Xử lý vi phạm, tranh chấp SHTT
Hành vi xâm phạm quyền SHTT bị xử lý bằng các biện pháp sau: Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.
Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời,
biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữutrí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của
Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Thẩm quyền xử lý hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh
tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm
quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án.
Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
theo quy định của pháp luật.
Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh
tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong
trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo
đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan
đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.
Xử lý bằng biện pháp dân sự
Tòa án áp dụng những biện pháp dân sự sau đây để xử lý hành vi xâm phạm
quyền SHTT:
Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
Buộc bồi thường thiệt hại;
Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục
đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử
dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với
điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở
hữu trí tuệ.
Nghĩa vụ chứng minh
Nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có
quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật tố tụng dân
sự và theo quy định dưới đây.
Nguyên đơn chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bằng một
trong các chứng cứ sau đây:
Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký
quyền liên quan, văn bằng bảo hộ; bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền
tác giả, quyền liên quan, Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp, Sổ đăng
ký quốc gia về giống
cây trồng được bảo hộ;
Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền
liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy
chứng nhận đăng ký quyền liên quan; chứng cứ cần thiết để chứng minh quyền đối
với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng;
Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong trường hợp quyền
sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.
Nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Trong vụ kiện về xâm phạm quyền đối với sáng chế là một quy trình sản
xuất sản phẩm, bị đơn phải chứng minh sản phẩm của mình được sản xuất theo một
quy trình khác với quy trình được bảo hộ trong các trường hợp sau
đây:
Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ là sản phẩm
mới;
Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ không phải là sản phẩm
mới nhưng chủ sở hữu sáng chế cho rằng sản phẩm do bị đơn sản xuất là theo quy
trình được bảo hộ và mặc dù đã sử dụng các biện pháp thích hợp nhưng vẫn không
thể xác định được quy trình do bị đơn sử dụng.
Trong trường hợp một bên trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
chứng minh được chứng cứ thích hợp để chứng minh cho yêu cầu của mình bị bên kia
kiểm soát do đó không thể tiếp cận được thì có quyền yên cầu Toà án buộc bên
kiểm soát chứng cứ phải đưa ra chứng cứ đó.
Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn phải
chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn cứ xác định mức bồi thường
thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của Luật SHTT.
Xác định thiệt hại
Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ
Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về
thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn,
khắc phục thiệt hại;
Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy
tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng.
Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây
ra.
Căn cứ xác định mức bồithường thiệt hại
Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án
quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:
Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị
đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản
lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật
chất;
Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị
đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng
đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực
hiện;
Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật
chất theo các căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì mức bồi thường
thiệt hại về vật chất do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng
không quá năm trăm triệu đồng.
Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án
quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại.
Ngoài khoản bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1, khoản 2 trên đây,
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Toà án buộc tổ chức, cá nhân có
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê
luật sư.
Biện pháp khẩn cấp tạm
thời
Quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời:
Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có
quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp
sau đây:
Đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không thể khắc phục được cho chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ;
Hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc chứng cứ liên
quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ bị tẩu tán hoặc bị
tiêu huỷ nếu không được bảo vệ kịp thời.
Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ quy định ở trên trước khi nghe ý kiến của bên bị áp
dụng biện pháp đó.
Các biện pháp khẩn cấp tạm
thời:
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây được áp dụng đối với hàng hoá bị
nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện sản
xuất, kinh doanh hàng hoá đó:
Thu giữ;
Kê biên;
Niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển;
Cấm chuyển dịch quyền sở hữu.
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự.
Nghĩa vụ của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời
Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ chứng minh
quyền yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 206 của Luật SHTT bằng các tài
liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 203 của Luật SHTT.
Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ bồi thường
thiệt hại gây ra cho người bị áp dụng biện pháp đó trong trường hợp người đó
không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này, người
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp khoản bảo đảm bằng một
trong các hình thức sau đây:
Khoản tiền bằng 20% giá trị hàng hoá cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời hoặc tối thiểu hai mươi triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị hàng
hóa đó;
Chứng từ bảo lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng
khác.
Huỷ bỏ việc áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời
Toà án ra quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng
trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 122 của Bộ luật tố tụng dân sự và
trong trường hợp người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chứng minh được
việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không có căn cứ xác
đáng.
Trong trường hợp huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Toà án phải xem xét
để trả lại cho người yêu cầu áp dụng biện ph��p khẩn cấp tạm thời khoản bảo đảm
quy định tại khoản 2 Điều 208 của Luật SHTT. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời không có căn cứ xác đáng và gây thiệt hại cho người
bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án buộc người yêu cầu phải bồi
thường thiệt hại.
Thẩm quyền, thủ tục áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:
Thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện theo
quy định tại Chương VIII, Phần thứ nhất của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử lý bằng biện pháp hành
chính
Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt hành
chính:
Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người
tiêu dùng hoặc cho xã hội;
Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mặc dù đã được chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi
đó;
Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí
tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện
hành vi này;
Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ
dẫn địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa
lý được bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.
Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu
trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh
tranh.
Các hình thức xử phạt hành
chính và biện pháp khắc phục hậu quả:
Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy
định tại khoản 1 Điều 211 của Luật SHTT bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm
và bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
Cảnh cáo;
Phạt tiền.
Tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau
đây:
Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật
liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh
hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ;
Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.
Ngoài các hình thức xử phạt nói trên, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau
đây:
Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích
thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và
phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở
hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;
Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí
tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản
xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu
tố vi phạm trên hàng hoá.
Mức tiền phạt quy định ở trên được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá
vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá
vi phạm đã phát hiện được.
Các biện pháp ngăn chặn
và bảo đảm xử phạt hành chính
Trong các trường hợp sau đây, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành
chính:
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội;
Tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có
biểu hiện trốn tránh trách nhiệm;
Nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính được áp dụng theo thủ
tục hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao
gồm:
Tạm giữ người;
Tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm;
Khám người;
Khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật,
phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ;
Các biện pháp ngăn chặn hành chính khác theo quy định của pháp luật về
xử lý vi
phạm hành chính.
Kiểm soát hàng hóa xuất khấu, nhập
khẩu
Các biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở
hữu trí tuệ bao gồm:
Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ (là biện pháp được tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền
sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở
hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp
dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử
phạt hành chính)
Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ (là biện pháp được tiến hành theo đề nghị của chủ thể quyền sở hữu
trí tuệ nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm
dừng làm thủ tục hải quan).
Trong quá trình thực hiện các biện pháp nói trên, nếu phát hiện hàng hoá
giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật SHTTthì cơ quan
hải quan có quyền và có trách nhiệm áp dụng biện pháp hành chính để xử lý theo
quy định tại Điều 214 và Điều 215 của Luật SHTT.
Nghĩa vụ của người yêu cầu
áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu
trí tuệ:
Người yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
liên quan đến sở hữu trí tuệ có các nghĩa vụ sau đây:
Chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bằng các tài liệu, chứng
cứ quy định tại khoản 2 Điều 203 của Luật SHTT;
Cung cấp đầy đủ thông tin để xác định hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ hoặc để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ;
Nộp đơn cho cơ quan hải quan và nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp
luật;
Bồi thường thiệt hại và thanh toán các chi phí phát sinh cho người bị áp
dụng biện pháp kiểm soát trong trường hợp hàng hoá bị kiểm soát không xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ.
Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quy định tại điểm d khoản 1 Điều này,
người yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan phải nộp khoản bảo
đảm bằng một trong các hình thức sau đây:
Khoản tiền bằng 20% giá trị lô hàng cần áp dụng biện pháp tạm dừng làm
thủ tục hải quan hoặc tối thiểu hai mươi triệu đồng nếu không thể xác định được
giá trị lô hàng đó;
Chứng từ bảo lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng
khác.
Thủ tục áp dụng biện
pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan
Khi người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ quy định tại Điều 217 của Luật SHTT thì cơ quan hải quan ra quyết định
tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng.
Thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan là mười ngày làm việc, kể từ ngày
ra quyết định. Trong trường hợp người yêu cầu tạm dừng có lý do chính đáng thì
thời hạn này có thể kéo dài, nhưng không được quá hai mươi ngày làm việc với
điều kiện người yêu cầu tạm dừng thủ tục hải quan phải nộp thêm khoản bảo đảm
quy định tại khoản 2 Điều 217 của Luật SHTT.
Khi kết thúc thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan (theo quy định ở
trên) mà người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không khởi kiện dân sự và
cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành
chính đối với người xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng thì cơ quan hải quan có trách
nhiệm sau đây:
Tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng;
Buộc người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan phải bồi thường cho chủ
lô hàng toàn bộ thiệt hại do yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng
gây ra và phải thanh toán các chi phí lưu kho bãi, bảo quản hàng hóa và các chi
phí phát sinh khác cho cơ quan hải quan và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có
liên quan theo quy định của pháp luật về hải quan;
Hoàn trả cho người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan khoản tiền bảo
đảm còn lại sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường và thanh toán các chi
phí lưu kho bãi, bảo quản hàng hóa và các chi phí phát sinh khác cho cơ quan hải
quan và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan theo quy định của pháp luật
về hải quan.
Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
Trân trọng./.
Lê Minh Trường - Luật sư điều hành SUNLAW
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------