Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự ?
Điều 5.A.2.1: Các biện pháp dân sự(Điều 202, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây
để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:
1. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
2. Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
3. Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
4. Buộc bồi thường thiệt hại;
5. Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc
đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu,
vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng
khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
(Điều 203, Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1. Nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại
Điều 79 của Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại Điều này.
2. Nguyên đơn chứng minh mình là chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ bằng một trong các chứng cứ sau đây:
a) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền
tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ; bản trích
lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan, Sổ đăng ký quốc gia
về sở hữu công nghiệp, Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ;
b) Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ
phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng
nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; chứng cứ
cần thiết để chứng minh quyền đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn
hiệu nổi tiếng;
c) Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở
hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.
3. Nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
4. Trong vụ kiện về xâm phạm quyền đối với
sáng chế là một quy trình sản xuất sản phẩm, bị đơn phải chứng minh sản phẩm
của mình được sản xuất theo một quy trình khác với quy trình được bảo hộ trong
các trường hợp sau đây:
a) Sản phẩm được sản xuất theo quy trình
được bảo hộ là sản phẩm mới;
b) Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được
bảo hộ không phải là sản phẩm mới nhưng chủ sở hữu sáng chế cho rằng sản phẩm
do bị đơn sản xuất là theo quy trình được bảo hộ và mặc dù đã sử dụng các biện
pháp thích hợp nhưng vẫn không thể xác định được quy trình do bị đơn sử dụng.
5. Trong trường hợp một bên trong vụ kiện
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chứng minh được chứng cứ thích hợp để chứng minh
cho yêu cầu của mình bị bên kia kiểm soát do đó không thể tiếp cận được thì có
quyền yên cầu Toà án buộc bên kiểm soát chứng cứ phải đưa ra chứng cứ đó.
6. Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường
thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn
cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều
5.A.2.4 của Chương này.
(Điều 204, Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1. Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ bao gồm:
a) Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn
thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh
doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;
b) Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn
thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh
thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu
diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây
trồng.
2. Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ
sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.
(Điều 205, Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1. Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh
được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho
mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường theo một trong các
căn cứ sau đây:
a) Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền
cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính
vào tổng thiệt hại vật chất;
b) Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng
sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng
đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương
ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;
c) Trong trường hợp không thể xác định được
mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định tại điểm a và
điểm b khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Toà án ấn định,
tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.
2. Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh
được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho
mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ
năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại.
3. Ngoài khoản bồi thường thiệt hại quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu
cầu Toà án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải
thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư.
(Điều 206, Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1. Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện,
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời trong các trường hợp sau đây:
a) Đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không
thể khắc phục được cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;
b) Hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ hoặc chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
có nguy cơ bị tẩu tán hoặc bị tiêu huỷ nếu không được bảo vệ kịp thời.
2. Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1
Điều này trước khi nghe ý kiến của bên bị áp dụng biện pháp đó.
(Điều 207, Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây
được áp dụng đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên
liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hoá đó:
a) Thu giữ;
b) Kê biên;
c)Niêm phong; cấm
thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển;
d) Cấm chuyển dịch
quyền sở hữu.
2. Các biện pháp
khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
(Điều
208, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1. Người yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ chứng minh quyền yêu cầu theo quy
định tại Điều 5.A.2.5 khoản (1) Chương này bằng các tài liệu, chứng cứ quy
định tại Điều 5.A.2.2 khoản (2) Chương này. Người yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra cho người bị áp dụng
biện pháp đó trong trường hợp người đó không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này, người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phải nộp khoản bảo đảm bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Khoản tiền bằng
20% giá trị hàng hoá cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc tối thiểu hai
mươi triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị hàng hóa đó;
b) Chứng từ bảo
lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng khác.
(Điều
209, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1. Toà án ra quyết
định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng trong các trường hợp
quy định tại khoản 1 Điều 122 của Bộ luật tố tụng dân sự và trong trường hợp
người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chứng minh được việc áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời là không có căn cứ xác đáng.
2. Trong trường hợp
huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Toà án phải xem xét để trả lại cho người
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khoản bảo đảm quy định tại Điều
5.A.2.7 khoản (2) Chương này. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời không có căn cứ xác đáng và gây thiệt hại cho người bị áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án buộc người yêu cầu phải bồi thường
thiệt hại.
(Điều
210, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Thẩm quyền, thủ tục
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện theo quy định tại Chương VIII,
Phần thứ nhất của Bộ luật tố tụng dân sự.
(Điều
84, Luật Thi hành án dân sự 2008)
1. Chấp hành viên
ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải
thi hành án.
Trường hợp người
phải thi hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền
sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn
bị kê biên.
2. Khi kê biên
quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền
sở hữu trí tuệ, Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ của người phải thi hành án.
3. Trường hợp nhằm
bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội
quy định tại Phần này mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển
giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian
nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người
phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.
4. Chấp hành viên
quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu
trí tuệ. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu
trí tuệ phải nộp số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan
thi hành án dân sự để thi hành án.
Trường hợp cần
thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ
thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí
tuệ của người phải thi hành án.
5. Trường hợp người
phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì
Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao
nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án.
(Điều
85, Luật Thi hành án dân sự 2008)
1. Quyền sở hữu trí
tuệ được định giá theo quy định tại Điều 5.A.2.13 và 5.A.2.14 Chương này và pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy
định trình tự, thủ tục, phương pháp định giá và thẩm quyền định giá quyền sở
hữu trí tuệ.
(Điều
86, Luật Thi hành án dân sự 2008)
1. Quyền sở hữu trí
tuệ được bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản và pháp
luật về quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy
định trình tự, thủ tục bán đấu giá và thẩm quyền bán đấu giá quyền sở hữu trí
tuệ.
(Điều
98, Luật Thi hành án dân sự 2008)
1. Ngay khi kê biên
tài sản mà đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định
giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự
thoả thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thoả thuận
về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức
thẩm định giá đó.
2. Trong thời hạn
05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch
vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự không
thoả thuận được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định
giá;
b) Tổ chức thẩm
định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
c) Thi hành phần
bản án, quyết định quy định tại Điều 2.A.3.2 khoản (1) Đề mục này.
3. Chấp hành viên
xác định giá trong các trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện
được việc ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Tài sản kê biên
thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận
được với nhau về giá. Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ.
(Điều
99, Luật Thi hành án dân sự 2008)
1. Việc định giá
lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Chấp hành viên
có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 5.A.2.13 Chương này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản;
b) Đương sự có yêu
cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.
2. Việc định giá
lại tài sản kê biên được thực hiện theo quy định tại Điều 5.A.2.13 khoản (2) và (3) Chương này.
--------------------------------------------------------------------------------
Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ (24h/7):19006816
Gửi câu hỏi trực tiếp qua Email: contact@sunlaw.com.vn
Tham khảo thông tin pháp lý website : http://www.sunlaw.com.vn
Copyright © SUNLAW FIRM 2009
--------------------------------------------------------------------------------