp” trong cuốn “Tài liệu khoá đào
tạo: Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ”. Khoá đào
tạo này được tổ chức bởi Cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) và Cục
Sở hữu Trí tuệ (Bộ khoa học công nghệ), diễn ra tại Hà nội vào tháng 4,
năm 2007.
[6] Theo quy định của LCT, “Hành vi hạn chế cạnh
tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh
tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh,
lạm dụng ví trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập
trung kinh tế” (khoản 3 Điều 3).
[7] Xuất phát từ tính độc quyền cao của quyền đối
với sáng chế, hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu
công nghiệp thường gắn liền với sáng chế. Xem: T-201/04, Microsoft v. Commission, [2007] ECR II-3601.
[8] Josephine Steiner, Lorna Woods & Chrítiana Twigg-Flesner, EU Law, 9th edition, Oxford University Press, 2006, Trang 674-677.
[9] Josephine Steiner, Lorna Woods , EU Law, 9th edition, Oxford University Press, 2006, Trang 674; Inge Govaeer, The Use and Abuse of Intellectual Property Rights in EC Law, Sweet & Maxwell, 1996.
SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC - THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật Dân sự – Trường Đ.H Luật Hà Nội